Sunday, November 8, 2009

MÙA XUÂN NĂM ẤY

MÙA XUÂN NĂM ẤY…

Hỡi cô gái khép đôi tà áo

Xuân nhật đăng lâu vọng cố nhân

Chàng trai phong nhã ngày xưa ấy

Đã bỏ tình riêng theo nước non

Tân dửng dưng trước không khí rộn rã vui tươi tưng bừng đón Xuân Tân Mão 1951. Trắng đêm thức đọc Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh, một tay xoa bóp các vết bầm trên thân thể sau trận đòn do người anh răn dạy mình đã tỏ tình không đúng chỗ với cô gái cưng của ông chef của anh, tay kia lần giở tập học trò với nhiều bài thơ tiền chiến chép tay, Tân thì thầm đọc:

Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng

Nhẹ bảo chàng: “Em chẳng biết gì ư?

Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù

Người nước Việt ra đi vì nước Việt

Tha La vắng vì Tha La biết

Thương giống nòi, đau đất nước lầm than…


Từ dạo bước chân vào trường trung học, càng đọc các truyện về những chàng trai theo kháng chiến chống Pháp -nhứt là các truyện của Thẩm Thệ Hà- Tân càng thán phục họ và cảm thấy lòng yêu nước bị khích động mãnh liệt, thâm tâm nhen nhúm niềm khao khát noi gương họ… “thoát ly”! Các tập truyện mõng nầy do nhà phát hành Nam Cường phổ biến rộng rãi và được giới trẻ -nhứt là giới học sinh- cũng như người đứng tuổi nồng nhiệt đón nhận. Tân vừa say mê vừa cảm động ngấu nghiến đọc Em không về nữa chị ơi, Chiếc hòm chưn nhạn, Xin đắp mặt tôi mảnh lụa hồng, v.v…Nhưng “Nửa bồ xương khô” mới thực sự là quyển sách gối đầu giường của Tân. Phải nhìn nhận thuở ấy, đối với Tân, những truyện viết nầy quá xuất sắc, càng xuất sắc hơn nữa là chúng đã khéo léo “qua mặt” được nàng kiểm duyệt “thông tin” của bộ máy cai trị thời đó, vốn chịu nhiều áp lực nặng nề và sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp. Điều lạ lùng nhứt là chúng đã thành công đẩy lui vào quên lãng những hoài niệm kinh hoàng của Tân tích tụ từ thời cùng gia đình tản cư, hưởng ứng lời kêu gọi “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh! Quả thật,

tuổi thơ vẫn sẵn lòng quên những phát súng những mũi dao của bọn người lớn…


Cuối cùng Tân quyết định sáng sớm tinh sương mùng bốn Tết Tân Mão âm thầm ra đi với Trang, bạn cùng trường ở Vĩnh Long, cả hai vai mang đờn mandoline, tay xách túi nhỏ đựng hai bộ quần áo với một ít tiện nghi vệ sinh hằng ngày. Để qua mắt chính quyền, người “móc nối” kín đáo “gởi” Trang và Tân trên chuyến xe di chuyển gánh hát cải lương Phát Thanh của ông Bầu Tèo sang lưu diễn tại Cái Bè, thuộc quận Cai Lậy, với thành phần diễn viên nồng cốt: đào thương thinh sắc vẹn toàn Nguyệt Yến-“Nữ Thần Trong Động Lửa”, kép mùi Paul Thuận gầy yếu xanh xao, kép độc Hoàng Dưỡng tướng tá bậm trợn, đằng đằng sát khí, v.v… Và hẹn một tuần sau đến đón hai cậu học sinh bỏ trường vô “khu” … Đảo mắt nhìn bao quát lần cuối thành phố còn say ngủ, thành phố tư bề có sông rạch bao quanh, đã yêu thương dung dưỡng biết bao mộng mơ bất thành của mình, Tân khe khẻ ngâm nga:

quê tôi ở giữa kinh thành

có những phố phường nho nhỏ

có những buổi chiều xanh xanh

bụi loãng trong lòng thương nhớ


-*-


Đến hẹn vẫn chưa thấy người móc nối xuất hiện như đã hứa. Hai thiếu niên Tân-Trang bỗng nhiên trở thành hai trẻ lạc loài như RémiMattia trong truyện Vô Gia Đình (Sans famille) của Hector Malot. Tân chợt nghĩ có lẽ rồi đây mình cũng sẽ như Rémi theo ông nhạc sĩ già Vitalis mưu sinh! Được báo cáo có hai cậu học sinh “bỏ nhà theo gánh hát”, ông bầu Tèo và tình nhân Nguyệt Yến vặn hỏi hai đứa muốn họ cho người đưa về nhà chăng. Cả hai đều nhứt quyết “theo gánh hát”, chẳng thể nào dám tiết lộ chờ người dẫn ra “khu”! Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, sự thế đã thế thì đành…gặp thời thế thế thời phải thế! Khởi đầu, bầu Tèo giao cho hai trẻ thủ vai vệ sĩ cho “dũng” tướng Paul Thuận, cứ mỗi lần ra quân phải kéo ro ro vài điếu lấy hơi và phải mặc áo độn cho ngực vung vai u để không quá lép vế trước người yêu Nguyệt Yến, đào lẵng tràn đầy nhựa sống, “trẻ mãi không già”, phu nhân bị cưỡng ép của loạn tướng Hoàng Dưỡng quá ư gồ ghề, “gian ác”. Hai trẻ rất được ông bà bầu gánh cưng chiều và anh chị trong đoàn hát thương mến. Nhờ thế Tân và Trang đỡ tủi thân. Trước mắt, có cơm ăn áo mặc tương đối tươm tất. Riêng Tân có khiếu văn nghệ nên được truyền dạy cổ nhạc. Hai cây mandoline coi như bỏ xó! Thế nhưng, không như Trang có vẻ dễ dàng thích ứng với cuộc sống mới, Tân vẫn thấp thỏm trông đợi người móc nối tới lôi mình ra khỏi “kiếp cầm ca”, để được dịp nhắn gửi người con gái đã khiến Tân bị ông anh mình dần một trận đòn nhừ tử:

Nghe chăng cô gái đô thành nội?

Áo trắng an ninh giữa lũy đồn

Xuân sang rấm rức sầu quê tổ

Ai điểm trang mà em phấn son?


Trong khi chờ đợi, đào chánh Nguyệt Yến sai người hầu cận Bảo Ngọc, một thiếu phụ nhan sắc hiền thục, phong cách thùy mị (phụ trách trang điểm các diễn viên) tới nhờ kép độc Hoàng Dưỡng và Tư Đẹt (nhỏ con, nhẹ cân, chuyên thủ vai kiếm khách “bay” lượn trên sân khấu) trông chừng và truyền nghề cho Tân: Đẹt dạy đánh kiếm, đấu “boa nha” (dao găm). Dưỡng chỉ dẫn điệu bộ trình diễn cải lương và các điệu ca Vọng Cổ, Xàng Xê, Chuồn Chuồn, Nam Ai, Mẫu Tầm Tử, Khốc Hoàng Thiên, Lý Con Sáo, Kim Tiền Bản… Riêng Trang được thầy đờn huấn luyện ghita sáu dây phím lõm; không mấy chốc ngón “nhấn” của Trang được coi như đã nhuần nhuyễn, nức-nở-mùi-mẫn-thốn-tim!


**

Một tháng, hai tháng, rồi ba tháng trôi qua: chẳng thấy bóng dáng người có nhiệm vụ đưa đường dẫn lối hai cậu học-sinh-thoát-ly vào “khu chiến”. Tân và Trang -nhứt là Tân- đành miễn cưỡng tháp tùng gánh hát đi lưu diễn khắp các tỉnh miền Đông Nam Phần. Hằng đêm cùng ăn cháo khuya với Hoàng Dưỡng và Tư Đẹt, Tân được nghe nhiều chuyện bí ẩn, cực kỳ lý thú, khi bức màn nhung đã buông xuống, lúc “sân khấu (đã) về khuya”… -Lúc nãy Tân có thấy gì khác lạ khi hai tay trung thần và nịnh thần đối đáp chăng? Hoàng Dưỡng hỏi. -Họ diễn thực quá! Tát tai nẩy lửa, đối đáp chan chát… -Bởi vì trung và nịnh thần trên sân khấu có mối tư thù ngoài đời. Ông thầy tuồng biết rõ nên mới phân vai quá đúng. Cả hai là tình địch. Nịnh thần cướp tình nhân của trung thần. Cho nên khi trung thần xỉ vả nịnh thần: “Bản mặt nhà ngươi coi bảnh bao vậy chớ cái lưng nhà ngươi đầy thẹo ghẻ ngứa”, anh ta “hát cương” (mà kép nịnh thần ghẻ ngứa đầy mình thiệt!). Và nịnh thần cũng vả miệng trung thần thiệt tình (trả đũa mà!) thay vì giơ tay mặt giả bộ vả, tay trái vỗ vô đùi tạo ra tiếng “bốp”! Tân thấy chưa, sân khấu và cuộc đời nhiều khi không khác nhau lắm đâu! Thảm trạng của những ai theo đuổi nghiệp “dưới ánh đèn màu” là vậy đó: Một số đem cuộc đời lên sân khấu như Tân vừa chứng kiến. Một số, ngược lại đem sân khấu xuống cuộc đời! Câu sanh nghề tử nghiệp coi vậy mà đúng quá! Nốc cạn ly xây chừng rượu thuốc, khà một tiếng nghe thật đã, Hoàng Dưỡng tiếp: -Anh kể Tân nghe vài hiểm nguy nghề nghiệp: Có lần đi hát ở tỉnh lẻ, cô Bích Thuận diễn xuất vai Thúy Liễu (trong Lan và Điệp) quá xuất sắc, đã bị một nam khán giả văng tục mắng nhiếc thậm tệ, thiếu điều muốn trèo lên sân khấu hành hung cổ! Vị khán giả nầy phản ứng kịch liệt như vậy vì ông ta thực tình “thấy” cổ đích thị là…Thúy Liễu! Châm thêm rượu vào ly xây chừng, Hoàng Dưỡng kể tiếp: -Cách đây 2 năm, khi gánh hát mình lưu diễn tại Nam Vang, anh xém bị một ông “đàn thổ” (Cao-Miên) cáp duồn! Cũng vì anh đóng quá “đạt” vai nịnh thần Bàng Hồng! Tay nầy ngồi hàng ghế đầu, phát thinh chửi thề: “Dơ! Tao chem chêt me mây!”. Rồi xách dao xông lên sân khấu toan làm thịt anh! Rất may cảnh sát can thiệp kịp thời, còng tay chàng ta lôi đi. Thế mà ổng còn ngoái đầu lại hét lớn: “Dơ! Tao chơ mây ra đương tao chem chêt cha mây luôn!”. Suốt cả tháng anh chẳng dám ló mặt ra đường ăn cơm tiệm, đành trốn miết trong rạp hát húp cháo cầm hơi, sụt gần chục ký! Lúc giở gánh đi, anh phải núp trong rương quần áo, hia mão mới thoát chết vì ông đàn thổ ổng cầm dao chực sẵn ngoài rạp, hễ thấy anh là…“phụp” liền! Một điểm khá lạ lùng với Tân, không hiểu vì sao Bảo Ngọc có vẻ rất “thương” và tận tụy chăm sóc từng miếng ăn, thức uống, giặt ủi luôn áo quần cho Tân…Đặc biệt hơn nữa, người thiếu phụ xinh đẹp dễ mến nầy cứ nằng nặc đòi Tân phải nằm ngủ sát cạnh nàng! Lý do nàng nêu ra là có Tân kề cận nàng yên bụng đêm khuya khoắc không bị mấy tay kép “thả dê” ẩu tả! Đã có tiếng xầm xì nàng và Tân “bồ bịch”. Dĩ nhiên không có chuyện đó, dù nàng chỉ hơn Tân bốn năm tuổi thôi. Nghe đâu nàng đã một lần dang dở tình duyên. Tân không dám hỏi nhưng nghe đồn kết cuộc rất bi thảm…


***

Thế rồi việc gì phải đến cũng sẽ đến, khi gánh hát trở lại Cái Bè. Tân chẳng thể ngờ lâu nay Bảo Ngọc âm thầm “chăm sóc” Tân là vì đã được người móc nối ở Vĩnh Long giao trách nhiệm tìm hiểu hai cậu học sinh bỏ trường có thực lòng muốn theo kháng chiến chống Pháp chăng. Sau vài tháng theo dõi, quan sát, Bảo Ngọc thấy rõ chỉ còn Tân muốn vô khu… Đêm ấy, như thường lệ, sau khi vãn hát Tân sửa soạn chỗ ngủ sát cạnh Bảo Ngọc. Giữa đêm, một làn hơi ấm thoang thoảng mùi hương bưởi phả vào mặt Tân: khuôn mặt hiền hòa của Bảo Ngọc ẩn hiện huyền ảo dưới ánh đèn măng-xông (manchon) vặn nhỏ…Nàng đưa ngón tay lên miệng ra dấu giữ im lặng, vội vã kéo tay Tân về vùng bóng tối sau cánh gà “đề-co” (décor) trên sân khấu, kề tai Tân yêu cầu gấp rút gom góp hành trang rời gánh hát ngay… Tim Tân đập loạn xạ, thầm nghĩ chẳng lẽ nàng rủ chàng bỏ trốn đi xây tổ uyên ương? Vô lý, lâu nay nàng vẫn xem Tân như người em mà!

-Đi đâu vậy chị? Tân thì thào hỏi.

-Đi đến một nơi mà Ngọc sẽ giúp Tân toại nguyện… Tân đỏ mặt tía tai. Toại nguyện cái gì? Lẽ nào là…“chuyện ấy”? Sao nàng lại xưng tên mình và gọi Tân bằng tên, không như từ lâu vẫn một mực “chị nói em nghe…”?

-Chị nói gì em không hiểu…

-Tân đừng chị chị em em với Ngọc nữa! Chúng ta bình đẳng, cùng chí hướng. Ngọc nói cho Tân rõ: Ngọc là giao liên. Ngọc sẽ đưa Tân vô khu trước khi trời sáng. Từ nay trở đi, chúng ta là bạn và Ngọc sẽ luôn sát cánh giúp đỡ Tân trong mọi tình huống. Yên chí đi, lúc nào bên cạnh Tân cũng có Ngọc, như trước đây lúc nào bên cạnh Ngọc cũng có Tân…Xuồng ba lá ngụy trang đã được chuẩn bị sẵn sàng. Tân không rành đường đi nước bước nơi đây, nhứt là trời còn tối om, nên Tân phải nắm chặt tay Ngọc. Từ đây tới chỗ xuồng đậu mất ít nhứt nửa tiếng đồng hồ. Trong mọi trường hợp Tân không được buông tay Ngọc…


Chàng và nàng vừa bước xuống xuồng thì có tiếng chân người thình thịch bên kia bờ sông! Ngọc vội vã đẩy Tân bật ngữa ra khoang xuồng, nằm sấp lên người Tân, đúng lúc ngọn đèn pha trên lô-cốt quét sáng trưng vào bụi ô-rô đang che khuất chiếc xuồng ba lá cùng lúc với tiếng quát tháo bằng tiếng Pháp:

-Qui va là? Halte-là! (Ai đó? Đứng lại!)


Một tay bịt miệng Tân, tay kia nắm chặt trái lựu đạn đã mở chốt, Ngọc trong tư thế sẵn sàng phản công tự vệ hoặc…tự sát! Một tràng tiểu liên “ria” bừa vào đám ô-rô. Ngọc áp sát người trên Tân, chắc chắn với ý định dùng thân đỡ đạn cho chàng! Một loạt đạn thứ hai “tưới” cầu âu vào lùm cây thăm dò phản ứng. Trong tình thế cực kỳ nguy ngập, Tân vẫn thấy người nóng rần trong đêm lạnh, bởi chưa bao giờ được dịp ngây ngất vì hương vị da thịt của phái yếu…Khoái cảm đầu đời! Đèn pha quét rọi đã tắt ngấm từ lâu nhưng Ngọc vẫn nằm yên trên Tân! Tự dưng Tân ao ước ánh đèn oan nghiệt kia lại chọc thủng màn đêm, từng tràng tiểu liên lại “rót” không ngừng vào bụi cây, cho Ngọc tiếp tục ghì siết Tân thâu đêm…Nhưng Ngọc đã nhỏm dậy, bình tĩnh đẩy xuồng ra khỏi lùm ô-rô: Nàng vẫn không quên trách nhiệm được giao phó!


****

Cuối cùng Ngọc chu toàn nhiệm vụ. đưa Tân an toàn “ra bưng”. Lúc bước lên bờ, đến bìa rừng chồi, Ngọc yêu cầu Tân cho Ngọc bịt mắt để bảo mật lộ trình dẫn tới điểm đến, theo qui định Ngọc phải tuân thủ. Sau khi hướng dẫn Tân đến “ra mắt” người điều khiển khu mang bí danh Tư Rọm, trách nhiệm chiến khu mang ám số C5, Ngọc giữ đúng lời hứa không rời Tân nửa bước, Sự quan tâm của Ngọc khiến Tân đỡ xao xuyến. Không hiểu sao giáp mặt Tư Rọm, Tân cảm thấy rợn người, tâm thần bất ổn trước cặp mắt cú vọ và cái miệng gần như không có môi của hắn, y như miệng rắn!

-Cô Ngọc giao cậu Tân cho Sáu Củi khai tâm về đường lối của Cách Mạng và huấn luyện xử dụng vũ khí, Tư Rọm ra lệnh. Cậu Tân qua bên đó ăn ở luôn với anh Sáu…

-Thưa anh Tư, Ngọc nghiêm mặt trả lời. Huấn luyện Tân thì giao cho anh Sáu. Nhưng Tân phải ở với tôi. Người móc nối Tân ở Vĩnh Long dặn dò tôi rất kỹ phải luôn luôn canh chừng Tân. Anh ấy nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Và tôi không thể trái lịnh…

-Thôi được. Tạm thời, tôi chấp nhận như vậy. Tuy cô trực tiếp chịu trách nhiệm với Bảy Vẹo ở Vĩnh Long, nhưng ở đây là vùng trách nhiệm của tôi, mọi chuyện phải theo qui định của tôi…

-Anh Tư cho Tân theo tôi “hoạt động” vài lần cho quen việc, rồi chúng ta bàn lại…


Trên đường về trạm giao liên -hầm trú ẩn được ngụy trang rất tinh vi, tránh máy bay quan sát khám phá- dành riêng cho Ngọc nghỉ ngơi, Tân thắc mắc: -Sao Ngọc cứ muốn mình ở chung với nhau vậy? Tân thấy Tư Rọm có vẻ hắc ám quá! Anh ta là người Nam mà sao giọng nói lơ lớ như…người Bắc hay người Trung vậy?

-Câu hỏi thứ nhứt của Tân, Ngọc sẽ trả lời sau, vì chuyện khá dài dòng…Tư Rọm là người Nghệ Tĩnh. Hắn bắt chước giọng Nam để giấu biệt gốc gác của mình, cho thiên hạ lầm tưởng hắn là dân địa phương, hầu dễ bề gây cảm tình với quần chúng. Tân linh cảm đúng về hắn đó. Sáu Rọm rất tàn bạo và quỷ quyệt. Ngọc nhắc Tân lần nữa, như mình đã nhất trí: Tân phải luôn bám sát Ngọc.

Ngưng một lúc, Ngọc choàng vai Tân, kề tai hạ thấp giọng:

-Thêm điều kiện nầy nữa cho thật an toàn: Từ nay trở đi, mình phải đóng kịch như đôi nhân tình. Tân không nên xem thường điều kiện mới nầy, vì nó tối quan trọng, có tính cách sinh tử chứ không phải chuyện giả bộ chơi cho vui đâu! Chuyện nầy ít nhiều liên quan tới câu hỏi thứ nhứt của Tân…

Tân định vặn hỏi nhưng Ngọc đã nhanh chóng kéo Tân xuống hầm, đóng nấp lại. Qua ánh đèn bấm, Tân nhìn thấy một thùng gỗ chứa đầy lựu đạn đặt cạnh một cây mi-trai-dết (mitraillette Mas 36) mà Tân thường thấy lính Tây được trang bị.

-Tân nhìn khẩu Mô-ze (Mauser) phòng thân của Ngọc đây. Ngọc sẽ chỉ Tân cách sử dụng. Có dịp, Ngọc sẽ kể câu chuyện về nó để trả lời câu hỏi thứ nhứt của Tân… Trước khi ngọn đèn dầu leo lét được thổi tắt, Tân thoáng thấy Ngọc lên đạn khẩu Mauser…


*****

Suốt hai tuần, Sáu Cũi vừa nhồi nhét “đạo đức cách mạng” vừa tập cho Tân đủ mọi thế ném lựu đạn (và tháo chạy!), tuyệt nhiên không chỉ dẫn gì hết về súng đạn. Ngọc luôn có mặt bên cạnh Tân, đưa chàng về trạm giao liên ngay sau mỗi buổi tập, không muốn Sáu Cũi kéo Tân ra khỏi tầm nhìn của Ngọc nói chuyện riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho Tư Rọm tới ve vản nàng. Tư Rọm bực tức, hậm hực nhìn “hai trẻ” nắm tay “tình tứ” đưa nhau về “động hoa vàng-hầm trú ẩn”! Hắn thèm khát Ngọc từ lâu. Bao nhiêu lần hắn đột nhập vào “sào huyệt” của Ngọc mưu toan hái mận bẻ đào nhưng không kết quả. Lần nào Ngọc cũng mở chốt lựu đạn cảnh cáo hắn nếu sấn tới sẽ buông tay cho cả hai cùng tan xác!

-Ông sẽ cho chúng con biết tay ông! Hắn lầu bầu, miệng méo sệch, sùi bọt mép, cặp mắt cú vọ đỏ rực, trợn trừng trông khiếp vía…


Một tuần sau Tư Rọm giao cho Tân công tác rải truyền đơn. Dĩ nhiên có Ngọc đi kèm. May thay! Nếu không Tân đã bị mật thám Tây bắt hoặc bị bắn hạ khi tháo chạy! Vào giờ chót, Ngọc thay đổi địa điểm do Tư Rọm chỉ định. Thay vì trong nhà lồng chợ, Ngọc canh chừng cho Tân thi hành công tác tại trường tiểu học quận lỵ…

-Tân chớ lo. Ngọc báo cáo địa điểm trong chợ bị địch phát giác…

-Ngọc tài thật. Sao Ngọc biết trước địa điểm nầy nguy hiểm?

-Ngọc sẽ nói rõ ngọn ngành với Tân sau. Tạm thời Ngọc bảo gì Tân cứ y thế mà làm. Nếu không mạng sống Tân sẽ như chỉ mành treo chuông! Trên đường về, Ngọc thay đổi lộ trình nhiều lần…


Đêm đó, dưới ánh trăng lưỡi liềm yếu ớt , ẩn mình trong khu rừng chồi ven sông, Ngọc tiết lộ hành tung khiếp đảm của tay huyện ủy đã khiến Tân rởn óc, lần đầu chạm mặt:

-Hắn tên Đỗ Xảo, năm nay hắn đúng 35 tuổi, giỏi lắm học tới lớp tư trường làng, sống bằng nghề chính bưng mâm rửa chén cho các tiệm ăn; nghề phụ, nhổ răng và thiến heo dạo. Năm 20 tuổi, hắn bỏ xứ trốn vào Nam vì đâm chết một đối thủ cùng trổ nghề cướp giựt, móc túi. Hắn chuyển qua nghề dẫn mối gái ăn sương cho lính Tây. Nhờ vậy hắn được một tên lính lê dương (légionnaire) giới thiệu làm bồi cho vợ chồng một quan hai Tây. Hai năm sau hắn mò vào phòng ngủ đâm chết ông trung úy, rồi hãm hiếp và siết cổ bà trung úy cho tới chết. Từ đó hắn tuyệt tích giang hồ. Nghe đâu nhờ “thành tích” đẫm máu nầy, hắn được kết nạp vào Đảng! Ngọc nghe anh chị em ở đây xầm xì là trước khi đáo nhậm C5 hắn đã trở về quê cũ ném lựu đạn rồi phóng hỏa đốt nhà ông hội đồng Thành, giết sạch gia đình ông nầy cùng vợ và hai con hắn được ông hội đồng cho tá túc làm việc nhà, sau khi hắn can tội giết người bỏ trốn. Nhằm tạo thành tích dâng cho Đảng, hắn không từ nan bất cứ chuyện gì có lợi cho hắn thăng tiến, kể cả việc giết luôn vợ con mình! Hiện nay “quan” huyện ủy nhà ta cuỗm vợ của một du kích xã đã bị Tây phục kích bắn chết. Thiên hạ đồn rằng hắn đã mật báo cho Tây lộ trình của anh du kích! Bây giờ hắn lại muốn “chiếu cố” Ngọc…

-Do đó Ngọc cần Tân sống chung với Ngọc để…

-Đúng vậy. Nhưng còn một lý do thầm kín khác mà từ từ Tân sẽ hiểu…Trong khi chờ đợi, Ngọc có bổn phận bảo vệ Tân và…ngược lại!

-Ngược lại?

Ngọc không trả lời câu hỏi của Tân, trái lại vội vàng ghì siết Tân vì…Sáu Cũi đi tuần tra các tổ báo động ven sông vừa rọi đèn pile vào “chàng và nàng” đang (giả bộ) mùi mẫn!


******

Một tháng sau khi tới C5, Tân bắt đầu nhuốm bệnh sốt rét rừng. Ngày cũng như đêm, Ngọc túc trực bên Tân cạo gió, giác hơi , nấu nồi xông, đút cháo cho Tân cầm cự chịu trận cho cơn bịnh hành hạ. Mỗi lần “làm cử”, đắp bao nhiêu chăn mền đều không ngăn được Tân rét run tận xương tủy, đến độ Ngọc phải ôm cứng Tân “đè” chàng xuống sạp tre, nếu không chắc Tân đã té lăn xuống đất! Ngọc van nài Tư Rọm xin vài viên kí-nin (quinine), nhưng hắn dứt khoát từ chối, viện lẽ thuốc để dành chữa cho các “đồng chí” chiến binh mau bình phục, sớm trở ra trận tuyến. Tân không thuộc loại được ưu tiên săn sóc nầy. Không còn cách nào khác, Ngọc đành liều lĩnh lẻn ra “thành” cầm đôi bông tai mua kí-nin giá chợ đen về cứu Tân qua cơn nguy kịch. Cơn làm cử vừa lơi đôi chút, Tư Rọm giao công tác liền tức khắc cho Tân. Ngọc phản đối. Hắn lạnh lùng “phán”:

-Cách Mạng không thừa cơm nuôi bọn ăn không ngồi rồi!


Lần nầy hắn cho Sáu Cũi “tăng cường” tổ công tác: Tân phải liệng lựu đạn vào một quán ăn trong chợ, nơi lính tráng từ trại binh của Tây thường ra ăn uống. Sáu Cũi lên đường trước, hẹn giao hai trái lựu đạn cho Tân trước cửa chợ. Nửa giờ sau Ngọc và Tân rời hầm trú ẩn, tiến về mục tiêu được chỉ định…Đột nhiên, Ngọc thay đổi lộ trình, kéo tay Tân vô khu rừng chồi, nhờ Tân phụ đẩy xuống nước chiếc xuồng ba lá đã đưa Tân tới C5, đem giấu sau đám lau sậy ven sông.

-Tân giữ trái lựu đạn nầy phòng thân, tuyệt đối im lặng chờ Ngọc trở lại. Ngọc đã lo liệu mọi thứ đâu vào đó rồi. Tân đừng sợ. Ngọc đi đây!


Áng chừng 30 phút sau, một tràng tiểu liên phá tan sự im lặng ban mai. Tân bồn chồn lo lắng cho Ngọc, muốn rời xuồng chạy về hướng có tiếng súng nghe ngóng tin tức, tuy nhiên vẫn cố dằn lòng nằm im, nhớ lời Ngọc dặn dò…Nhưng rồi nhiều loại súng thi nhau nổ ròn tan khiến Tân không còn chịu nổi sự căng thẳng cân não. Tân dợm nhảy lên bờ tiếp cứu đồng đội thì… từ xa Ngọc hỗn hễn phóng tới hối hả bơi xuồng lướt nhanh đi, luồng lách trong hệ thống kinh rạch chằng chịt tìm cách thoát khỏi khu C5.



Đêm đến, Tân “làm cử” dữ dội hơn mọi bận: sau cơn rét run bầng bật suýt làm xuồng lật chìm, Tân nóng sốt mê sảng, ói mữa thâu đêm. Ngọc mệt nhoài choàng ôm cứng Tân ngủ thiếp cho tới lúc mặt trời đứng bóng, Tân vẫn chưa ra khỏi giấc ngủ như hôn mê…

-Tân! Tân! Ngọc lay gọi. Ráng tỉnh dậy đi! Có chuyện nầy rất quan trọng, Ngọc cần bàn với Tân. Mình đã ra khỏi vùng kiểm soát của C5 và cũng đã vượt khỏi khu Tây có thể truy lùng. Sáu Cũi đã bị bắt.. Ngọc cố ý cho “bể” vụ Tư Rọm sai hắn gài bẫy cho Tân sụp hầm Tây. Tràng tiểu liên do Ngọc bắn đã cứu Tân thoát chết. Bây giờ Ngọc dự tính đưa Tân về với gia đình, trở lại trường học. Ở lại C5, Tân không chết về tay Tư Rọm cũng sẽ chết vì sốt rét rừng.

-Làm sao Tân về nhà mà không bị công an bắt về tội trốn ra bưng?...

-Tân yên tâm. Anh Bảy Vẹo đã chuẩn bị rất tỉ mỉ cho chuyến trở về của Tân hoàn toàn êm xuôi với chính quyền Vĩnh Long. Trước mắt, về tới nhà, Tân phải ẩn mặt một thời gian. Anh Bảy sẽ kín đáo cho người đến lo liệu mọi thứ với gia đình Tân…

-Nhưng Ngọc sẽ ra sao nếu Ngọc trở về C5? Chẳng thể nào Tư Rọm tha cho Ngọc và Tân đã bất tuân lệnh của hắn, khiến Sáu Cũi bị bắt…

-Tân không phải lo. Anh Bảy “uy thế” hơn Tư Rọm nhiều, nên hắn không dám đụng tới Tân. Ngọc sẽ báo cáo Tây nó lầm tưởng Sáu Cũi là…Tân! Mà đúng vậy. Vì sau đó Tây mang Sáu Cũi ra giữa chợ bắn bỏ! Điều nầy cho thấy rõ ràng Tư Rọm đã mật báo cho Tây vây bắt Tân và bắn chết ngay, bởi vì hắn đinh ninh Tân là tình địch …

-Càng thêm một lý do nữa để Ngọc đừng quay lại C5! Sao Ngọc không thừa cơ hội nầy ra đầu thú hay trở về hoạt động với anh Bảy? -Có nhiều tình tiết mà lúc nầy Ngọc chưa tiện tiết lộ cho Tân rõ. Nhưng nhứt định Ngọc phải tiếp tục công tác bên cạnh Tư Rọm để chờ cơ hội…

-Cơ hội?...

-Từ từ Tân sẽ rõ. Ngọc thấy Tân còn quá yếu, cần nằm nghỉ lấy sức. Ngọc cũng vừa bán chiếc nhẫn mua thêm vài viên quinine giúp Tân cầm cự vài hôm nữa để Ngọc có thể đưa Tân tới Bắc Mỹ Thuận cùng Tân đón xe đò về Vĩnh Long…

-Tân không đành lòng để Ngọc hứng chịu mọi hiểm nguy thường xuyên với con quỷ dâm ô có cái miệng như miệng rắn, chỉ vì muốn giải cứu Tân…

-Thì Ngọc cũng đã lợi dụng Tân như tấm bình phong để bảo vệ mình trước mưu đồ hắc ám của tên quỷ sứ đó! Vả lại Ngọc có mối thù bất cộng đái thiên với tên lưu manh đội lốt cách mạng nầy. Tân còn nhớ Ngọc nói có dịp Ngọc sẽ kể câu chuyện về khẩu Mauser tùy thân nầy chăng?

Ngọc không nghe Tân trả lời vì Tân lại vừa lên cơn sốt rét kịch liệt…


*******

Tân hồi tỉnh trên căn gác mà các cửa sổ đều được đóng kín, tưởng chừng như vừa giật mình thức giấc sau cơn mộng dữ dai dẳng: Tân bỏ học? Tân theo gánh hát? Tân vô khu? Tân rải truyền đơn? Tân trên đường mang lựu đạn đi ném vào khu chợ búa đông dân cư? Tân bị sốt rét rừng suýt chết? Tân bỏ khu trốn về thành? Ngọc! Ngọc ơi! Ngọc đâu rồi? Mọi chuyện đã thực sự xảy ra như thế hay tất cả chỉ là một giấc mơ dài? Rõ ràng đây là căn gác trên lầu nhà Tân, nơi vừa là phòng ngủ vừa là phòng học của Tân và đứa em trai mà! Lẽ nào do ôn bài thấm mệt Tân ngủ quên trên giường đến độ nằm chiêm bao kinh khủng quá sức tưởng tượng? Thân thể nóng bốc khói, miệng khô đắng, Tân dụi mắt cố gượng dậy. Vừa đứng lên, chàng lảo đảo té sấp xuống sàn gỗ, sặc máu mũi, môi miệng ứ máu sưng húp! Dưới nhà có tiếng chân người vội vã chạy lên cầu thang…

-Tân! Tân con! Ba đây, đừng sợ! Đã 3 ngày rồi con mê sảng… Có người giúp ba lén đưa y tá tới chích kí-nin-mắc (quinimax) nên con mới bớt làm cử. Nhưng con còn yếu lắm, lưỡi con đóng bợn cứng ngắt, nói chuyện khó khăn. Chưn con chưa đứng vững được nói chi tới bước đi. Chờ má con đi chùa Bà Đội thu xếp xong về, ba sẽ đưa con vô đó tạm lánh mặt để chữa trị, tránh chòm xóm dòm ngó. Cô Ngọc nói với ba anh Bảy đã “lo” xong với chánh quyền chuyện con trở về. Họ coi như con lỡ dại ham vui “theo gánh hát” thôi. Anh con cho biết đã được trường con đồng ý cho con trở lại đi học. Con ráng tịnh dưỡng…

-Vậy là con không nằm mơ, phải không ba? Ngọc đâu rồi ba?

-Cô ở lại một ngày, một đêm bên con. Sáng sớm hôm sau cô kiếu từ và nhờ ba má nói với con là cô rất quí mến con. Cô yêu cầu ba giữ cuốn sổ nhỏ nầy nhưng dặn ba chỉ đưa cho con khi tình trạng sức khỏe con khả quan…


Tân cảm thấy cổ họng nghèn nghẹn, mắt cay xè…Ngọc ơi! Bây giờ (Ngọc) ở đâu? Góc biển hay rừng sâu? Chúng ta vĩnh viễn chia tay nhau rồi chăng? Có lẽ Tân sẽ không còn ứa lệ như trước nữa, khi cám cảnh Em không về nữa chị ơi…Mà rồi đây Tân sẽ phải âm thầm thổn thức…Chị không về nữa em ơi! Đã một thời chúng ta tựa vào nhau chống chọi với thói đời ở một nơi mà chúng ta ngỡ là ưu việt, là cao cả, là… cách mạng! Ngọc ơi…

hai cánh bèo trôi bớt lẻ

ta ép chung từng tiếng lệ

sông dài cũng đỡ tràng giang

hia nhau nửa giấc kê vàng


Liên tiếp ba ngày sau khi Ngọc ra đi, một cơn bão rớt trút mưa xối xả xuống thành phố Vĩnh Long. Hệ thống cống rảnh không còn khả năng thoát nước, đường phố chìm dưới nửa thước nước. Riêng con đường mòn từ lộ cái dẫn tới chùa Bà Đội, nước ngập tới lưng quần! Xe cộ vô phương lưu thông, ba Tân đã phải kề lưng cõng Tân lội nước trên 3 cây số, từ nhà đến chùa dưới cơn mưa tầm tã…Tân khóc nức nở thương xót cha già khổ lụy vì con! Nhờ cơn bão rớt, đường phố vắng hoe, cha con Tân an toàn di chuyển trên lộ trình gian khổ đưa Tân đi mai danh ẩn tích trị bịnh… Một tuần cật lực điều trị, lớp uống quinine, lớp tiêm quinimax, Tân hồi lực thấy rõ. Sớm chiều nghe kinh, tâm hồn nhẹ lâng theo tiếng đại hồng chung thanh thoát, tiếng chuông mõ hoà quyện với tiếng ê a tụng niệm, Tân dần dà tìm lại được an bình nội tâm.


********

Bước ra sau chùa, tìm bóng mát dưới tàng cây đa, Tân lần mở quyển sổ tay của Ngọc ..mở đầu với 4 câu thơ khiến Tân đau nhói trong tim:

Mây sớm nay về u ám quá

Đường sầu ướt át phố mờ sương

Ta xé lòng nhau làm mấy mảnh

Anh một phương và tôi một phương


“Tân thương mến,

Không nỡ rời Tân đang đau yếu, nhưng Ngọc không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc ra đi, dù thâm tâm vẫn muốn luôn kề cận Tân để bảo vệ. Không như lúc chúng ta sớm tối có nhau ở C5, nấn ná, bịn rịn với Tân lúc nầy Ngọc sẽ gây nguy hiểm chẳng những cho Tân mà còn cho cả gia đình Tân. Ngoài ra, Ngọc còn món nợ to lớn phải thanh toán với Tư Rọm. Anh Bảy yêu cầu Ngọc giao cho anh ấy giải quyết, nhưng Ngọc không đồng ý. Ngọc phải đích thân ‘tính sổ’ với hắn… Chỉ một thời gian quá ngắn sinh hoạt với gia đình Tân, Ngọc nhận ra ba má Tân thương con hết lòng, hết sức, nhứt là ba Tân. Suốt thời gian Tân vắng nhà, ông bỏ bê công việc, suốt ngày thất thần buồn bã, lắc đầu thở dài, không màn tới chuyện uống rượu vốn đã thành thói quen của ông sau giờ trại mộc đóng cửa. Má Tân kể ba Tân vốn vô thần, chẳng những không tin tưởng gì hết mà còn châm biếm bà mê tín dị đoan, thờ ‘Chà Và’ (Phật), ‘Chệt’ (Quan Công, Cửu Thiên Huyền Nữ) v.v…Thế mà khi Tân bỏ nhà ra đi, bà thuyết phục được ông vô chùa lạy Phật và thắp nhang chắp tay xá trang thờ Bà Cửu Thiên cầu xin phù hộ cho Tân an lành trở về! Ngọc đoán Tân rất nôn nóng muốn biết rõ việc gì đã xảy ra giữa Ngọc và tên huyện ủy ác ôn của C5. Hôm nay Ngọc sẽ kể đầy đủ tình tiết… Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu (ba mẹ Ngọc đều dạy học), mẹ qua đời khi Ngọc vừa bước vào tuổi 16. Ba ở vậy nuôi con mà Ngọc là đứa con đầu đàn. Ông đốc học của ba muốn Ngọc về làm dâu ông. Mà Ngọc đã trót yêu Bảo, đang học Luật. Cũng như Tân, chịu ảnh hưởng những chuyện viết về kháng chiến chống Pháp, Bảo ‘thoát ly’...Rồi thuyết phục Ngọc bỏ nhà, tránh bị cưỡng ép kết hôn. Khởi đầu hai đứa hoạt động với anh Bảy. Sau đó được điều tới tăng cường cho C5. Ngay buổi tiếp xúc đầu, Bảo đã nghi ngờ tư cách ‘khó khá’ của Tư Rọm. Hình dong, dáng dấp của hắn gần như thường xuyên toát ra tính chất mờ ám…Riêng Ngọc thì bắt gặp ánh mắt thèm thuồng như muốn lột trần Ngọc ra và cái nhìn quá ác cảm chỉa về phía Bảo của hắn! Vài lần hắn giao công tác cho hai đứa, Bảo không còn nghi ngờ gì về tính gian manh của tên dâm tặc tàn nhẫn nầy. Bảo nhứt quyết phải vạch trần bộ mặt thật của hắn để vĩnh viễn khai trừ hắn ra khỏi hàng ngũ kháng chiến quân. Cơ hội diệt trừ hắn đến, khi hắn sai Bảo đi ám sát con yêu râu xanh người Cọt (Corse) - Xếp sòng công an liên bang (sûreté fédérale) Pháp, trách nhiệm truy lùng khu C5- chuyên hãm hiếp phụ nữ địa phương chẳng may bị hắn nghi ngờ hoạt động chống Tây bắt giam. Tư Rọm không đồng ý Ngọc theo trợ lực, nhưng Ngọc vẫn bí mật tới yểm trợ Bảo… Hai đứa tin chắc tài liệu về hành tung bí hiểm của hắn nằm trong tay của tên Corse dâm đãng. Phen nầy hắn vô phương chạy tội. Nhưng…ai ngờ hắn cao tay ấn hơn, mật báo cho tên trùm lính kín. Nhằm tuyệt đối bảo mật -đề phòng nội tuyến- tên nầy đơn độc phục kích sát hại Bảo với khẩu Mauser mà Ngọc đã cho Tân xem qua…Hắn không ngờ Ngọc có mặt, có lẽ Tư Rọm đã cam kết với hắn rằng Bảo sẽ đi một mình. Ngọc bắn hạ, tướt đoạt khẩu Mauser trên tay hắn, lục túi áo hắn lấy mảnh giấy -chứng cớ ràng ràng về sự hãm hại độc địa anh em kháng chiến của tên huyện ủy gian xảo- đau lòng bỏ xác Bảo cạnh xác tên quỷ sứ, gấp rút vượt thoát đám lính Tây đang ùa tới truy nã… Ngọc ẩn mình trong rừng suốt đêm, khóc thương Bảo hết nước mắt, tim quặn thắt đau đến mức sắp quị ngả nhưng cố lấy lại bình tĩnh, thản nhiên đến báo cáo Bảo đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ ám sát tên Corse-trùm-lính-kín. Cho nên Tân yên tâm: Tư Rọm không biết Ngọc đã rõ hết hành vi tàn độc của hắn mượn tay kẻ thù giết chết Bảo. Trái lại hắn yên chí sớm muộn gì Ngọc cũng sẽ rơi vào vòng tay thô bạo của hắn vì không còn ‘chướng ngại’ Bảo ngăn trở. Cho tới khi Ngọc nhờ Tân đóng kịch nhân tình…Một công hai việc: Chúng ta bảo vệ lẫn nhau và qua cách hắn âm mưu hãm hại Tân, Ngọc thu thập thêm bằng chứng về dã tâm sát hại đồng đội để rảnh tay cưỡng chiếm vợ con họ…” Tân ngước nhìn lên không trung, thầm cầu xin Trời Cao phù hộ cho Ngọc, giờ đây đang liều lĩnh trở về hang hùm C5, rình chờ cơ hội hạ thủ độc-xà-huyện-ủy Đỗ Xảo! “Sau cái chết tức tối của Bảo, Ngọc xin anh Bảy đổi bí danh thành ‘Bảo-Ngọc’, để vừa tưởng nhớ Bảo vừa nhắc nhở Tư Rọm ‘giao liên’ Ngọc hiện thuộc diện goá phụ tử sĩ hy sinh vì cách mạng, bất khả xâm phạm…tiết hạnh! Vậy mà hắn cứ lăm le giở trò bỉ ổi… Tân yên tâm dưỡng bịnh để trở lại học đường. Ngọc chắc chắn Tân sẽ thành công mỹ mãn trên đường học vấn và tin tưởng mãnh liệt sau nầy Tân sẽ nhiệt thành đóng góp sức mình cho đất nước hữu hiệu hơn. Phần Ngọc, Tân chớ lo: Ngọc đủ sức đối phó với Tư Rọm. Ngọc được biết ít nhứt có 3 người đang ra sức truy tầm hắn, đòi hắn trả nợ máu: Cô em vợ hắn, cậu em trai ông trung úy Pháp bị hắn đâm chết và ông anh bà trung úy bị hắn hiếp dâm rồi siết cổ chết. Chưa kể thân bằng quyến thuộc của ông hội đồng mà hắn đã tàn sát hết cả nhà… Ngọc hy vọng thành công xử tội hắn với khẩu Mauser đã hạ sát Ngọc, cho thân nhân các nạn nhân của hắn khỏi nhọc công ra tay… Tân sẽ được thông báo đầy đủ chi tiết về số phận của Tư Rọm một ngày gần đây. Hắn và đám em út tay sai của hắn không dám chạm tới Tân vì anh Bảy đã bố trí nghiêm nhặt chờ ‘đón tiếp’ rất kỹ bọn hắn. Tân đừng liên lạc với anh Bảy để tìm cách gặp Ngọc. Cứ coi như Ngọc đã biến mất trong trí nhớ của Tân. Hãy trở lại nếp sống thư sinh, chuẩn bị hành trang vào đời hữu ích hơn, phong phú hơn, nhân ái hơn…

Giao Thừa Tân Mẹo-Nhâm Thìn 1952

Vĩnh biệt Tân,

Bảo-Ngọc ”


Tân thẫn thờ dạo quanh sân chùa, thì thầm:

Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi

Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết

Và dấu giầy mai sẽ lá sương che


Bất giác Tân ngậm ngùi nhớ đến Tha La xóm đạo:

Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

Bao người đi thề không trở lại nhà

Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!...


*********

Lại thêm một mùa xuân lữ thứ! Tân thầm nghĩ. Mùa xuân tha hương thứ 30. Tân chợt nhận ra hầu hết các chuyển biến quan trọng đều đến với Tân vào mùa xuân. Nhìn lại những mùa xuân đã đi qua đời mình chỉ còn mùa xuân năm ấy -mùa xuân ra đi với duyên số gặp gỡ “người tình bất đắc dĩ”, mùa xuân quay về với duyên phận vĩnh viễn lìa xa “người ân xưa”- vẫn chưa phai mờ trong tâm trí Tân ở ngưỡng cửa mùa xuân mới, mùa xuân thứ 57 từ độ Ngọc tuyệt tích giang hồ… Chỉ một lần duy nhứt Tân nhận một lá thư Ngọc cho người mang tới trao tận tay, sau khi Ngọc rời Tân được một năm:


“Tân thương mến,


Như đã hứa, Ngọc xin vắn tắt báo tin cho Tân rõ: Ngọc đã thành công tự tay nã đạn vào ngay tam tinh của Tư Rọm với khẩu Mauser đã sát hại Bảo. Hắn đã trúng mỹ nhân kế, theo Ngọc vào khu rừng chồi, tưởng rằng sẽ được ân ái với Ngọc. Năm anh em bên anh Bảy gởi qua phục kích chận bắt trói gô rồi buộc hắn quì nghe đọc cáo trạng về tội ác tày trời của hắn. Sau khi trưng các bằng cớ về sự phản trắc của hắn, bán rẻ sinh mạng anh em cho thực dân Pháp để cưỡng hiếp người phối ngẫu của họ, Ngọc thi hành bản án tử hình dành cho tên cuồng dâm, phản dân hại nước Đỗ Xảo, bí danh Tư Rọm! Tuy nhiên, để tránh hoang mang trong hàng ngũ kháng chiến, tên tử tội cực kỳ lưu manh nầy được ‘tuyên dương’ tử trận vì…phục vụ cách mạng! Và được chôn cất tử tế. Ngọc phản đối, nhưng không kết quả… Ngọc đã làm xong hoàn mỹ hai việc mà Ngọc hết sức tha thiết:

-Đưa Tân trở lại học đường cho khỏi uổng phí một bàn tay, một con tim, một khối óc hữu dụng cho đất nước sau nầy hơn là để nguồn năng lực tiềm ẩn nầy bị nhóm người thiếu tư cách như Tư Rọm hoang phí.

-Rửa hận cho Bảo đã chết tức tửi vì một tên vô loại dùng xương máu anh em lập thành tích, mưu đồ tạo cho mình một ‘sự nghiệp cách mạng’! Thôi thì từ nay trở đi, xin Tân hãy coi như Ngọc đã vĩnh viễn tan loãng trong sương khói rừng rậm…”


Cũng chỉ một lần duy nhất Tân dò la tông tích Ngọc, 10 năm sau khi đọc lá thư trên, trong một lần hành quân qua thôn xưa: khu rừng chồi ven sông hầu như vẫn không thay đổi. Tân tưởng chừng như Ngọc vẫn còn quanh quẩn đâu dây, kéo Tân xuống xuồng dùng thân mình đỡ đạn cho Tân. Hỡi ôi!...

về đây ta lại về đây

về đây mây trắng trôi hoài ngàn năm

về đây hoàng hạc mất tăm

về đây lặng đứng âm thầm chốn xưa


-o-o-o-

Cao tay nâng ly rượu đỏ chào mừng mùa xuân năm ấy, Tân nhắn gửi người năm xưa chẳng bao giờ còn trông thấy nhau lần nữa:

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó

Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau

Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu

Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá


Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, Xuân Canh Dần 2010

Lê Tấn Lộc

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-Ghi chú: *Thơ trong bài nầy mượn của các nhà thơ Vũ Anh Khanh, Vĩnh Lộc, Kiệt Tấn, Nguyễn Đình Toàn… **Người viết sửa đổi tên một số nhân vật, nhằm tránh gây phiền toái cho họ -nếu còn sống- và gia đình họ -nếu còn ở Việt Nam. -LTL-























































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Sunday, September 27, 2009

TU ĐÂU CHO BẰNG TU..."CHÙA"


Phiếm“loạn”(IV)
TU ĐÂU CHO BẰNG TU…"CHÙA" !
Phật tức tâm, Phật chứng tại lòng,
Tâm tức Phật, lòng thành có Phật

Sau vụ ‘đấng’ cao tăng ‘Thích… Diệu Nữ gây sóng gió rầm rộ tại Xứ Chuột Lớn, (rồi cũng đâu vào đó, vũ-như-cẫn-vẫn-như-cũ,‘đấng’ nầy tiếp tục ngất ngưởng trên ngai vàng… “chùa”, không rụng tới một sợi lông…chưn, trái lại càng lúc càng tăng cao ‘thu nhập’), khá lâu rồi tôi không có dịp phiếm ‘loạn’ thêm về các ‘đấng’ được bà con mộ đạo, không câu nệ tuổi tác -đôi khi quá chênh lệch giữa bên được ‘tôn vinh’ và bên ‘suy tôn’- một lòng sùng kính như bậc ‘mẫu nghi thiên hạ’, luôn xá lạy xưng ‘con … bạch thầy’ khi thưa chuyện với các ‘đấng’! Lắm lúc quá trớ trêu, quá tréo cẳng ngỗng, vì ‘đấng’ chỉ vừa mới ra khỏi tuổi… vị thành niên! Như câu chuyện có thật 100% diễn ra tại quận Chợ Lách, trước đây thuộc tỉnh Vĩnh long, theo lời kể của một người bạn:

Sau 1975, trong một chuyến về thăm ‘quê hương là chùm khế ngộp’, bạn tôi ‘được’ gia đình yêu cầu đứng ra làm ‘Trần văn CHI’ đài thọ kinh phí để thỉnh một ông sư về tụng kinh cầu siêu cho thân bằng quyến thuộc…Sư đến bằng xe Toyota bóng lộn, tối tân, dĩ nhiên có gắn máy lạnh, do gia (thí) chủ thuê bao. Quí vị có thể tưởng tượng, trời nắng chang chang, bên nầy cầu cả gia tộc, từ các vị bô lão ‘gần đất xa trời’ tới đám trẻ con đầu còn để chõm xếp hàng quì gối, chắp tay cung kính vái lạy nhà sư vừa tròn 21 tuổi, dù lộng che đầu, bên kia cầu ‘thư giản’ đếm từng bước tiến về phía bên nầy cầu, thong dong đi giữa hai hàng ‘thí chủ’ đang rạp mình cúi lạy… chăng?
Tôi chạnh nhớ tới hình ảnh vị hòa thượng “đem thân nương chốn thiền môn trót ba mươi năm có lẽ” -trong vở Hoa Rơi Cửa Phật của cố soạn giả Năm Châu- vội vã đỡ Điệp đứng lên khi Điệp xin quì lạy tạ ơn nhà sư đã “xúc động mối từ tâm” đề nghị Điệp mặc áo cà sa giả dạng hòa thượng đến gặp Lan (cải trang thành chú tiểu Huệ Minh) trong giờ Lan hấp hối:
-Ngài chớ quá nhọc công mà làm cho bần tăng thêm tổn đức. Ngài hãy dành lạy nầy để ngài vào lạy Phật…
Vị chân tu động lòng trắc ẩn nầy chẳng bao giờ dám phạm thượng tự coi mình là Đấng Chí Tôn. Ngược hẳn với thái độ cao ngạo -mập mờ đánh lận con đen- của một số ‘cao tăng’ tăng cao bản ngã đến độ tự phong mình là Phật trước cái nhìn đánh bóng, chạm trổ quá cường điệu của một số sai nha-đệ tử ruột xả thân ‘cúc cung tận tụy’ họ, muốn đồng hóa họ với Đức Phật, muốn bá tánh tôn sùng họ như thánh thần bất khả xâm phạm! Cho nên…mới ra cớ sự ‘chuyện lạ bốn phương’, hầu như chưa bao giờ xảy ra trong giới tu hành người Việt, trong cũng như ngoài nước: Hai ‘đấng’ đạo sĩ ‘Thích’ Mị Tà ‘Thích’ Nhất Hoa lôi một nhà báo và một nhà văn…ra tòa đòi bồi thường thiệt hại -không phải bồi thường Danh Dự lẩm ca lẩm cẩm đâu, nhằm nhò gì mấy cái lẻ tẻ vô bổ đó!- mà là chính thức chường mặt ra mướn một ‘quan trạng sư’ -tiếng tăm “nổ” đã lẫy lừng trong giới thầy cãi- đòi bồi thường cụ thể “MỘT SỐ… TIỀN ($$$) TƯƠNG XỨNG”!!!

Hỡi ôi! Chẳng thể nào tôi hình dung nổi cảnh hai vị ‘cao tăng’ trên đây ‘mặc sắc phục tăng ni’ lẫm liệt bước tới pháp đình -hầu như hai vị quên cổ nhân thường khuyến nhủ ‘vô phúc đáo tụng đình’- kề tai chỉ thị luật sư của mình mặc cả với ba tòa quan lớn về số tiền bồi thường, càng lúc càng tăng cao, cho hai tay ‘Anh Dũng mần nhựt trình và Phùng Nhân viết sách’-vốn đã chật vật trong cuộc sống thường nhựt- tiêu tan sự nghiệp luôn!
Nhị vị đạo sĩ nhứt định ‘lấy thịt đè người’ với hai phật tử cô thế, chỉ có tấm lòng ưu tư thành khẩn muốn củng cố niềm tin của họ và của đại đa số phật tử làm lợi khí truyền thông trung thực -vì không thể thụ động điềm nhiên tọa thị trước cảnh vàng thau lẫn lộn trong hàng ngũ tăng lữ- ngõ hầu độc giả không chê họ hèn nhát bẻ cong ngòi bút để được an toàn vinh thân phì gia.
Lẽ nào nhị vị không nhận ra mình đã đi quá đà trong việc ‘tăng cao’ THAM-SÂN-SI trong vị thế ‘mặc áo nhà tu’ thoát tục, quyết tâm ‘ăn thua đủ’ với hai phật tử trần tục? Nếu không quá lố bịch thì cũng xốn mắt, khó coi, đúng không? Chắc gì nhị vị thắng kiện? Nếu nhị vị thắng, họ sẽ sạt nghiệp. Nhưng trên bình diện tâm linh, coi như họ đã được giải nghiệp. Trái lại nhị vị sẽ “mang lấy nghiệp vào thân”, bởi đã xem thường BI-TRÍ-DŨNG của con Nhà Phật!
Trường hợp nhị vị thua kiện thì… còn chi nữa danh giá của người tự cho là tu hành! Bởi vì, nếu thế nhị vị phạm tội cáo gian, vướng mắc tội vọng ngữ! Thắng hay thua gì nhị vị cũng chẳng bảo toàn được phẩm cách và sự thanh khiết của người mặc áo nâu sòng mà tôn chỉ thiêng liêng là cứu nhân độ thế…
Quả tình, trước đây khi các đồ đệ suy tôn quí ‘đấng’ như thần thánh, họ đã thiêng liêng hóa con người trần tục của nhị vị. Giờ đây, ra tòa tranh cãi với người phàm trần, nhị vị đã đằng đằng sát khí trần tục hóa con người thiêng liêng mà các Phật tử đã đặt hết niềm tin và hoài bão vào sự thanh thoát của con người xuất gia đầu Phật, luôn lấy THIỆN TÂM làm trọng điểm cho việc dưỡng tánh tu tâm, từ bi hỉ xả, trong tinh thần “Đại Hùng-Đại Lực”, dĩ nhiên, nhưng… “ĐẠI TỪ BI”!
Hai người bị cáo buộc tội ‘mạ lỵ’ cũng là con Nhà Phật như nhị vị. Trên lý thuyết, họ kém xa nhị vị về mặt tu đạo. Và dĩ nhiên họ không lão thông tư tưởng Phật giáo hơn nhị vị. Nếu vô tình hay cố ý họ xúc phạm đến thanh danh của nhị vị thì, tại sao với phương vị lãnh đạo tinh thần thiện nam tín nữ -bởi mọi Phật tử đều được khai tâm ‘kính Phật, trọng Tăng’- nhị vị không mời họ đến Phật đường (thay vì đâm đơn kiện họ nơi tụng đình); hoặc giản dị và nhanh chóng hơn điện đàm với họ, để thuyết pháp cho tâm trí họ được khai thông, hầu nhận ra đâu là lẽ phải, đâu là sai trái. Hành sử như thế nhị vị mới xứng đáng là bậc cao tăng, lấy tình sư đệ đối đãi với nhau vì đôi bên đều là Con Nhà Phật.
Trường hợp nhị vị cảm thấy hai nhà báo, nhà văn phổ biến nhiều chuyện sai sự thật, bán tuần báo Việt Luận xưa nay vẫn mở rộng diễn đàn cho nhị vị phản bác, cớ chi phải ‘lôi’ họ ra toà cho hả dạ?
Mà sao lại truy tố họ? Họ chỉ lập lại những gì báo chí trong nước phanh phui và học sĩ Đặng Văn Nhâm phổ biến rộng khắp về nhị vị. Chẳng lẽ phải ngầm hiểu Anh Dũng và Phùng Nhân ‘ngon xơi’ hơn nhà báo trong nước và cây cổ thụ họ Đặng, hai cây bút đã công khai vạch trần những điều không được ‘đẹp’ lắm về nhị vị? Lẽ nào ‘kẻ sĩ’ như nhị vị lại thiếu dũng khí đối phó với các tác giả thực sự đã hiên ngang múa bút phơi bày những gì mờ ám lâu nay được che đậy quá tinh vi, đến độ nhị vị phải luồn lách chơi trò ‘giận cá chém thớt’?
Tôi lại chạnh nhớ lời khuyên giải của vị chân tu trụ trì ngôi chùa mà tín nữ Thị Kính cải trang nam nhi đến xin thí phát qui y, sau khi bị nghi oan muốn giết chồng. Sau đó lại còn bị Thị Mầu vu oan dóa họa đã ‘gian díu’ với cô nàng đến có con hoang, trong vở cải lương Quan Âm Thị Kính, thập niên 40:
-Thiền môn là chốn dưỡng tánh tu tâm, có lý nào dung dưỡng những điều tà dâm! Nếu như con có lỡ lầm nhứt phen thì kể từ nay con hãy nên ăn năn hối ngộ. Bằng như ai kia có đem lòng quá ác gian, đành phao vu những điều quá ác tâm thì con cũng nên làm ngơ cho giải khuây trong dạ, mà lo thủ phận tu hành, rồi sau thiện ác đáo đầu sẽ phân minh…

Nếu quả thật quí ‘đấng’ cao tăng chịu hàm oan bị ‘mạ lỵ’ thì…tôi thầm ước nhị vị noi gương Phật Bà Quan Âm đã kiên cường im lặng chịu Nỗi Oan Thị Kính, luôn vững tin thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Bởi vì…
“Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”
(Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt)

Trời Cao có mắt đấy, nhị vị ạ!
**
B
ài viết có thể chấm dứt nơi đây. Tuy nhiên, tôi vừa lượt đọc muộn màng tờ Việt Luận, Số 2396-Năm thứ 26-Thứ sáu 18.09.2009, các trang 36, 37, 39 và 55…với ‘Ý kiến độc giả’ của quí bạn đọc Diệu Nhã, Gia Tâm, S.N., Robert Trần, Vi Thương, Lê Văn Tám, N.H. (đa phần là Phật tử) và hai bài viết của hai cây bút, cũng là Phật tử, Phan Văn Song (“Sư ông đáo tụng đình”) và Nguyễn Khắp Nơi (“Thư gửi bạn Phùng Nhân”) khiến tôi bồi hồi xúc động nhớ lại hình ảnh các vị tu hành đơn sơ, chơn chất, khổ hạnh và một ngôi chùa còn lưu giữ trong tôi nhiều kỷ niệm thuở niên thiếu khó phai mờ. Tôi muốn nhắc lại đây để đối chiếu với chuyện hai nhà tu hành hiện đang kiện cáo tín hữu của mình tại Úc.

Thuở mười lăm, tôi thường theo má tôi lui tới một ngôi chùa ở Vĩnh Long, được người bản xứ biết dưới danh hiệu Chùa Bà Đội. Ngôi chùa nguyên là một căn nhà vách ván, lợp ngói, tọa lạc trên một thửa đất khá lớn, với vườn tượt có cây ăn trái, cây kiểng bao quanh, do một góa phụ tục gọi là Bà Đội tự mình gầy dựng nên với phương tiện cơ hữu. Chùa có một nhà sư lo Phật sự. Ông còn trẻ, khoảng trên dưới 30. Tôi không rõ phẩm trật của ông, nhưng mọi người đến lễ Phật đều gọi ông là…Ông Giáo.
Tôi rất thích nghe ông tụng kinh và thuyết pháp khi cùng với má và em tôi qua đêm tại chùa. Giọng ông trầm ấm, hòa quyện trong tiếng mõ chuông đều nhịp, nghe vô cùng ‘siêu thoát’ trong đêm tĩnh mịch…Thỉnh thoảng tiếng đại hồng chung ngân nga khiến hồn tôi như chực bay bổng! Sắc diện ông trông rất hiền từ. Ông thường dùng xe đạp hoặc đi bộ ra phố khi cần.
Không một ai đến chùa mà không tôn kính, mến trọng Ông Giáo và Bà Đội hầu như biết hết và để tâm chăm sóc, trợ giúp tất cả thành viên trong gia quyến của những bà con cô bác trong tỉnh đến chùa lễ Phật. Khách thập phương đến tham gia sinh hoạt của chùa như thân bằng quyến thuộc trong một đại gia đình…con Nhà Phật!
Có lần em tôi kể thấy một nhà sư chạy mô-by-lết trong tỉnh, má tôi rầy la em tôi ăn nói bừa bãi. Người tu hành ai lại lái xe gắn máy bao giờ, coi chừng mang vạ ác khẩu!..
Mười mấy năm sau, khi tôi kể thấy mấy ông sư ngồi xe Méc-xê-đéc có tài xế riêng lái đi trên các đường phố Sàigòn, má tôi lại la rầy tôi dữ dội chớ có bày chuyện “nói xấu quí thầy”. Là một Phật tử thuần thành, má tôi rất mực quí trọng giới tăng ni… Tôi không dám cho má tôi biết rằng lúc đó một số thượng tọa, đại đức đã có mặt trong quân đội qua Nha Tuyên Úy Phật Giáo, với quân phục, lon lá hẵn hòi, hai bên khăn choàng màu nâu quàng qua vai để làm lễ có gắn quân hàm, hoặc bông mai vàng hoặc bông mai bạc. Và tùy theo cấp bậc, chức vụ, “quí thầy” di chuyển bằng Mercedès hoặc Jeep. Điều nầy vượt quá tầm hiểu biết và niềm tin của một tín nữ mộc mạc, chỉ quen nhìn các đấng tu hành mặc áo nâu sòng, đi bộ, quá lắm là đạp xe đạp như “Ông Giáo Chùa Bà Đội”!

Rất may, lúc biến động “đem Phật xuống đường” xảy ra ở miền Trung má tôi ngã bịnh nặng phải nằm bệnh viện và sau đó bị lãng trí. Nếu không chẳng thể nào má tôi tin có việc đem Phật trên bàn thờ nơi cửa thiền tôn nghiêm bày ra đường lộ! Chắc chắn bà sẽ nổi giận cho rằng có ai đó ác ý phao đồn tin thất thiệt nhằm triệt hạ uy tín của “quí thầy”!
Và có lẽ cũng là một ân phước của Bồ Tát, một tháng sau khi Sàigòn mất tên má tôi nhắm mắt lìa trần, khỏi phải xốn mắt, đau lòng cùng đồng bào miền Nam chứng kiến một số khá đông “quí thầy” vỗ tay hoan hô “giặc từ miền Bắc vô đây bàn tay nhuốm máu anh em” reo hò Kách Mệnh thành kông, ‘tiến về Sàigòn’ lập “Ủy Ban…Khuân sảng tài vật của người dân ‘Nam bộ’!
***
T
ôi không thể không đau lòng nghĩ tới người mẹ cả đời một lòng nhiệt thành ‘kính Phật, trọng tăng’ khi phải chứng kiến hai bậc xuất gia đầu Phật, mà tâm nguyện lẽ ra phải là “sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy(…), lòng thanh thản hồn nhiên trước cửa từ bi, bao nỗi thi phi tai chẳng buồn nghe, mắt chẳng buồn trông thấy nữa…” lại đành đoạn xúc tiến thủ tục trần thế ép buộc hai Phật tử trong ngành truyền thông phải vác chiếu ra toà!
Trước khi đặt bút viết bài nầy, tôi có đọc qua bài viết của nhà văn Phùng Nhân mà tôi chưa có dịp quen biết cá nhân. Tôi đặc biệt ghi nhận lời trần tình sau đây của tác giả: “Những gì tôi trích đăng trong bài viết ‘Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Úc Châu. Nên nhìn lại chặng đường đã qua’ chỉ là một phần rất nhỏ và rất nhẹ so với những gì ông Nhâm đã viết về HT Thích Như Huệ”…
Sau khi quyết định góp ý về vụ kiện tụng hi hữu nầy, tôi tìm hiểu quan điểm của nhà văn Phan Văn Song mà tôi cũng chưa được dịp làm quen. Và tôi bắt gặp, cùng chia sẻ đoạn kết của tác giả: “Ngày xưa, tôi đã học được cái giáo lý của Phật giáo đầy tình thương, đầy thông cảm. Ngày nay qua việc kiện tụng nầy tôi cảm thấy lo ngại cho tiền đồ của Phật giáo. Phán, phán, quyết và Phạt. Còn đâu là Bồ Tát?”.
Ngoài ra, tôi cũng chia sẻ cảm tình của nhà văn Nguyễn Khắp Nơi -mà tôi cũng chưa được quen biết- dành cho bạn Phùng Nhân của mình, cũng như đồng cảm với mối ưu tư của tác giả: “Tối nay, tôi sẽ thắp ba nén nhang lạy Đức Phật Thích Ca, lạy Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, xin chỉ cho con: Đi chùa nào? Đọc kinh loại nào? Để…không bị Thượng Tọa thưa ra tòa?”…

Gần đây, ‘siêu’ thiền sư ‘vĩ đại’ Thích Nhất (hay Bất, Vô) Hạnh, với vụ ‘quang vinh’ về nước lập thiền viện Bát Nhã -ít lâu sau bị đập phá tan tành và vĩ đại sư nhanh chóng ‘di tản’, coi như mặc nhiên ‘đem con bỏ chợ’- cộng với sự lộ mặt của tập đoàn sư quốc doanh không thể không tác động bất lợi cho tiền đồ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Giờ lại thêm vụ hai vị tu sĩ đạo Phật ‘xuống đường’ toan ‘làm thịt’ hai Phật tử!
Không phải khi không mà bài viết sử dụng nhóm chữ tu “chùa” trên tựa đề. Xin hiểu chữ chùa trong dấu ngoặt kép theo nghĩa khỏi tốn tiền (gratuit, free). Tiền bá tánh dựng nên chùa, nhị vị tu chùa kể trên lâu nay ăn “chùa”, ở “chùa”, mọi tiện ích vật chất cho bản thân đều “chùa”. Bây giờ nhị vị tu “chùa” đáo tụng đình với tư cách ‘nguyên cáo’, kinh phí ứng ra cũng là tiền “chùa” -tiền của bá tánh! Trường hợp thất kiện, bá tánh lãnh đủ. Nếu thắng kiện, cho dù số tiền bồi thường ‘tương xứng’ có được sung vào quỹ của chùa đi nữa, bá tánh cũng không hoan hỉ vì nó được trả giá bằng sự ‘trấn lột’ hai Phật tử Nhân-Dũng ‘ách giữa đàng (nhà báo ở VN và Đặng Văn Nhâm) mang vào cổ’! Quả thật: Kiện tụng là bác thằng bần, Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm!
Đó là chưa kể khi mọi sự đã ngã ngũ, từ nay trở đi đôi bên sẽ rơi vào vòng lẩn quẩn ân oán giang hồ không thể một sớm một chiều tuyệt dứt! Nhị vị để đâu rồi giáo lý Nhà Phật: Oán thù nên cởi không nên buộc?
Ngày xưa tôi được Ông Giáo chùa Bà Đội kể cho nghe chuyện hai nhà sư rất ư đạo hạnh đến diện kiến Đức Phật để được vào cõi Niết Bàn. Nhưng Đức Phật bảo hai ông phải trở về cõi trần tu đức lại vì hai ông đã trót quăng bộ đồ lòng mà một tay đồ tể đã gởi hai ông mang đến trình Phật chứng tỏ lòng ăn năn hối ngộ của mình. Hình như Ông Giáo kết luận: đồ tể quăng dao có thể thành Phật. Xin hỏi nhị vị, đôi bên kiện và bị kiện ai là người đang cầm dao trên tay đây?
Một Phật tử vừa gọi điện thoại bày tỏ sự bất mãn trước vụ kiện tụng nầy với tôi:
-Đại lão cái quái gì mấy cha nội nầy! Đại láo, đái láo thì có!
Riêng tôi thì tôi nghĩ nhị vị chịu hạ mình làm người trần tục để đôi co trước tòa án trần thế là vì danh xưng “đại lão” đã biến thể thành “Đạo Lãi”: nhị vị theo đạo sanh lời!
Thương thay Nhân Dũng có thừa.
Gặp phường tu đạo chẳng chừa thứ chi!
****
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê…
Phàm trần mắt tục như kẻ hèn mọn viết bài nầy mà còn nhận thức được thân phận mõng giòn của kiếp phù sinh: Phù du trong những phù du, Phù du tất cả chỉ là phù du! (Vanitas vanitatum et omnia vanitas), và tất cả đều VÔ THƯỜNG…huống chi nhị vị đạo sĩ!
Đặt trường hợp luật sư của nhị vị sử dụng thành công ngón nghề riêng bẻ cong công lý cho các ‘đấng’được dịp hả hê ăn mừng đã đánh gục hai Phật tử làm báo, viết văn, bịt miệng luôn giới truyền thông, nhị vị có chắc công luận sẽ đứng về phía mình chăng? Hay một ngày trời mây u ám nào đó, sinh, lão, bịnh rồi sắp tử tới nơi, nhị vị lại chẳng nhớ tới chuyện đáo tụng đình trước đây mà sanh ra lòng thống hối đã làm cho quỷ giận, thần hờn, nay nghĩ lại càng thêm đau đớn ?

Sau rốt, tôi thành tâm cầu nguyện sẽ có một vị chân tu thực sự cao kiến xuất hiện lay tỉnh nhị vị cao tăng-tăng cao của chúng ta trở về đúng vị trí tu hành của mình, với tư tưởng sau đây trong Cảnh Sách:
Người xuất gia là cất bước đi thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối rạng rỡ giòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma cũng phải khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi. Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hành dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu
”.

Mong thay!

Thôn trang Rêu-Phong, vào Thu 2009
-Lê Tấn Lộc-
















































Thursday, September 10, 2009

TĨNH TÂM CUỐI HÈ 2009


Vài cảm nhận về lần

TĨNH TÂM CUỐI HÈ 2009
«‘Ép-pha-tha’, nghĩa là: hãy mở ra »
(Mc 7, 34)
« Anh em có mắt mà không thấy,
có tai mà không nghe ư? »
(Mc 8, 18)

Kỳ họp dòng đầu tháng 6, khi được thông báo Cha Giảng Phòng cho lần Tĩnh Tâm của Dòng Phan Sinh Tại Thế Vùng Montréal vào cuối tháng 8-2009 sẽ là Cha Nguyễn Tầm Thường, tôi cảm thấy trong lòng hơi áy náy vì cái tật ưa ‘cà rỡn trong nghiêm chỉnh’ của mình -hơn là ‘nghiêm chỉnh nhưng (thực chất là) cà rỡn’ mà mình vốn rất dị ứng- e rằng không khéo mình sẽ bị mời đi chỗ khác tha hồ cà rỡn, vì ‘ở đây người ta làm việc rất nghiêm chỉnh, biết chưa?’...( ! )
Thiên hạ đồn rằng Cha Giảng Phòng, tuy danh hiệu Tầm Thường nhưng chẳng Tầm Thường đâu nhé, chớ có tưởng bở mà vỡ…mặt đấy! Lén phén là Cha thẳng tay đuổi ra về không vị nể, khỏi Tĩnh Tâm luôn…Cho nên tôi đã định sử dụng chiêu thức tam thập lục kế, âm thầm hát bài …tẩu mã: đi Âu Châu sớm hơn dự tính ban đầu, vào khoảng trung tuần tháng 9. Nhưng vào giờ chót, tôi quyết định nấn ná ở lại ghi danh tham dự.
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần nơi nao!
Tôi lại còn ‘can đảm’ tháp tùng một số anh chị em đón Cha từ Hoa Kỳ bay sang. Gan thật, dám liều lĩnh ‘vuốt râu hùm’! Ấy thế mà tiếp cận lần đầu với Cha, tôi ‘cảm nghiệm’ ngay Cha không ‘khó’ như dư luận đồn đãi. Cha chỉ phân định rạch ròi giữa hai lãnh vực sinh hoạt: vui chơi và làm việc.
Bữa cơm tối chào mừng người Cha viễn phương đến với đàn chiên hôm đó, một dòng viên nêu ra vấn đề các bác lớn tuổi trong Dòng đa số ‘khiếm nhỉ’ (lãng tai) nên hay phát ngôn to tiếng, tôi góp ý: Nếu chúng ta không cố gắng khép mình vào kỷ luật thinh lặng khi tham dự Tĩnh Tâm thì, tuy mang danh Dòng Nghèo Khó hóa ra chúng ta ‘nghèo mà không chịu khó’! Cha Trợ Úy Aimé Đỗ Văn Thông của chúng ta đã không từng nhắc nhở ACE ‘Người ta khó chịu thì mình chịu khó. Nhưng khi đã chịu khó rồi thì đừng lấy làm khó chịu đã chịu khó. Vì như vậy còn tai hại hơn là không chịu khó từ đầu’… sao?
Cha Nguyễn Tầm Thường vỗ vai tôi, cười xòa. Vậy tôi có thể an tâm: Cha có óc thanh tiếu (sens de l’humour). Hy vọng Cha thuộc dòng ‘thanh tịnh tươi cười’ (sénérité souriante), chứ không rơi vào nhóm ‘thanh tịnh cáu có’ (sénérité grimaçante). Mong thay!
*
Buổi đầu sinh hoạt với Dòng Cha đã làm tan loãng tảng băng giữa hai định kiến, khiến mọi người cười rộ: Cha đề nghị đánh cuộc xem ai thắng, ai thua: Cha khó, đúng như dư luận loan truyền hay Dòng thường ngủ gục, đúng như tin đồn rộng khắp!
Những ngày sau đó, anh chị em càng lúc càng cảm thấy Cha khó. Bởi lẽ lâu nay Dòng PSTT Vùng Montréal hình như chưa hề nghe qua cách giảng phòng nào quá ‘đặc biệt’, nếu không muốn nói là quá ‘cách mạng’như thế! Cha khó thiệt: Cha hỏi dồn dập, đưa ACE vào thế ‘bí’, khiến ACE lúng túng khi phát biểu. ACE muốn nói cái gì? Đã định nghĩa chính xác các khái niệm (concept) mình muốn khai triển chưa? Cha càng hỏi, ACE càng lờ mờ, càng lẩn quẩn trong cách diễn tả quan điểm, gần như đang ngủ gục trong những điều thu lượm được trong kinh sách, rồi tự động cho ‘tuôn’ ra, cơ hồ như đang trả bài…Cho nên cuộc ‘quần thảo’ giữa Cha và ACE tiếp diễn dài dài, bất phân thắng bại!
Tôi tưởng tượng như đang chứng kiến cảnh đối đáp giữa Socrate -cha đẻ của triết học tân thời- với các triết gia thuộc trường phái Ngụy Biện (Sophistes). Các triết gia nầy thường hãnh diện về sự hiểu biết vững chắc của mình. Trong khi họ thao thao bất tuyệt thì Socrate giả vờ như ngu dốt, ‘không biết gì cả’. Nhưng Socrate cứ hạch hỏi họ tới tấp, như ông không thấu hiểu những gì họ xác quyết, bằng cách yêu cầu họ định nghĩa rõ rệt những khái niệm họ nêu ra trong lúc tranh biện…Cuối cùng họ khám phá chính họ mới thực sự không biết gì hết ngoài một số định kiến hàm hồ hấp thụ qua thói quen mà họ ‘tuôn ra’ như vẹt khi được cơ hội!
Về điểm nầy tôi nghiệm ra phương thức giảng phòng của Cha Tầm Thường thể hiện quan điểm của Voltaire, triết gia người Pháp, thế kỷ XVIII: “Quan niệm đúng thì phát biểu rõ” (Ce qui se conçoit bien s’énonce clairement). Đột nhiên tôi chợt nhớ ‘cụm từ’ người Việt ưa dùng mà tôi không làm sao hiểu nổi: ‘Nói hổng phải nói chớ…’(!) Cái gì vậy bà con? Nói (mà) hổng phải nói là… sao? Nói hay không nói, chứ sao lại vừa nói vừa hổng phải nói? Chẳng lẽ phải hiểu là nói khơi khơi, chẳng muốn nói cái gì cả. Nói như Tây nó bảo: Parler sans rien dire…chăng? Y như mình programme cho cái TV, tới giờ nào đó nó tự động‘xổ ra’ một tràng âm thanh vô hồn…
Tôi cũng nghiệm ra có lẽ Cha đang ứng dụng phương pháp ‘đỡ đẻ’ (maieutique) của triết gia Socrate: Những câu hỏi dồn dập về định nghĩa giúp các môn đệ của Socrate ‘khai hoa nỡ nhụy’ chân lý đã tiềm ẩn nơi họ…
Một phương pháp tuyệt vời! Nhưng bất hạnh thay cho Socrate, nếu các mộn đệ ông trân quý và tri ân ông bao nhiêu thì một số môn sinh và tập thể các triết gia Ngụy Biện ức lòng ông bấy nhiêu… Vì ông vạch cho họ thấy rõ chân tướng ngu dốt nhưng cứ nhắm mắt nhắm mũi tự cao tự đại về mớ kiến thức gồm toàn những định kiến không kiểm chứng được của họ! Cái mà họ hiu hiu tự đắc coi như một tạp lục kiến thức bách khoa (connaissance encyclopédique) thực ra là một hỗ lốn ngu dốt bách khoa (ignorance encyclopédique)! Họ căm thù ông, vu cáo ông đầu độc và làm suy đồi (corrompre) giới trẻ. Và lập tòa án xét xử, buộc ông uống thuốc độc tự tử. Hỡi ôi! Thuốc đắng đả tật nhưng…Lời thật mích lòng!
Tôi có phần lo âu cho Cha Giảng Phòng và rốt lòng cầu nguyện Ơn An Lành cho Cha…
**
Những giây phút đầu của buổi huấn đức mở đầu chương trình, tôi cũng hụt hẫng, chới với -như đa số ACE- cảm thấy bất ổn, lạc lỏng trong một khung cảnh khác lạ hơn không khí ‘an lành’của những ‘đường xưa lối cũ’ thênh thang, theo khuôn phép sinh hoạt cổ điển mà ACE chúng ta đã quá quen thuộc. Cha Giảng Phòng lần nầy đã khuyến khích chúng ta đi chệch ra ngoài những lối đi an toàn, kẻ qua người lại tấp nập (hors des sentiers battus), tự dò đường tìm đến với Lời Chúa đích thực, sống động.
Do đó, chúng ta hơi bực dọc, không thoải mái, e ngại lạc lối! Cho nên mới có ý kiến Cha giảng ít quá! Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng Cha giảng ít vì Cha chủ ý khơi động mạch ‘tư duy’ cho chúng ta suy gẫm Phúc Âm, lắng nghe Chúa nói và tâm sự cùng Chúa. Nhóm nầy cho rằng Cha giảng như thế đã đủ so với thời gian eo hẹp dành cho phần huấn đức. Nhóm kia lại nghĩ là Cha giảng như vậy là quá thiếu, chưa đủ để thỏa mãn niềm khao khát của một số ACE muốn nghe Cha giảng nhiều hơn nữa, vì từ lâu họ đã nghe một dòng viên nức nở khen Cha Nguyễn Tầm Thường giảng rất “tuyệt vời…Đã nghe Cha Nguyễn Tầm Thường giảng rồi thì sẽ không cách chi còn có thể chịu ngồi nghe các Cha khác giảng…nhạt phèo được nữa!”. Cảm tưởng của dòng viên nầy được lặp đi lặp lại như một điệp khúc bất tận, dần dà trở nên một ‘ám ảnh’ , một ‘ấn tượng’ ăn sâu vào tiềm thức một số ACE náo nức ‘thèm’ nghe Cha Tầm Thường giảng!
Về điểm nầy, tôi nghĩ rằng, nếu Cha thấy ACE góp ý phát biểu lờ mờ thì, ngược lại. tôi thấy Cha giải đáp cũng lơ lửng! Đúng hơn Cha bỏ lửng, không đi đến tận cùng cách lý giải. Nhưng tôi nghĩ rằng Cha đi đúng tôn chỉ của Linh Thao mà Cha là một chuyên viên thượng thặng. Cha có nói linh hướng không phải là việc có thể gấp rút ‘làm cho xong trong ngày’, trái lại là một thao luyện từng bước và trường kỳ. Do đó, theo tôi, trong 3 ngày tĩnh tâm Cha chỉ mới khai mở một chặng đường ngắn trên đoạn đường rất dài… Nói nôm na, những gì Cha giảng trong lần tĩnh tâm của Dòng PSTT có thể xem như ‘tập một’ của bộ truyện dài Linh Thao nhiều tập…Như vậy, theo tôi, ít nhiều Cha đã vạch ra cho ACE ý thức về bước đầu trong tiến trình linh hướng, theo cách Xét Mình, kiểu Socrate: “Hãy tự biết lấy mình! - Connais-toi toi-même!”, để nhận ra quả thật “Tôi chỉ biết có mỗi một điều: Tôi không biết gì cả! - Je ne sais qu’une chose: Je ne sais rien!”. Bài học về lòng khiêm nhường nầy hữu ích cho tất cả mọi người, không nhất thiết chỉ riêng cho chúng ta, đúng không ACE?
Khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường,
Khiêm nhu, khiêm hạ, ‘Vui Mừng Bình An’
***
Tôi nghĩ rằng mỗi người trong ACE chúng ta, sau mỗi lần Tĩnh Tâm đều lãnh hội một ít điều lay động tâm hồn mình. Cho nên thiết nghĩ tôi không nhất thiết phải làm công việc khó khăn và ‘bạt bẽo’ đúc kết những thảo luận, những chia sẻ đề tài huấn đức ‘Để sống tự do và hạnh phúc hơn’. Bởi vì đúc không đầy đủ thì kết không vẹn toàn. Vả lại, tôi nghĩ rằng hầu hết ACE chúng ta đều đã tập trung theo dõi những gì Cha Giảng Phòng chuyển đạt. Ngoài ra, như thường lệ, sau mỗi kỳ Tĩnh Tâm, sẽ có bài đúc kết tỉ mỉ của Ban Phục Vụ. Cho nên tôi chỉ muốn tóm lược những điều được ghi nhận như tương đối ‘động não’ tôi, mong được ACE chia sẻ và góp ý bổ túc…

1-Tôi thắc mắc tìm hiểu xem những gì Cha Giảng Phòng mới đây và Cha Trợ Úy trước đó trình bày về Tha Thứ bổ túc hay mâu thuẫn nhau, ít ra trên bình diện Công Bằng. Cha GP đặc biệt nhấn mạnh về ‘Tha’ như ‘buông’ cho mình được nhẹ nhàng trong tâm hồn, cho an bình nội tâm được vững chải, chớ có NGU (muội) trông chờ kẻ xúc phạm tới mình xin lỗi mình, đền bù cho mình. Hành sử như vậy chỉ tổ làm cho mình càng lúc càng khổ thêm, trong lúc kẻ xúc phạm tới mình vẫn ‘phây phây’, chẳng hề hấn gì -chẳng mất một sợi lông…chân nào hết! Chí lý quá, đúng không? Thế nhưng Cha TU thì cho rằng chúng ta ‘tha’ chứ ‘không quên’. Mà trước khi tha, cần chỉ rõ cho kẻ được tha biết hắn sai trái thế nào. Cũng là theo lẽ công bằng thôi! Cũng hợp lý quá đấy chứ, phải không? ACE nghĩ sao?
Lẽ ra tôi nên theo cách lý giải ‘lơ lửng’ của Cha Tầm Thường, để ACE tự tìm câu trả lời, nhưng tôi chưa thể đạt tới mức thanh tịnh siêu đẳng như thế, nên tôi đành chịu khó ‘ngu’, ôm những ray rứt về Bác Ái và Công Bằng vào lòng -dù biết trước chỉ tổ làm cho mình thêm nhức đầu nhức óc thôi- để trình bày những ‘trăn trở’ hậu tĩnh tâm của mình với hai Cha và ACE thân thương:
Về ẩn dụ ‘củ khoai’, tội cho kẻ bị tên láng giềng đánh cắp. Nếu tôi là nạn nhân, tức tối bức đầu bức cổ chờ nó xin tôi tha nó và chờ nó đền bù là tôi…ngu, vì trong lúc tôi xót xa bức rức, có thể nó đang hả hê ‘xực’ củ khoai của tôi và khoái trá cười tôi…ngu! Cho nên tôi chớ có dại khờ ‘đau khổ’ giùm cái tội ăn cắp của nó: tôi ‘buông’, tôi ‘cho qua’. Trên bình diện thanh thản cá nhân, đó là một thái độ hết sức khôn ngoan nhưng hình như quá …vị kỷ chăng?
Xin lấy lại ẩn dụ củ khoai ‘kinh qua’ cá nhân người viết: Tôi là người làm rẫy phương Nam, có thửa ruộng trồng khoai nuôi sống gia đình. Bỗng dưng đám người phương Bắc tràn tới tước đoạt mảnh vườn của tôi, lại còn bắt tôi cầm tù, hành hạ chí cốt. Nhân danh sự an bình nội tâm, tôi thinh lặng hòa giải cùng kẻ cướp. Vậy tôi khôn hay ngu? Có thể tôi khôn đấy, nhưng cái khôn đó được trả giá bằng sự nhắm mắt, bịt tai a tòng cho Bất Công, Sái Quấy, Gian Ác, Bạo Hành, Phi nhân thắng thế tràn lan, ngự trị! Vẫn biết Công Bằng mà không Bác Ái là sắt máu. Nhưng, Bác Ái mà không Công Bằng là…mù quáng!
Lý là thế đấy, nhưng xét cho cùng, quan điểm cùa hai Cha GP và Cha TU bổ túc nhau. Cha GP nêu lên giai đoạn tiền nghiệm (a priori), điểm khởi cho ta vững vàng tâm trí để nhân đức an bình của ta lan rộng và ảnh hưởng tới kẻ xúc phạm ta -điều kiện cần- trước khi bình tĩnh bước tới chỉ ra lỗi phạm của tha nhân hầu dễ dàng tha thứ trong tinh thần hoà giải đích thực trong tình người với nhau. Cha TU đề cập tới giai đoạn hậu nghiệm (a posteriori), điểm đến, tiếp nối chung cuộc -điều kiện đủ- của lòng thứ tha toàn mỹ: Bác Ái được cân bằng với sự tái lập Công Bằng!
Điều đánh động tâm tư tôi nhất ở điểm nầy là Cha GP nhấn mạnh: Cho qua không có nghĩa là nhu nhược và tha thứ để giữ hòa khí không thể đồng nghĩa với bao che, dung túng! ACE nghĩ chúng ta có nên nhìn lại kỹ lưỡng cái mà chúng ta thường khuyên bảo nhau ‘hãy hiền hòa thuận thảo’ -bằng mọi giá- chăng? Coi chừng chúng ta bị Pha-ri-sêu hóa lúc nào không hay biết!

2- Cha GP đã trình bày rất rõ về Tội và Vạ. Cho dù chúng ta có đền bù, phạt tạ đến đâu cũng không cách chi sạch tội hoàn toàn nếu không nhờ lòng thương xót và giá máu cứu chuộc của Chúa trên Thánh Giá… Cha GP chưa trả lời câu hỏi của tôi về việc Chúa cho tên cướp cùng bị đóng đinh với Người lên Thiên Đàng mà chưa qua quá trình đền phạt, vì Cha không còn thì giờ. Có thể dịp khác Cha sẽ lý giải chăng? Tuy nhiên, tôi vẫn thường xuyên tự hỏi -và muốn ACE cùng góp ý- ai là người đáng được cứu rỗi và vào nước Trời hưởng phúc đời đời: Kẻ vô số tội lỗi, vào phút chót thực lòng ăn năn hối cải hay người suốt đời thánh thiện giữ đạo, vào giờ chót cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, đang tâm chối bỏ Chúa? Trong hai người, ai là người thực sự đấm ngực mình -chứ đừng đấm ngực anh em, như Cha TU thường nhắc nhở chúng ta- khi xướng đọc: Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em(…)Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi mọi đàng?

3- Cha GP cũng cho ACE và tôi có cái nhìn mới về Tòa Giải Tội. Tiếng là ‘Tòa’ nhưng Chúa không đóng vai trò trần tục của một thẩm phán xử án: Tòa giải tội là tiếng nói của Tình Thương do Người Cha ban ân xá cho con cái của mình. Tôi chợt nhớ lời nhắn nhủ của Cha TU: Ta đến xưng tội “để được Chúa chạm vào đầu mình” như người cha xoa đầu đứa con lỗi phạm ủi an, vỗ về, nâng đỡ tinh thần…Thật vậy: “Con Người đến không phải để giết mà để cứu chữa” (Lc 9, 56) “cứu chuộc kẻ hư mất” (Lc 19, 10).

4- Một điều khác cũng đáng ghi nhận về ẩn dụ ‘củ hành’ của Cha GP: Tiền tài, danh vọng, sự nghiệp, v.v…chỉ là các lớp bên ngoài bao bọc cái lõi bên trong của củ hành. Y như lớp sơn bóng nhoáng bên ngoài của những thành đạt xã hội phù du phủ lấp yếu tính con người vĩnh cửu bên trong, khiến chúng ta mê lầm đồng hóa nhân cách thâm sâu, đích thực (personnalité profonde, authentique) với nhân vật xã hội, ngoại vi (personnage social, superficiel)…Những chiếc mặt nạ ‘nhân vật’ nầy sớm muộn gì cũng rơi xuống, phơi bày con người thực sự của chúng ta: Tự bản chất, tất cả chúng ta đều là con cái của Chúa, nhân đức là giá trị qua tôi luyện đời sống linh hướng của từng người, không thể chuyển cho người khác, cho dù là người cật ruột. Và đường lối Chúa đánh động tâm linh mỗi người chúng ta đều theo cách riêng của Chúa. Mà “Đường lối Chúa khôn dò khôn thấu- Les voies du Seigneur sont imprénétrables” như Cha TU thường nhắc nhở ACE chúng ta!

5- Dụ ngôn về ‘đứa con hoang đàng’ được Cha GP đặc biệt lưu ý ACE. Cha hướng dẫn tường tận cách đọc Phúc Âm qua các giai đoạn ‘đọc+tưởng tượng+đặt mình vào những nhân vật trong các dụ ngôn+cầu-nguyện-thinh-lặng-nghe-tiếng-Chúa’. Cha nhấn mạnh về vai trò và tương quan của người con cả đối với người cha và người em của mình. Cơ hồ như tôi bắt gặp lời tâm nguyện của Cha cảnh tỉnh ACE chúng ta:
“Lạy Chúa,
So sánh mình với người khác có khi con thấy người khác cần trở về hơn con. Dấu chỉ con không cần trở về là con còn trong Giáo Hội, con đi lễ, còn giữ các giới răn, có khi còn giữ chức vụ này nọ trong Giáo Hội. Không biết những lề thói con giữ đó có bảo đảm cho con rằng con gần Chúa không hay chỉ là tâm tình nô lệ. Biết đâu sự trở về của kẻ ở nhà lại cấp bách hơn kẻ đi xa. Nỗi đau khổ của cha vì đứa con thứ bỏ nhà đi chưa chắc đã nặng hơn nỗi khổ tâm do sự có mặt của người con trưởng…”
(Nguyễn Tầm Thường, Con biết con cần Chúa).

6- Câu chuyện Cha GP kể để minh họa một xác tín quả thực chấn động tâm can tôi: Trong một lần tĩnh tâm với Cha 3 năm trước đây, chị Tuyết - đang hiện diện trong hội trường- có dẫn cựu thiếu tá Chế, nguyên tiểu đoàn trưởng thuộc sư đoàn 18, một Phật tử, đến tham dự. Đây là người cựu chỉ huy trực tiếp của chồng chị, cố đại úy Huệ, người đã nấn ná ở lại trận tuyến chờ giải cứu thiếu tá Chế, bạn mình đang kẹt trong vòng vây của địch quân, để cùng di tản. Và vì thế, đại úy Huệ đã tử trận! 37 năm sau, Lời Chúa “không gì đáng quí hơn hy sinh mạng sống mình cho bạn” bắt đầu tác động trên tâm tưởng của Phật tử Chế…
Chuyện kể nầy khiến tôi hồi tưởng lại chặng đường gay go của ‘nhỏ bé thôi’ tôi đây đến với Chúa: 74 năm về trước, thằng-bé-tôi chào đời trong một gia đình ngoại đạo; chưa đầy tháng đã được gia đình ‘ký bán’ cho ông Trùm họ đạo Bạc Liêu, nhưng không qua nghi thức rửa tội. 25 năm sau đó, lúc bấy giờ là sinh viên đại học, nó được một linh mục trao tặng một quyển Thánh Kinh đầu tay với lời nguyện cầu “để có ngày Lời Chúa sẽ vang động trong tâm hồn hắn…”. 20 năm sau lời nguyện cầu đó, nó trở thành con cái Chúa qua bí tích Thanh Tẩy, sau khi nó ra tù cải tạo của CS…
Chuyện nó đến với Dòng PSTT cũng qua một quá trình cam go dài lâu: 45 năm sau lần tình cờ nó tiếp cận Đức Cha Dòng Phanxicô phụ trách trại cùi tại Di Linh, trên đường nó rời Đà Lạt đi du học… ‘Nhỏ bé thôi’ tôi nghiệm đúng niềm xác tín của Cha GP: Hạt giống, khi đã gieo, sớm muộn gì cũng sẽ nẩy mầm!
****

Trong một lần Tĩnh Tâm do Cha TU phụ trách giảng phòng, Cha có nhắn gửi ACE, nếu đã gạt hết được mọi vướng bận thường nhật để đến với Chúa và ACE thì khi ra về cũng chớ mang theo những vướng bận đó, mà hãy bỏ chúng lại trong vòng rào khuôn viên tu viện Dòng Tên Villa Saint-Martin, cho tâm hồn được thanh thản như lúc Tĩnh Tâm.
Lần nầy, trong Thánh Lễ bế mạc Cha kể ẩn dụ về một người tín hữu có một láng giềng vô thần. Ông muốn ‘cải huấn’ người nầy, để anh trở thành tín hữu. Ông kín đáo gửi tặng anh một quyển Thánh Kinh và để ý theo dõi phản ứng của anh. Sau một thời gian, tình cờ ông khám phá quyển Thánh Kinh kia bị vứt vào thùng rác! Bèn tới cật vấn anh hàng xóm xem anh đã đọc quyển Thánh Kinh chưa. Anh nầy bình tĩnh trả lời đã đọc hết từ đầu chí cuối. Ông vặn hỏi tại sao anh ta vứt quyển Thánh Kinh. Chẳng lẽ không có gì tác động trên anh sao. Anh trả lời đã đọc hết Thánh Kinh qua cách sống của ông chẳng chút gì đáng cho anh noi theo, nên anh chẳng thấy có gì cần biết về quyển Thánh Kinh mà ông gửi tặng anh nữa! Không hiểu ACE chúng ta có thấy nên cần xét lại cách sống Phúc Âm sao cho có thể thực sự loan truyền nhân đức chung quanh mình như Cha TU ao ước và nguyện cầu chăng? Ý niệm ‘tâm tình nô lệ’ do Cha Nguyễn Tầm Thường gợi ra lại lởn vởn trong đầu tôi…
Những lần Tĩnh Tâm trước đây, trước khi ghi danh tham dự, tôi thường tâm sự với nhóm thân hữu hình như tâm thần tôi chao đảo, có thể đưa tới cái gọi là khủng hoảng Niềm Tin. Mỗi lần tâm tư khủng hoảng như thế, Mùa Tĩnh Tâm tạo cho tôi cơ hội tìm lại được Niềm Vui trong không khí gia đình PSTT, với biết bao bàn tay ân cần, trìu mến nắm tay tôi truyền hơi ấm của Tình Huynh Đệ Yêu Thương Nhau. Những lần như vậy, tôi như được hồi lực, hồi sinh, vui sống vì tìm lại được sự An Bình. Nhưng lần Tĩnh Tâm nầy, tuy lòng rộn rã Vui Mừng, hầu như tôi không đem về được sự Bình An cho tâm hồn lắng động… Tôi linh cảm có cái gì đó ‘trục trặc’ giữa anh em thuộc nhóm thân hữu thân cận, lâu nay vẫn hết lòng trao đổi, chia sẻ mọi vui buồn, thăng trầm trong việc tập sống đạo… Hy vọng rằng tôi linh cảm không đúng, có lẽ do tôi quá mệt mỏi chăng. Biết đâu châm ngôn ‘thương nhau lắm, cắn nhau đau’ giờ đây lại chẳng ứng nghiệm trong nhóm anh em thân thương chúng tôi ? Tôi đang cố gắng thuyết phục mình như vậy!..
*****
C
ó lẽ đã đến lúc tôi nêu ra vài nhận định về những gì tôi ‘thu hoạch’ được để suy gẫm thêm sau lần Tĩnh Tâm cuối hè nầy, mong ACE cùng chia sẻ:

1- Chắc hẳn, cũng như tôi, ACE đã nhận ra sự khác biệt trong cách giảng cũng như cách đến với chúng ta của hai Cha GP và TU. Có ý kiến cho rằng Cha NNT rất ‘khó gần, khó thân’ hơn so với Cha ĐVT. Đương nhiên! Vì Cha TU đã sinh hoạt 24 năm với Dòng, còn Cha GP chỉ mới lần đầu giao tiếp với chúng ta, chưa đủ thời gian tiếp cận, tìm hiểu nhau. Ngoài ra, cá tính và nhân cách (tâm lý) của hai Cha nói riêng, của mỗi người trong chúng ta nói chung, đều khác nhau: Chúa dựng nên con người hàng tỉ tỉ tỉ tỉ…lần, nhưng mỗi tạo vật đều là một ấn bản độc nhất (unique) -như các dấu tay chúng ta- chẳng bao giờ trùng hợp. Do đó nếu đường lối Chúa đến với chúng ta ‘khôn dò khôn thấu’ thì đường lối của hai Cha -nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần- đem Lời Chúa đến với chúng ta chẳng thể nào y hệt nhau!
Tôi nghĩ rằng Cha GP đến với chúng ta lần nầy rất bổ ích về hai phương diện:
-Chúng ta được lay động cho tỉnh thức, cho ‘động não’ để khỏi ‘ngủ gục’ trên thói quen lười biếng ‘trả thuộc lòng’ những gì đã thu nhập và tích lũy từ các lớp dạy giáo lý. Cha GP rất thuần lý (rationnel).
-Chúng ta nhận rõ hơn giá trị tình cảm của Cha mình, một linh mục quá ‘dễ mến’: Cha TU Aimé của chúng ta rất mực yêu thương, gần gũi, nâng đỡ tinh thần các con chiên của mình, lúc nào cũng sẵn sàng san sẻ mọi nỗi vui buồn, sướng khổ với ACE chúng ta.Tình sao là tình!

2- Đã nhắc tới công đức của hai Cha thì không thể bỏ qua công sức của Ban Phục Vụ. Được sự đồng ý của tác giả, tôi xin phổ biến nội dung điện thư gửi cho Ban Báo Chí mà tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm và tin rằng ACE cũng đồng ý:
“Dù việc gì xảy ra trong lòng tôi, trong lòng các bạn, ba ngày tĩnh tâm cũng đã kết thúc rất tốt đẹp. Một điều mà chúng ta không thể phủ nhận là công lao của Ban Tổ Chức. Họ quá tuyệt vời trong bổn phận. Chu đáo từng chi tiết, đi sát với chương trình. Những gì các bạn đã làm cho chúng tôi, chúng tôi đã xin với Cha Trên Trời trả lại cho các bạn. Xin các bạn đừng khó chịu với những ý kiến, những bàn tán xôn xao. Vì ý kiến như những món ăn, mỗi người mỗi ý thích, chúng ta cũng không thể nói mọi người đều thích cái chúng ta thích. Các bạn nên hãnh diện và vui vẻ vì các bạn đã làm hết mình trong tình yêu anh em. Chúng tôi rất may mắn đã có một Ban Phục Vụ rất đẹp như các bạn” TX.

3- Gần đây, nhiều phong trào từ trong nước bung ra ngoài rầm rộ kêu gọi quyên góp tu bổ hoặc xây cất thêm nhà thờ cho quê hương, trong khi ở hải ngoại nhiều thánh đường đã phải ngưng hoạt động hoặc phát mãi vì thiếu tiền bảo trì. Bỏ qua chuyện lạm dụng hay khía cạnh chính trị của vấn đề, tôi nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta tự vấn: “Từ trên trời cao nhìn xuống, Chúa có băn khoăn vì biết bao tâm hồn đang lo âu chỉ vì đền thờ, hay Chúa vui vì vẫn thấy lấp lánh những vì sao trên những thánh đường đổ vỡ” (Nguyễn Tầm Thường, Viết trong tâm hồn)…
Nào phải đâu Giáo Hội chỉ tồn tại được ngày nào còn những kiến trúc nguy nga, đồ sộ, lộng lẫy khắp nơi!

4- Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài và ban cho chúng ta tự do nhận hay không nhận Ân Xá của Ngài với giá máu cứu chuộc nhân loại của Con Người. trên Thập Giá. Vì là hình ảnh của Chúa nên Người muốn chúng ta nên thánh để giống Người qua con đường tu đức. Chúng ta hoàn toàn tự do đi hay không đi theo con đường đó…Nhưng chúng ta “phải đi một mình”(a).
Con đường tu đức nầy, tuy ta có Tự Do đi hay không đi, nhưng khi đã quyết định đi thì ta chỉ đến được bến bờ Hạnh Phúc nếu được Ơn Cứu Độ của Chúa. Bởi đây là con đường “không thể một mình đi” (b). “Có những con người”(c) khác biệt thì cũng “Có những con đường” (d) khác nhau cho Chúa đến với chúng ta…(a+b+c+d: Nguyễn Tầm Thường, Đường đi một mình).
Vâng, Chúa ngự trên trời cao, luôn thương xót ban Hồng Ân Xá Tội cho con cái Người. Nhưng chúng ta phải cầu xin và lãnh nhận, bởi vì “hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho” (Lc 11,9) !

Thôn trang Rêu-Phong, cuối hạ 2009
-Lê Tấn Lộc-


























Friday, July 24, 2009

VỀ NHỮNG NGƯỜI BẠN...





Tản mạnVề những người bạn…Mấy tháng liền, bỗng dưng tôi trở chứng rơi về lại tâm trạng “bời rời”, chán chường đã khiến tôi gần như liệt tay không cầm nổi bút, cách đây 17 năm, lúc tôi còn viết bài bằng bút lông, cho đỡ chai mấy ngón tay. Lúc bấy giờ chẳng rõ vì sao, nhưng kết quả là tôi ngưng viết cũng đến hơn 10 năm…Phải chăng nhờ sắm máy điện toán -cách đây vài năm thôi, quá muộn màng- mà tôi viết trở lại được chăng? Có phần đúng. Nhưng tôi nghĩ đa phần là do tôi chứng kiến những điều quá “xốn mắt” ở quê nhà qua lần duy nhất quay về quê cha đất tổ 6 năm trước đây, sau 28 năm biệt xứ…
Rồi bỗng nhiên tôi lại mất cảm hứng, mất hăng say nữa! Tuổi tác? Sức khỏe? Hay còn nguyên do gì khác? Khủng hoảng niềm tin về mọi thứ, kể cả niềm tin vào chính mình…chăng?
Rồi đột nhiên hôm nay tôi lại ngồi vào máy bắt đầu gõ, gõ chưa có chủ đề nhưng cảm thấy có nhu cầu gõ! Một vài “biến cố” dồn dập đánh động tâm khảm tôi, kéo tôi ra khỏi trạng thái ù lì, dật-dờ-mê-muội (léthargique) nhất thời …
*
-Anh Lộc hả? Biết ai gọi anh không?
-Nghe giọng quen quen, nhưng sao hơi đớt đớt vậy?
-Quâng đây. Nguyễn Viết Quâng-Collège de Vĩnh Long…
-Hồ Trường An! Trời ơi! Sao bặt tăm hơn chục năm vậy? Lặn kỹ dữ!
-Anh ơi! Tôi bị tai biến mạch não…
-Trời đất! Hồi nào? Sao chẳng ai cho tôi hay hết vậy?
-Cách đây chừng sáu tháng. Tôi từ San Jose về nhà, đột nhiên ngã quị. May mà trở tay kịp, đưa vào bệnh viện cấp cứu. Nếu không…
-Bây giờ tình trạng bạn sao rồi?
-Tôi còn ngồi xe lăn nhưng có thể chống gậy đi chút đỉnh. Sắp tới tôi sẽ trở lại Trung Tâm Tái Thích Ứng (Centre de Réadaptation) luyện tập thêm đi đứng và “học lại” cách sử dụng máy điện toán, tạo cơ hội cho trí óc làm việc để trí nhớ được vãn hồi lần lần. Nhân tiện “tập lại” cách phát âm cho đỡ đớt đát…
-Bạn sẽ tiếp tục sáng tác?
-Phải. Anh biết không, tai nạn xảy ra khiến tôi quên tuốt luốt một số lớn sáng tác dở dang và bây giờ không cách chi tôi khôi phục chúng được nữa. Dù tình trạng sức khỏe chưa mấy khả quan, tôi cảm thấy cầm viết trở lại vẫn còn là nhu cầu cấp thiết đối với tôi…

HTA tiếp tục kể những gian truân, khốn đốn trong thời gian nằm điều trị. Bernard, “chồng” của bạn tôi bỏ phế mọi công việc ở thư viện, ngày đêm túc trực bên “vợ”, lo lắng đến độ bị stress, gây rối loạn đường tiêu hóa, phải nằm bệnh viện mấy tháng trời. Cả hai “vợ chồng” nằm liệt giường cùng lúc! Nghe bạn tâm sự, tôi động tâm đến thốn tim. Và mọi định kiến tiêu cực của tôi lâu nay về những người đồng tính luyến ái bỗng nhiên tan biến hết. Chưa chắc những cặp vợ chồng “hétéro” thường được coi như “bình thường” đối xử với nhau trọn tình trọn nghĩa hơn đôi bạn “homo” Bernard-An, thường bị dán nhãn “bất thường” nầy…

HTA là bạn cùng lớp với em tôi, Lê Tấn Kiệt (Kiệt Tấn). Cả hai đều định cư tại Pháp, KT ở Bagnolet, ngoại ô Paris, HTA, Troyes. Tuy là bạn thân từ thuở còn học trung học, những lúc sau nầy hai đứa ít khi liên lạc với nhau, nếu không muốn nói là mất hẳn mọi giao tiếp.
Tôi trên chúng hai lớp. HTA đương nhiên coi tôi như người anh. Và lúc còn chung trường HTA rất quí mến tôi. Sau nầy cũng thế. Nhắc về thuở ấy, có lần HTA viết:
“Anh lại có số đào hoa . Hồi học ở Cao Tiểu Vĩnh Long, biết bao nữ sinh lắm phen thổn thức con tim và say mê anh.(…) Anh (…) hát giọng chánh bằng một giọng trầm ấm và vang lộng.(…) Tôi mê giọng hát của anh Lê Tấn Lộc có một, nhưng tôi mê cái kiến thức triết học của anh tới mười. Tôi nghĩ anh có một tâm hồn nghệ sĩ, một đầu óc phóng khoáng, một kẻ chống lề lối cứng ngắc, chống những giáo điều khắc nghiệt khô khan, một anticonformiste(…)
Vào năm 1958, tôi có viết cuốn tiểu thuyết đầu tay mô tả một anh chàng đồng tính luyến ái mới vào tuổi hoa niên. Tôi có nhờ anh Lộc góp ý kiến, nhứt là ở chót đưa anh chàng sống lại cuộc đời bình thường như bao nhiêu đàn ông dị tính luyến ái khác. Anh Lộc sẵn sàng nhuận sắc dùm tôi trên mười chương, nhưng ở chương chót, ảnh lắc đầu (…)Tuy nói vậy, nhưng anh Lộc vẫn giúp tôi sửa chương chót. Quyển sách hoàn thành.
(…) Về sau, tôi được biết, khi còn ở trại cải tạo, anh Lê Tấn Lộc sáng tác nhạc.(…) Anh viết bút ký, phóng sự rất hay, óc quan sát tinh nhuệ. Anh còn viết truyện ngắn, giọng văn dí dỏm, ngay cả những cảnh khổ mà văn anh như những tia nắng reo cười”.

Nghĩ cũng lạ, HTA và tôi cũng khá nặng tình nghĩa. Vậy mà lại ít khi gặp được nhau, ngoại trừ lúc còn chung trường ở Vĩnh Long và lúc bạn tôi qua Mỹ Tho tiếp tục học trình ở trường Nguyễn Đình Chiểu, cùng trọ một nơi với KT. Lúc bấy giờ tôi đã lên trường Jean-Jacques Rousseau (Sàigòn) nhưng vẫn lái Vespa xuống thăm hai đứa.
Mãi 14 năm sau, tôi mới gặp lại HTA tại Bình Dương. Lúc bấy giờ HTA là Chuẩn úy Nguyễn Viết Quâng và tôi đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường Trung học Trịnh Hoài Đức. Chỉ gặp một lần duy nhứt trong một phiên họp tại Tiểu khu Bình Dương, năm 1970. Rồi bặt tăm nhau luôn…
Cho tới năm 1989, qua Paris tôi lại lỡ mất cơ hội họp mặt với HTA vì đêm ấy KT và tôi “quá chén lạc hoan” ngã ngựa dọc đường, không đến được điểm hẹn! Rồi 9 năm sau, HTA lại lỗi hẹn sang Canada ra mắt sách, trong khi các bạn đồng môn và tôi chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ rất chu đáo. Lý do: HTA bị bọn bất lương xô té bị thương, cướp giựt xách tay, giấy tờ tùy thân, gồm passeport, vé máy bay; dĩ nhiên tiền bạc cũng mất trọn!
Sau đó, biết bao lần sang Paris mà không lần nào tôi có dịp giáp mặt bạn tôi. Để rồi…giờ đây được bạn tôi báo tin suýt vong mạng vì đứt gân máu! Tôi cũng đành tự an ủi là HTA vẫn may mắn chưa dứt nợ trần. Hy vọng hai đứa còn có cơ hội tay bắt mặt mừng nhau trước khi vĩnh viễn xuôi tay! Nhưng xem ra cũng rất vất vả. Chẳng những HTA đi đứng khó khăn mà khả năng đi đây đi đó của tôi giờ đây cũng rất hạn chế bởi đã bức khá xa tuổi “thất thập cổ lai hi”. Tôi nghĩ rằng bạn văn cũng như thân hữu khắp nơi, không ai có thể phủ nhận nhiệt tâm đóng góp công sức cho nền văn học hải ngoại, cũng như sự tận tình khuyến khích các “mầm non văn nghệ” hăng say viết lách của HTA.
Ước mong bạn tôi sớm bình phục, tiếp nối sự nghiệp văn chương của mình vốn đã rất phong phú và thành đạt từ lâu. Một người bạn lâu rồi không gặp, tái xuất hiện không báo trước, suýt chút đã hóa ra người thiên cổ!..
**-Quâng có biết Huỳnh Quang Nhựt mất rồi chưa?
-Trời Phật! Mất hồi nào vậy anh? Mà tại sao chết?
-Cũng chút năm rồi. Bệnh suy đường hô hấp (emphysème pulmonaire). Lâu nay Nhựt thường trăn trối với KT và tôi rằng tuy luôn cười giỡn với anh em, Nhựt vẫn có thể ra đi bất cứ lúc nào. Đi đâu Nhựt cũng mang theo một lô thuốc men và ôm kè kè bình dưỡng khí! Tôi gặp Nhựt lần cuối tại San Jose, năm 2005. Tội nghiệp, tuy tình cảnh khó khăn vậy mà Nhựt cũng ráng lái xe, có vợ theo kèm -dĩ nhiên!- từ Sacramento xuống gặp Nguyễn Đồng Danh -Danh “trại gà”- và tôi. Quâng biết đó, tụi nầy năm đứa Thứ-Danh-Lộc-Nhựt-Kiệt xưa kia hỗn danh “ngũ hổ” đại náo vũ trường và …tình trường! Bây giờ một con đã lìa bầy, mấy con còn lại cũng đã ít nhiều sứt càng gẫy gọng: Cánh tay Thứ xưa kia từng vung gươm thiêng, “giương cung bắn ra bốn phương trời để nói lên ý chí tang bồng hồ thỉ” -như bạn đã viết- tại vũ đình Trường Võ Bị Quốc Gia, nay đã gần như tê cứng vì thấp khớp, hậu quả của mười mấy năm ngồi tù CS. Nhưng tinh thần và lập trường quốc gia của Thứ luôn vững chắc, minh bạch, càng lúc càng bền vững, càng lúc càng rõ rệt, dứt khoát với CS. Danh, thoát chết trong gang tấc sau một cơn đau tim đột biến, giờ cũng ngất ngư con tàu đi nhưng chẳng bao giờ thèm chơi trò tâng bốc, xu nịnh các quan kách mệnh an nam ta “kiếm chút cháo”, rất thịnh hành trong đám việt kiều kéo nhau về VN “vô tư” ăn chơi phè phỡn. Kiệt thì Quâng đã quá rõ, vào ra bệnh viện tâm lý đều chi. Tôi thì, như Quâng biết, tưởng đã đi chuyến tàu suốt sau cơn giải phẫu tim cách đây hơn 14 năm…

Nói tới HTA, KT mà không nhắc Huỳnh Quang Nhựt là một thiếu sót đáng kể. Bởi lẽ bộ ba nầy thuở còn mài đủng quần trên băng ghế học đường đã nổi máu…văn nghệ! Hãy nghe HTA kể về người bạn vừa nằm xuống:
Hồi học ở Cao Tiểu Vĩnh Long, nó học trên tôi một lớp. Khi học Triết ở Sàigòn (và sau đó ở Yersin-Đà Lạt), nó làm thơ rất nhiều, tròm trèm 200 bài. Nó lấy bút hiệu là Nguyễn Triết Vũ. Triết là môn Triết nó đeo đuổi. Vũ là cô vũ nữ. Thuở đó, Nhựt say mê một cô vũ nữ nên thơ nó có hồn lắm. Càng lớn nó càng đẹp trai giống giống Tony Curtis. Thơ của nó được tôi và Kiệt Tấn đọc hoài hoài. Sau đó Nhựt học Dược Khoa với tôi. Nó được tốt nghiệp, lao vào ngành doanh thương, giàu sụ. Tôi học tới năm thứ hai thì trượt vỏ chuối, phải đi lính với số lương tiền lính tính liền
”.
Thố tử hồ bi, nói chi tới một trong năm con hổ quị ngã! Có điều Nhựt vĩnh viễn ra đi mà mãi nửa năm sau tình cờ chúng tôi mới được biết. Khi sống trên đất tạm dung, “cá thòi lòi” -hỗn danh của Nhựt, vì Nhựt bị bướu cổ, mắt lồi- thường mai danh ẩn tích. Có lẽ vì thế tang quyến mặc nhiên muốn bạn bè thân thương coi như bạn tôi “âm thầm qua đời, tội ác còn vương mang” chăng?

Khung trời thơ mộng xứ anh đào Đà Lạt đầy ắp kỷ niệm khó quên giữa Nhựt, Kiệt, Thứ, Trinh, HNBiên, Lưu, tôi…với Tú-nữ-bá-tước-chân-trần, nửa thế kỷ về trước, giờ đây mãi mãi vắng bóng hai cánh chim thân thương: Trinh, năm 1961, tức tửi gẫy cánh trong một phi vụ vào độ sức sống đang lên; Nhựt, năm 2008, ấm ức lìa đời vì thiếu dưỡng khí cần thiết cho hơi thở trợ lực chuyển máu luân lưu trong cơ thể, hụt hẫng, chao đảo rơi rụng xuống vực sâu đỉnh Lâm Biên…
***
Đ
ã nhắc tới Đà Lạt không thể không nghĩ tới hai khuôn mặt rất “văn(học)nghệ (thuật) của Viện Đại Học Đà Lạt thời xa xưa, cho tới nay vẫn còn đậm nét trong ký ức ngày càng hao gầy của tôi, “chàng” thư sinh năm nào còn ngơ ngơ ngáo ngáo rời Sàigòn lên chốn muôn thuở mù sương, với đồi non thung lủng chập chùng vây quanh thành phố, với rừng thông rì rào, với suối reo róc rách, với thác đổ cuồng nộ không ngưng nghỉ: Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Xuân Hoàng!

Hai mươi chín năm trước, ra trại tù “cải tạo”, tôi gặp lại Biên và Hoàng tại toà soạn báo Tin Sáng, nơi trú-ẩn-giả-dạng-qua-ải của một số lớn đồng-nghiệp-mất(nghề)-dạy(học) của tôi, để tránh bị tống đi “kinh tế mới”. Hai đứa bạn xưa ráo riết “ vận động” cho một tay có “lý lịch xấu” như tôi được chen chân vào tổ “thầy cò” (sửa lỗi bản vỗ). Tại đây, tôi giáp mặt chủ bút Hồ Ngọc Nhuận: Năm 1961, Nhuận cùng trung đội sinh viên khóa 14 SQTB Thủ Đức với tôi. Thuở ấy, hai chúng tôi cùng chung một giường hai tầng, thường tâm sự; chẳng có dấu hiệu nào cho tôi thấy HNN “thân cộng”. Trước đây tôi vẫn nghĩ Nhuận công giáo vì ở trong Phong trào Thanh-Sinh-Công (JEC). Cho nên khi Nhuận cải chính và xác nhận với tôi anh là đảng viên cộng sản từ lâu, chứ không phải mới sau nầy, tôi…sững sờ giây lâu! Rõ ràng các bạn tôi và tôi quá “ngây ngô” về việc cài người của Việt Cộng!
Cũng tại đây tôi chạm mặt khá nhiều đồng nghiệp cũ, nhưng họ “bơ đi”, làm như không hề quen biết. Kể cà nhà-văn-nhớn từng dõng dạc tuyên ngôn: viết là… “thách-thức-thần-linh”, là …“đâm-nổ-mặt-trời” HPA! Cũng dễ hiểu thôi. Sợ vạ lây “liên hệ” với phần tử “phản động”!
Duy có Biên và Hoàng là ngang nhiên tiếp xúc và “giúp đỡ” tôi khi bị “lãnh đạo” gọi lên “làm việc”…Cho đến lúc tôi vượt trùng dương tìm đất sống, liên lạc với hai bạn tôi bị gián đoạn một thời gian dài…

Hai lần gặp lại NXHoàng tại Montréal, một lần ở Westminster, trước năm 2000, nhưng không lần nào tôi có dịp gặp riêng Hoàng. Bạn tôi luôn bận rộn và bị vây khổn! Tôi nghĩ Hoàng cũng tiếc tiếc như tôi, vì thuở còn là “đồng nghiệp-đồng-nghề-đồng-ngành”, cùng với Tạ Ký, Tôn Thất Trung Nghĩa (về sau có Kiệt Tấn gia nhập), chúng tôi rất thân thiết. Có lúc tôi nghĩ biết đâu vì tôi không thuộc loại “đồng-nghiệp-làng-văn-chuyên-nghiệp” mà Hoàng không tiện giao du với tôi như xưa chăng? Có thể tôi nghĩ sai nên chưa vội kết luận nhân tình thế thái là…chuyện dài nhân dân tự vệ!
Cho đến lúc, nhân một bài viết về vài kỷ niệm vui buồn liên quan đến tiểu thuyết mới, do HNBiên -vừa từ VN sang định cư ở tiểu bang Utah- đánh máy giúp rồi chuyển cho NXH đăng trên Văn, tôi mới có dịp liên lạc trở lại với Hoàng. Lần đó Hoàng nói úp úp mở mở với tôi rằng HNBiên đau nặng mà không muốn cho bạn bè biết. Tôi điện thoại viễn liên cho Biên nhưng Biên cũng không muốn cho tôi biết bịnh trạng. Cũng lạ! Ngày xưa cùng trọ ở đường Phan Đình Phùng Đà Lạt, hai đứa thân thích như ruột thịt và chẳng có điều gì giấu nhau. Hay bạn tôi cũng ở trong tình trạng “không tiện giao du” với tôi, như NXH? Có thể tôi lại nghĩ sai nữa...

Rốt cuộc rồi tôi cũng biết được cả hai đứa bạn cùng lò Đại Học Sư Phạm đều có vấn đề sức khỏe khá trầm trọng, nhân dịp tôi sang San Jose năm 2005 thăm Danh “trại gà”, cũng vừa thoát hiểm sau cơn heart attack! Lần đó tôi không gặp Hoàng, đang lu bu “tẩn liệm” tờ Mercury News. Tình cờ, hết sức tình cờ, tôi gặp Biên nhờ bạn Nguyễn Đồng -cũng lò ĐHSP- cho số phone. Biên rời Utah mà tôi chẳng hề hay biết. Cả Hoàng cũng không rõ…

Biên lái V.U.S. đến đón tôi tới nhà riêng, dọc đường ghé hiệu bán bánh mì Pháp mua croissant au beurre, confiture, bánh mì baguette v.v…của Tây chính cống. Bạn tôi vẫn không thay đổi goût ưa điểm tâm “à la française” như thuở hay ghé La Pagode, đường Tự Do. Cũng có thể Biên nghĩ thằng bạn “parigo” xa xưa của mình muốn nhớ lại thời hai đứa chia tay ở Đà Lạt, tôi đi “Tây” bỏ Biên ở lại một mình trên gác trọ Phan Đình Phùng đầp ắp kỷ niệm buồn vui đều có nhau, cùng chia sẻ...Hoài niệm về “la comtesse-aux- pieds-nus” chỉ một đêm duy nhất ghé qua gác trọ cùng tôi nghe nhạc thính phòng, trong lúc Biên đi xem nữ danh cầm Supitra trình tấu piano, vẫn còn sống động trong tâm tư hai thằng giờ đây đã hom hem, lụ khụ nhưng chưa đến độ nghễnh ngãng!
Khó khăn lắm tôi mới nhìn ra HNB dưới lớp áo “cư sĩ” đạo Phật, râu chòm lất phất trông rất…“thiền sư”! Bạn tôi vẫn giữ nguyên vẹn sở thích ăn mặc khác thường thiên hạ…Thiếu chút tôi đã khoanh tay cúi đầu … “Bạch Thầy”!
Cách trang hoàng, bày biện nội thất của Biên gợi nhớ cách trang trí căn gác Phan Đình Phùng-Đà Lạt, 1959. Rất điệu nghệ, tinh túy! Cái mới lạ với tôi là giàn computers quá chuyên nghiệp trong phòng làm việc. Tôi nghĩ, trừ giờ ăn uống, tắm giặt, nghỉ ngơi, Biên ít khi rời giàn máy, tay luôn di động trên bàn phiếm. Dám ăn ngủ tại chỗ lắm! Biên chủ trương nhà xuất bản Trình Bày từ thuở còn ở VN và Web Tiền Vệ hiện nay, nên hầu như không lúc nào rỗi rảnh.
Vài năm trước Biên bị tai biến mạch não, rất may chỉ một phía trên mặt bị tê cứng, nhưng mặt mũi không bị “xiêu vẹo”! Lúc bấy giờ Biên phụ trách một tờ báo cho Đại học ở Utah. Sau “tai nạn”, Biên buồn tình dời nhà qua San Jose.
Câu chuyện trao đổi giữa hai thằng vẫn đậm tình như xưa. Nhưng hai đứa cố gắng né tránh các vấn đề liên quan tới chính trị và văn học. Cho khỏi sanh giặc! Về điểm nầy, tôi cũng e ngại như đã e ngại với NXH (và sau nầy với cả KT, em tôi): Tôi tự cảm thấy mình không thuộc giới cầm bút chuyên nghiệp, không muốn các bạn mình “lúng túng” trong giao tiếp với thế giới làng văn …vì mình!
Thế mà cũng không tránh khỏi buồn lòng nhau. Một vài lần chuyển tiếp bài vở của thân hữu cho Biên “coi chơi” (những bài vạch trần những chuyện quá lố ở quê nhà và trong hàng ngũ Việt kiều “bưng bô” cho cán bộ CS), bạn tôi “lưu ý” tôi nên ngưng gửi. Từ đó, chẳng những tôi ngưng gửi mà ngưng liên lạc luôn, tránh cho bạn tôi khó xử trí! Nhưng cho dù ai có nói xa gần gì về HNB thì…tôi khẳng định bạn tôi không thể nào là…cộng sản. Cho dù trước đây Biên thường hay đeo ảnh Che Guevara trước ngực, tôi vẫn cứ xem đó cũng chỉ là một hình thức lập dị, thách thức, chọc đời cho vui vậy thôi! Ngay từ lúc còn là sinh viên ĐHSP, Biên đã để lộ phong cách “khác thường” như thế rồi!

Với NXH cũng thế. Ngoài lãnh vực văn chương, Hoàng còn là một giáo sư triết có tầm vóc. Chắc chắn không thể là loại giáo sư “chết” lý như các “đấng”chuyên-viên-mị-dân Lý Chánh Trung và “ngài” cực kỳ đểu cáng Nguyễn Trọng Văn. Và cũng chẳng xỏ lá ba que như đám đồ tể Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân luôn trịch thượng chối leo lẻo đã tàn sát đồng bào hôm Tết Mậu Thân! Cho dù ít nhiều có liên hệ với gia đình “kách mạng”, tôi tin NXH không thể là loại lợi dụng thời cơ, theo đóm ăn tàn, trở mặt hại bạn để vinh thân phì gia…Hoàng cũng chẳng thể là “đặc công nằm vùng” như một số người ác ý chụp mũ.
Mấy lúc sau nầy, tôi vô cùng xót xa đọc điện thư của NXH: Toàn những lời trối trăn, chán chường. Tôi gạn hỏi nguyên do, Hoàng chỉ võn vẹn cho biết “NXH chỉ còn chờ ra đi thôi!”. Cho tới nay, tôi chỉ được KT cho biết lờ mờ là Hoàng mổ mắt gặp problème về thị giác…Chẳng lẽ NXH bô trai, cường tráng (viril) trước đây -như Casanova tái sinh- giờ đã trở thành Lục Vân Tiên hay Moshe Dayan? Tai hại bạc triệu!..
Mới đây, đọc những giòng chữ nầy, tôi càng chua xót, nhưng cùng lúc, rất nghịch lý, tôi cảm thấy vui vui vì nghĩ là bạn tôi chưa thể lìa đời…
Nhưng người làm tôi‘shock’ khi gặp lại là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng của tạp chí Văn ở San Jose. Anh vẫn duyên dáng nhưng tôi không nhận ra anh vì mái tóc anh bạc trắng, trắng như tuyết. Khi nhà văn Mai Thảo còn sinh thời, ông vẫn gọi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng là Don Juan của Việt Nam. Don Juan nay đầu tóc bạc phơ, rất siêu thoát. Anh cho biết bị ngã ở Pháp, gẫy bốn cái ba sườn vì đêm trước nhậu múc mùa lệ thủy với nhà văn Kiệt Tấn, hôm sau đang đứng trong tiệm sách thì ngã cái rầm”. (Hoàng Dược Thảo, Tân Văn, số 23, tháng 6/2009).

“Cảm xúc còn, đam mê còn là sức sống còn vươn lên”, tôi đã viết như vậy trong một lần toan tính…tự tử trong trại tù cải tạo. Với NXH, tôi muốn nhắn gửi: Còn uống được rượu, còn thích thú uống, uống còn thấy “đã”, cho dù có ngã ngựa gẫy vài cái ba sườn (chuyện nhỏ!) cũng vẫn còn có thể ngồi dậy, đứng lên cười khanh khách: Anh chưa chết đâu em!
****
Cũng trong chuyến thăm thú bạn bè nầy, tôi dọ hỏi khắp nơi để tìm gặp Nguyễn Đình Toàn mà tôi rất nôn nóng muốn choàng ôm sau 30 năm mất dấu. Vì tôi nghe rất nhiều chuyện về bạn tôi nhiều lần vào tù ra khám CS cùng với Duy Trác, bạn đồng tù, đồng nhà giam với tôi tại trại cải tạo Hàm Tân Z30D …
Ngày 2 tháng 5/1975, Toàn và nhà văn “đâm nổ mặt trời” ghé “vấn an” tôi, sau khi bị “kách mệnh” trục xuất khỏi nhà mình trong Làng Báo Chí, do VNCH cấp. Lúc bấy giờ tôi cười mỉa, “chêm” hai nhà văn nhớn:
-Mới đây, khi Sàigòn chưa lọt vào tay VC, hai bạn theo đoàn biểu tình do Hồ Ngọc Nhuận xách động xuống đường làm ký giả xách bị chống gậy đi ăn mày. Bây giờ thì, nhờ kách mệnh “rải fóng” hai bạn mới thực sự “tròn mộng ước”, dắt díu nhau chống gậy xách bị ngửa tay kêu xin ông đi qua bà đi lại…Thế nhưng, vượt thoát địa ngục sang được miền đất tự do, tuy đau lòng nghe tin Toàn bị CS bắt đi bắt lại, hành hạ, khủng bố chí cốt, lòng tôi nhẹ nhỏm nhận thấy bạn tôi sớm thức tỉnh trong khi anh bạn kiên-trì-thách-thức-thần-linh kia thì…chưa thấy có dấu hiệu nào rõ nét cho tôi được an lòng đôi chút “người” đã thấm đòn “ma giáo” mập mờ đánh lận con đen của nhóm tự nhận là thành phần thứ ba -danh từ bình dân gọi là thành phần “chàng hảng”, cho tới nay vẫn chưa chịu nhận ra mình chỉ…“ăn ké” theo MTGPMN cầm c… chó đái cho CSBVthôi!

Gặp nhau nơi quán cà phê trong khu Sàigòn Nhỏ, tôi nhận thấy, không như Hoàng và Biên, dáng dấp bên ngoài của Toàn và người phối ngẫu không thay đổi nhiều. Tôi hơi bỡ ngỡ cảm thấy sự vồn vã của tôi hình như khiến bạn tôi không được thoải mái lắm. Và tự thấy mình vô duyên.
Có lẽ -tôi lại suy diễn- bạn tôi “không tiện” giao du với người bạn cũ không có sau lưng “quá trình tranh đấu” hay “sự nghiệp văn chương” như mình chăng? Một lần nữa, tôi lại nghĩ rằng biết đâu tôi chẳng nghĩ sai…
*****
B
ạn bè cũ ở Sàigòn ngày xưa nay chẳng còn bao nhiêu, trên xứ người cũng như nơi quê nhà. Tôi tự nhủ phải cố gắng nén cơn buồn lòng để gìn giữ tối đa tình bạn. Nhưng…sức người có hạn, tôi chưa phải là thánh, bụi hồng trần vẫn còn vương mang. Mấy lần định sang Saint-Paul (Minnesota) thăm vợ chồng anh bạn nhạc sĩ thời danh họ C. -bạn thân với cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền- vốn có mối thâm giao từ lâu với KT và tôi, trước 1975. Nhưng tôi chùn chân vì… nghe đâu bạn tôi có lần muốn hạ cờ vàng ba sọc đỏ, thượng cờ đỏ sao vàng để rước phường hát-chèo-hát-chống-hát-cổ-hát-họng gì gì đó từ Hà Nội sang, bị các hội đoàn kịch liệt phản đối! Giao dịch với nhà thơ nhớn chuyên viên sì-lát/sì-lát/sì lát, chặt câu thơ ra từng khúc/từng khúc/từng khúc, cũng được đi, dù trước đây bạn tôi coi tay nầy không ra gì, không đáng kể (quantités négligeables). Đằng nầy…
Ngoài ra, nghe đâu anh bạn nhạc sĩ của tôi còn hết lời ca tụng “bại” tướng “chạy” râu mép Nguyễn-Cao-Kỳ-Nhông và sẵn sàng suy tôn “người” làm lãnh tụ anh minh! (Cụ “chơi” thế nầy thì nhà cháu còn mong chi hoài cảm được chút hương xưa của thu vàng!). Đó là chưa kể chàng nhạc sĩ nhà ta nổi tiếng cực kỳ khó tính. Không khéo tôi dám mang đầu máu ra về lắm! Tội vạ gì! Đành chịu thua, bỏ số de thôi!
Chợt nhớ lời một bạn hiền: Chớ buồn phiền thiên hạ thay đổi. Mình cũng đổi thay mà. Tất cả đều Vô Thường! Thôi thì…
Cũng đành thôi cũng đã đành!
Nghĩ cho cùng, còn gặp lại được bạn cũ đã là quá may mắn và…ít nhiều cũng đã mát dạ lắm rồi. Vẫn hơn phải chạm mặt hằng ngày, ngoài ý muốn, với đám điếu đóm cán bộ Cổng(tư)Sản của thiên hạ! Thế nhưng, thật bất ngờ, một vài mối sơ giao (hay thâm giao mà tôi lạc mất hoài niệm, cũng chẳng thể nhớ hết) bỗng nhiên đem đến cho tôi nhiều ủi an ở tuổi già thất thế nơi xứ người… “Ấm lòng chiến sĩ” xiết bao!
Ngày tôi ra tù cải tạo…từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ…Những người tình mà tôi yên chí lớn, cả tin vào lời rên rỉ thê thiết là thiếu tôi họ sẽ…chết liền!!!
Đột nhiên, một buổi sáng đẹp trời, người bạn xa xưa chỉ một lần đối mặt nửa thế kỷ về trước tình cờ “tìm ra” được người bạn sinh viên năm xưa mà mình đã có duyên hội ngộ chớp nhoáng trong đêm thanh vắng, cùng lặng im nghe nhạc cổ điển Tây phương trên gác trọ Phan Đình Phùng (Đà Lạt), tuyệt nhiên không có mục ngày đó có em đi nhẹ (hay đi nặng) vào đời chi hết. Người sinh viên sau đó âm thầm ra đi biền biệt suốt…50 năm!
Nhưng rồi câu chuyện trên điện thoại viễn liên đã nối lại nhịp cầu tri âm giữa hai người bạn sơ giao, nay trở thành thâm giao. Thú thật, lúc nghe tiếng bạn cách xa những 3 múi giờ, tôi bàng hoàng ngớ ngẩn giây lâu…Không chờ mà gặp, không hẹn lại đến! Tuổi đời chồng chất xấp xỉ tôi, bạn tôi quả thực quá can đảm vượt 7000 cây số đến tận căn nhà ngoại ô “Thôn Trang Rêu Phong” tìm gặp người-bạn-cố-tri-chỉ-một-lần-gặp! Người tình thì…bỏ đi. Người bạn lại… ở lại, chí cốt tìm ta! Không ngạc-nhiên-thích-thú sao?


Hai mươi mốt ngày dìu chân bạn dạo khắp thôn trang, ôn kỷ niệm rất hiếm hoi nhưng khó quên thời sinh viên, chúng tôi bỗng nhiên như trở thành hai thiếu niên tung tăng đùa giỡn, nghịch ngợm chơi trò cúp cua trốn học! Chỉ tay về hướng một trũng sâu cỏ cây um tùm, ven sông, tôi ghẹo bạn:
-Nếu ngày trước, thay vì cùng bạn giam mình trên căn gác, nghiêm trang thưởng thức nhạc thính phòng, tôi hẹn Nữ-bá-tước-chân-trần ra Hồ Than Thở mà ven bờ có bụi rậm như thế nầy để trốn học (faire l’école buisonnière) thì chưa chắc giờ nầy mình còn là…bạn tốt với nhau đâu!
Bạn tôi cười ngất. Tôi cùng cười theo, tin rằng mình đã nói lên điều thực sự nghĩ ra.
Rồi khách và chủ lững thững quay về căn nhà ngoại ô khuất dạng sau rặng anh đào trổ bông hường đặc gật. Hình như tôi nghe bạn tôi thì thầm:
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ…
Hình hài, dáng dấp chúng tôi dĩ nhiên mang dấu vết tàn phai của thời gian, nhưng hình như tâm hồn thì không. Cổ nhân đã chẳng thừa nhận: Tim bao giờ có vết nhăn (Le coeur n’a point de rides) sao?
******
T
ưởng rằng không còn gì trong giao tiếp của tôi với tha nhân có thể gây ngạc nhiên cho tôi nữa. Nhưng mấy ai học được chữ ngờ: vô số giao tiếp xa xưa ở quê nhà mà tôi chẳng thể nào chờ đợi còn nhớ đến “ông đồ già kiêm lính yếu” lưu lạc trên đất khách nữa… Bỗng dưng, không báo trước, một điện thư đáp xuống mail-box của tôi:
“Em xin tự giới thiệu là học trò của thầy , môn triết tại trường Phục Hưng 73-74 , nhân đi dạo trên web tìm dấu tích trường xưa vô tình gặp được trang blog của thầy rất vui vì nhìn được hình ảnh của thầy sau hơn 30 năm .
Nếu được sự đồng ý của thầy, em xin phép được đăng những bài viết trong blog của thầy vào trang web của đại học khoa học Sài Gòn.
(…)Nhờ có 1 ký ức tương đối khá nên những lời nói về Paris của thầy trong trí tưởng tượng của một cậu học sinh trung học em đã được nhìn bằng hiện thực , chỉ tiếc rằng lúc đó rời bỏ tất cả ra đi với 2 bàn tay trắng và phải bắt đầu một cuộc đời không định hướng nên cảm xúc đó không có được lâu . Nên cũng hiểu thầy có nhiều kỷ niệm với Paris .Em cũng không nghĩ rằng sẽ liên lạc được với thầy , chỉ vì chiều chủ nhật buồn chui vào google gõ bâng quơ " trường Phục Hưng đường Lê ngô Cát " hy vọng có một ai đó tạo 1 website Phục Hưng , và tìm được blog cuả thầy cùng với hình ảnh nên mới mail thử xem . Em đã đăng bài
Lệ đá xanh và sửa lại hình cô gái khóc , gửi lại thầy xem cho vui , nhờ bài này chắc sẽ có nhiều người biết Nửa hồn thương đau
ra đời như thế nào…http://www.khoahocsaigon.com/lang-thang-do-day/lang-man-tho-van/van-suu-tam/le-da-xanh -Trần Đức Diên-”Quá may mắn còn có người nghĩ đến tôi, dù chẳng thể nào tôi hình dung nổi khuôn mặt hay dáng dấp môn sinh Diên trong hàng vạn cựu môn sinh thuở đó của tôi. Bạn bè thâm giao phần lớn phai nhạt ân tình, lắm khi còn lánh mặt. Thế hệ con em xưa kia, nào tôi dám nghĩ chúng còn nhớ tới mình. Thế mà…
Làm sao tránh khỏi bồi hồi, xúc động?

Chưa hết đâu! Lại một ngạc-nhiên-thích-thú nữa rơi vào hộp điện thư ông đồ già: một cựu môn sinh mách tôi vào website trường Trịnh Hoài Đức tìm lối… “Trở Về” chốn cũ Bình Dương ân sâu nghĩa nặng…do cựu môn sinh Thùy Vương đưa lên mạng. (Bài viết nầy sau đó được bán tuần san Việt Luận chọn đăng, số 2380, ngày thứ sáu 24.7.2009).
Lần nầy thì tôi nhớ “người xưa”, vì thời điểm đó tôi phải đương đầu với hiểm nguy xách động gây xáo trộn trong sinh hoạt học đường mà tác giả bài viết vô tình hay cố ý ít nhiều liên can tới.
Chuyện xảy ra vào năm 1971, lúc tôi sắp sửa rời trường Trịnh Hoài Đức nhận nhiệm vụ mới. Chúng tôi chuẩn bị một chương trình văn nghệ rất công phu và khá phong phú -mà Thùy Vương là giọng đơn ca chính trong trường ca Lửa Thiêng của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ- nhằm giới thiệu Trường trên đài Truyền Hình Sàigòn. Lúc bấy giờ chỉ có Trường Mạc Đỉnh Chi và Trường Trịnh Hoài Đức được chọn trình diễn trên màn ảnh nhỏ. Và trường tôi được ưu tiên khai pháo.
Ròng rã đôi ba tháng tập dượt, biết bao công sức… Mọi việc đang diễn tiến suông sẻ thì…đột nhiên có người rỉ tai tôi âm mưu lợi dụng cơ hội nầy để…ra ứng cử dân biểu! Và có một vận động ngầm thuyết phục Thùy Vương…rút lui. Lập tức, tôi cho họp Hiệu Đoàn với đầy đủ các thành viên trong Ban Văn Nghệ và long trọng tuyên bố với các em học sinh, nếu tôi ra tranh cử dân biểu các em có quyền khước từ coi tôi là thầy! Rồi đích thân tôi đến nhà ba má Thùy Vương xin phép cho em tham gia văn nghệ.
Tưởng đã yên. Nào ngờ, chiều hôm trước ngày lên đài Truyền Hình, em đại diện học sinh, không rõ do ai xúi giục, gần như “hiên ngang” nói thẳng với tôi ngày mai các học sinh không…lên Sàigòn! Không khí cực kỳ căng thẳng…Tôi không còn sự lựa chọn nào khác, ngoài việc xác định lập trường của một ông thầy trách nhiệm Hiệu Trưởng kiêm Hiệu Đoàn Trưởng:
-Các em nghe kỹ đây! Ngày mai, đúng 6 giờ sáng, xe đò do Ban Giám Đốc thuê bao sẽ đậu trước cổng trường. Các em suy nghĩ cho thật chính chắn đi, rồi tùy nghi quyết định lên hay không lên xe. Nhưng, tôi xác quyết với các em: cho dù ngày mai chỉ có một em hay chẳng có em nào lên xe, tôi cũng sẽ cho xe lên đường đúng 8 giờ. Bởi vì thành công hay thất bại trong chuyến đi nầy liên quan đến danh dự chung của tập thể Trịnh Hoài Đức. Và trách nhiệm nầy nằm trong tay của tất cả chúng ta…Sáng hôm ấy, Thùy Vương và tất cả thành viên trong Ban Văn Nghệ có mặt đông đủ!
Chuyện xảy ra đã quá lâu, bao nhiêu nước chảy qua cầu…Không ngờ 38 năm sau Thùy Vương còn “ray rức” nhắc lại:
“Gặp được thầy nơi đây, lòng chỉ mong nói lên lời tạ-lỗi sau những năm dài ray-rứt trong đời. Dù em vẫn biết, với tâm-hồn dung-dị thanh-thản cùng những trải-nghiệm nghiệt-ngã của đời sống chắc không có chỗ cho thầy nhớ chi đến cái chuyện nhỏ-nhặt, tầm-thường và tẻ-nhạt thế nầy. Có chăng, chắc thầy cũng đã bỏ qua, cũng đã tha-thứ từ lâu… Nhưng riêng em, giây-phút được nói với thầy, với các bạn, là lúc hạnh-phúc thật lòng… Trong nỗi mong chờ dường như vô-vọng, hun-hút, chơi-vơi; nhiều khi tưởng chừng phôi-phai, mờ-nhạt, nhưng nghe sao nó vẫn loi-nhoi ẩn-tiềm trong ký-ức làm con người khó nỗi an lòng. Cho nên, chuyến hành-trình nầy với em mang thêm giá-trị ngoạn-mục của một cuộc vượt-thoát, con tim đã được vui lại như thời bé dại...”Thùy Vương nhận định rất chính xác: Làm sao tôi còn để tâm oán trách những con em trong một tập thể mà từ lâu tôi đã xem như gia đình thứ hai của tôi!
Nhưng điều khiến tôi rạt rào thương cảm là Thùy Vương đã thấu hiểu tâm trạng của tôi khi cầm bút. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình là cây bút chuyên nghiệp, có “triển vọng”, đến độ tất cả điệu bộ hằng ngày như ăn uống, bài tiết, hít thở, đi đứng, nằm ngồi, yêu đương, thù hằn, v.v…nhất nhất đều biểu lộ “ngụy tín” (mauvaise foi) “đóng kịch đạo mạo-esprit de sérieux” ta là nhà văn…nhớn, như anh hầu bàn rất ư “nghiêm chỉnh” đóng vai hầu bàn trong “Hữu thể và Hư vô” của Sartre! Nhân vật trở thành nhân cách!
Người ta đâu dễ đồng-hành trên cùng một vuông chiếu ấy, dù là vuông chiếu của nàng văn-chương. Có chăng, còn đứng chân trên đó, chỉ còn một nước là "đồng-đấu", "đồng-đá" với nhau thôi, để dành một chỗ đứng, để kiếm một chỗ ngồi, hay để bồi thêm chút lợi-nhuận. Nhưng thầy(…)thì không, nên(..)đã giã-từ, dứt bỏ, quay đi... Vẫy chào những người đã một thời "đồng..." đủ thứ, chỉ giữ mỗi nàng văn-chương vì cái nghiệp muôn-thủa của mình thôi”.Nếu được thêm một độc giả chia sẻ nỗi niềm của tôi -cây bút “tài tử”- như thế nầy thì thật vinh hạnh cho tôi biết bao!*******
T
ôi nhớ có lần một cây bút thân quen đã thố lộ chỉ viết khi trong tình trạng mất thăng bằng. Nếu thăng bằng thì anh không cần viết. Hiện giờ tôi cảm thấy nội tâm không an bình. Tuy không hứng khởi lắm, nhưng tôi cảm thấy có nhu cầu gõ trên bàn phiếm. Cho đỡ buồn, cho vui vậy mà!(chữ của Nguyễn Mộng Giác)
Và quả thật, tuy sắp đi tới nơi hết mọi ưu phiền, trải qua cũng lắm gian truân, nếm khá đủ các món ăn chơi trong chuyện-dài-nhân-dân-tự-vệ-thế-thái-nhân-tình, tôi vẫn thấy được đời ưu đãi…
Tôi thành thật nghĩ rằng chính tôi phải cảm ơn cựu môn sinh Thùy Vương đã cho tôi sống lại những giây phút khó quên qua bài viết Trở Về. Vào buổi xế chiều của cuộc đời, tôi muốn chia sẻ niềm vui với quí bạn đọc ít nhiều còn gìn giữ, trân quí vùng kỷ niệm xanh thời nền giáo dục nước ta còn tôn vinh những giá trị nhân bản, khai phóng, tự do…
Trước 1975, Trường Trịnh Hoài Đức nằm trong “vùng xôi đậu”. Sau 1975, “xôi” ngã theo chính sách bao tử trị, tràn đồng trấn áp “đậu”. Nhưng dần dần có dấu hiệu, tuy khiêm nhường nhưng rất khích lệ, cho thấy hạt “đậu” nhân bản, vốn được ấp ủ từ lâu trong truyền thống tôn sư trọng đạo, đã bắt đầu chuyển mình dưới lớp “xôi” (thịt) dầy cộm phủ che bấy lâu, nẫy mầm triển nở, sanh sôi …

Xin cho tôi kết thúc bài viết bằng những dòng chữ chan chứa Tình Người dưới đây để tạ ơn đời đã cho tôi niềm hân hoan sâu đậm trước khi vẫy tay giã từ cõi mộng:
Thưa thầy,
Đọc tâm-tình tha-thiết của thầy về những giá-trị tình-cảm và tinh-thần trong cuộc sống, em không khỏi hổ-thẹn và chạnh lòng... Cái giá-trị hôm nay lại có từ những phút lỗi-lầm ngày xa-xưa. Chính cái phút lầm-lỗi ấy đã mang thầy trò mình gặp nhau và gần nhau thế nầy sao? Em cảm thấy lạ-lùng vì cái cơ-duyên kỳ- cục đó.
Đúng là cuộc sống muôn trùng. Trong cái phúc vẫn ngầm có họa, thì ngược lại, trong họa vẫn ngầm có phúc đó phải chăng?
Đời trôi qua bao nghịch-cảnh, có khi thật trớ-trêu mà mình không lý-giải nổi. Bây giờ em nghe lòng đầy ấp niềm an-ủi vỗ-về, vượt quá những gì hằng mong đợi. Chỉ biết cảm ơn, cảm ơn tấm lòng bao-la rộng mở, thầy đã dành cho những đứa học trò trở về sau bao năm xa cách, tấm lòng của người cha đón đứa con trở về sau những ngày tháng hoang đàng. Em hạnh-phúc được ngồi vào bàn tiệc của cha, với áo mới, quần mới, niềm vui mới...
học trò cũ,
Vương
Thôn trang Rêu-Phong, hè 2009
Lê Tấn Lộc