Monday, January 11, 2010

BỮA CƠM HÀN MẶC TỬ

Bên lề
Bữa cơm Hàn Mặc Tử
“Niềm tin là tin những gì không thấy
và rồi niềm tin sẽ cho thấy những gì đã tin”.
(Thánh Augustinô)

Lời giáo đầu: Đề cập tới hai đề tài ‘nhức nhối’ -một: Tôn Giáo, hai: Làm Việc Thiện- là ‘khiêu vũ trên những quả trứng’. Vẫn biết thế, nhưng trong thế chẳng đặng đừng, người viết đành “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, hy vọng được những ‘tâm hồn đồng điệu’ cảm thông, bao dung, chia sẻ…


Theo thông lệ, Dòng Phan Sinh Tại Thế Vùng Montréal hàng năm đều tổ chức Bữa cơm Hàn Mặc Tử, hy vọng đón nhận được vài món tiền ủng hộ tương đối ‘khiêm nhường’ giúp những anh chị em chẳng may mắc bịnh cùi tại quê nhà đỡ phần cơ cực hẩm hiu. Năm nay Cha Trợ Úy của Dòng, Aimé Đỗ Văn Thông, ofm, thực hiện Bữa cơm nầy ngày 17 tháng 10 năm 2009 qua một đêm văn nghệ tại nhà hàng Ruby Rouge…
Đặc biệt, lần nầy ‘Bữa cơm’ không được quảng bá rộng rãi trên các báo. Cho nên rất nhiều người không hay biết. Thế mà, cùng đêm đó, với ba bốn vụ ‘gây quỹ’ giúp thiên tai tại VN qui tụ trên dưới hai ngàn thực khách, hội trường Ruby Rouge vẫn gần bít hết các lối đi với 450 dòng viên và thân hữu tham dự ‘bữa cơm’! Uy tín của Cha Thông một lần nữa được minh chứng! Danh xưng ‘Bữa cơm Hàn Mặc Tử’ cũng như ‘Bánh chưng Hàn Mặc Tử’ trong dịp Tết Nguyên Đán hầu như đã quá thân quen với cư dân Montréal và các vùng phụ cận cũng như với một số khá đông cư dân Ottawa và Toronto…
“Bữa cơm…”. Nghe sao hết sức, khiêm tốn, gần gũi, dễ thương …
-o-o-o-
H
iện tượng ‘trăm hoa đua nở’ gây quỹ làm việc thiện giúp người nghèo khổ, nạn nhân thiên tai, kể cũng lạ. Vô lẽ người Việt Nam ở hải ngọai đột nhiên giàu lòng từ bi quá đỗi với mỹ từ ‘khúc ruột ngàn dậm’ do nhà đương cuộc trong nước ‘ban cho’ mà động lòng trắc ẩn bỏ ra nhiều món tiền kếch sù (đôi khi lên tới năm, mười ngàn đô như chơi) cứu khổ cứu nạn ‘khúc ruột quê hương’, nạn nhân của Nhân Tai cường hào ác bá mới? Không rõ quí ‘ân nhân giai đoạn’ nầy thành tâm bỏ tiền ra ‘chẩn bần’, ‘bố thí’ vì bác ái hay thực ra chỉ vì thích ‘chơi trội’ phô trương (sô-ốp)? Đó là chưa kể quá nhiều vụ gây quỹ xây chùa, cất miễu, đại tu bổ nhà thờ, xây cất trường học, v.v… Thiếu điều muốn xây luôn nhà tù, tránh cho cha con nhà nước khỏi mở cái hầu bao riêng vàng rồng và đô la lớp lớp chất chồng cao như Hy Mã Lạp Sơn! Chưa kể một ‘vĩ đại’ thiền sư (vợ con đề huề) ôm của bá tánh về xây thiền viện để rồi bị san bằng! Cơ hồ như thiên hạ quên câu ‘cứu một mạng người hơn xây mười kiểng chùa’. Giá như ‘vĩ đại nhân’ dùng số tiền khổng lồ đó cứu nhân độ thế thì còn có chỗ châm chước. Đằng nầy… Quả thật hết ý! Ước gì thiền sư vĩ đại ‘tham-sân-si đủ mùi ca ngâm’ nầy và những ai muốn quyên góp tiền bạc của ‘khúc ruột ngàn dậm’ -kệ xác đám bần dân nơi quê nhà đói rách cùng khổ khao khát đợi chờ ơn mưa mốc- mang hiện kim hiện vật về VN xây cất chùa chiềng, nhà thờ cho thật ‘hoành tráng’, cho thật ‘ấn tượng’, chịu khó bỏ chút thì giờ đọc câu chuyện dưới đây mà người viết tìm thấy trên internet:
Có một người tên Tetsugen. Ông là một tâm hồn Thiền ở Nhật bản mơ ước in các tập kinh điển Thiền Sutra cho dân Nhật. Bấy giờ kinh điển của Thiền mới có bằng tiếng Trung Hoa bên Tàu. Ông lặn lội khắp nơi xin tiền. In bằng bản khắc trên gỗ, công trình rất cam go, tốn phí. Sau mười năm dành được tiền, sắp đem in kinh, dòng sông Uji ngẫu hứng dâng nước tràn ngập, lụt lội khắp miền. Dân chúng lâm cảnh màn trời chiếu đất, mất mùa khốn khổ. Băn khoăn trước số tiền mười năm quyên góp được, in kinh hay cứu người?
In kinh để truyền bá một triết lý, gầy dựng cả một suy tư tôn giáo. Cứu người chỉ là giai đoạn nhất thời. Rồi ai mà không chết ? In kinh có thể lưu danh lại tên tuổi. Ấy vậy mà Tetsugen không đành lòng đem tiền in kinh. Ông bỏ hết số tiền tích góp mười năm trời giúp nạn nhân lụt lội của dòng sông Uji. Thế là công trình mười năm với giấc mộng truyền bá Zen cho dân tộc Nhật theo dòng sông nước đục chảy vào hư vô.
Tha thiết với tấm lòng, ông lại lên đường hành khất xin tiền lần nữa. Mấy năm sau, dành dụm được một số tiền, ai ngờ một nạn dịch lan tràn, bao nhiêu người chết, động lòng trắc ẩn, ông lại đem hết tiền in kinh giúp người khốn khổ. Thoáng qua đã mười mấy năm. Tuổi đời theo thời gian ngắn lại.
Hết tiền in kinh, lòng ông vẫn tha thiết, ông lên đường xin tiền lần thứ ba. Mất mấy năm nữa, lần thứ ba này ông in được bộ Sutra. Thấm thoát hai mươi năm. Bản in gốc của bộ Sutra hiện còn lưu giữ tại Obaku, thiền viện ở Kyoto.
Trên đây không phải câu chuyện dụ ngôn để dạy thiền sinh. Nó là tấm lòng có thật. Một trái tim bồ tát, trái tim Chúa Kitô. Có những dòng sông và những định mệnh. Có nhiều dòng nước phù sa, lụt lội. Dòng sông và lời kinh ở đâu cũng có. Nhưng những tấm lòng dám hy sinh lời kinh vì lấy con người làm chính lời kinh thì không nhiều. Bởi nó là một lối suy tư rất khác. Ôi! những con người với những tấm lòng.
Hôm nay, nhắc nhở đến Tetsugen, dân Nhật giáo dục con cái họ là Tetsugen đã in ba lần bộ kinh Sutra. Lần thứ nhất ông in bộ kinh ấy trong trận lụt của dòng sông Uji. Lần thứ hai in trong cơn bệnh dịch của xứ sở. Lần thứ ba in bằng mực. Hai lần trước vô hình không nhìn bằng mắt xác thịt được, nhưng hai lần ấy cao cả linh thiêng hơn lần thứ ba.
Đền thờ Jerusalem đẹp thế, các môn đệ xít xoa khi đi ngang qua, thế mà Chúa chẳng để ý. Chúa bảo đền thờ là một tấm lòng.
Trong bối cảnh hôm nay, giả sử Tetsugen là linh mục, là ông trùm, có thể ở Việt Nam, ở Ấn Độ hoặc bất cứ nơi đâu, ông sẽ xử trí ra sao? Giả sử bạn là Tetsugen bạn sẽ xử trí ra sao?
Phong trào (hay dịch) gây quỹ làm việc thiện ‘bùng phát’ ở hải ngoại gây nhiều tranh luận, bênh vực có, chống đối có. Bên nào cũng cho mình có lý. Và bên nào, khi tranh luận cũng ít nhiều cường điệu. Trước khi lạm bàn, người viết muốn trình bày một vài cảm nghĩ thô thiển về ‘bữa cơm’ nói trên.
**
N
hìn chung, hầu hết mọi việc đều diễn tiến tốt đẹp, từ tiếp tân, hoạt náo, ẩm thực, sinh hoạt văn nghệ…Điều đáng nói là -đúng như ý Cha Trợ Úy Dòng ao ước- tất cả anh chị em dòng viên và thân hữu đến trợ lực đều vui vẻ chung sức điều hợp cho công việc từ thiện tiến hành nhịp nhàng và…nhẹ nhàng (không nhất thiết phải đạt kết quả tối đa về tài chánh), khiến cho tất cả tham dự viên không cảm thấy bị gò ép đóng góp, trái lại cảm thấy thoải mái ‘trước chung vui sau làm việc nghĩa’…
Cha Thông luôn di động trong hội trường để có mặt với hầu hết dòng viên và thân hữu. Đâu đâu Cha cũng được săn đón, mời mọc nồng hậu. Cha hoàn toàn hòa nhập với toàn thể tham dự viên, khi thì cùng ăn một vài món, lúc cùng nhấm nháp một vài ly rượu chào mừng nhau… Người viết nghĩ rằng linh mục phải đi bước trước đến tiếp cận chẳng những với giáo dân và còn với tất cả mọi người. Cha Thông thuộc hàng linh mục nầy. Kết quả tài chánh bữa cơm vượt xa ước đoán của Ban Tổ Chức, đa phần do cảm tình và lòng tin tưởng mà hội trường đã dành cho Cha Thông bấy lâu nay. Ngay cả kinh phí cho Ban nhạc, dàn âm thanh cũng được một Mạnh Thường Quân ẩn danh tự nguyện trang trải. Được biết tổng số thu, sau khi trừ chi phí nhà hàng, lên tới hơn 30.000 đô la Canada. Một thành tích đáng kể đối với một Dòng tu tại thế mà tôn chỉ là khiêm hạ và nghèo khó! Và sẽ là một niềm an ủi vô biên cho những anh chị em bất hạnh mang bịnh cùi tại quê nhà, ít được ai ngó ngàng tới, sống chết bỏ mặc (laisser pour compte)…Chắc hẳn những anh chị em cửu cùng bát khổ nầy sẽ vô cùng xúc động trước biểu lộ tình người của những ân nhân hiện diện trong Bữa cơm chan chứa ân tình đêm ấy. Người viết mường tượng những con người bị xã hội ruồng bỏ nầy, như Hàn Mặc Tử trước đây, sẽ rơi nước mắt, ngước nhìn trời cao vô vàn cảm kích:
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ.
(Hàn Mặc Tử,Thánh Nữ đồng trinh Maria)

Hãy thử tìm hiểu phương thức sử dụng số tiền trên đây sao cho đúng mục tiêu nhắm tới.

Trong một lần sinh hoạt linh hướng, Cha Thông ngỏ ý với anh chị em dòng viên (ACE ) muốn làm việc thiện hữu hiệu -và đúng nghĩa từ thiện- tại VN thì chớ có ‘gióng trống thổi kèn rầm rộ’, thành lập phái đoàn nầy, hướng dẫn phái đoàn kia ‘chính thức’ ra mắt chính quyền địa phương xin phép ‘hoạt động’. Nên kín đáo, âm thầm đến với đối tượng cần giúp đỡ. Phúc Âm đã không ngừng khuyến nhủ tay phải bố thí thì tay trái chớ nên biết sao? Ẩn danh vừa an toàn cho đôi bên cho và nhận vừa tránh cho người từ tâm khỏi mang tiếng khoa trương. Chưa kể số tiền quyên góp làm việc thiện dọc đường bị thất thoát gần hết vì kinh phí di chuyển, ăn ở và nhất là vì…thủ tục ‘lịch sự ra mắt’! Bởi thế, từ lâu Cha Thông và các ACE cộng sự áp dụng cách thức ‘kín đáo, âm thầm’, không qua các trạm trung gian, trực tiếp với đối tượng…Nhất là những ACE tự nguyện làm công tác từ thiện cho Dòng PSTT tại quê nhà đều phải tự túc các khoản chi tiêu cần thiết cho chuyện làm việc thiện nầy, sao cho số tiền quyên góp được không bị ‘sứt mẻ’! Cho nên, người viết phần nào cũng an tâm khi đọc bài viết dưới đây được tung lên ‘mạng’, tựa đề “Những tổ chức từ thiện muốn giúp đỡ thiên tai tại VN cần đọc” (không rõ tên tác giả):
Miền Nam Việt Nam (MNVN) trước 1975, không có sản xuất quan trọng, không mỏ dầu, chỉ nhận trung bình 700 triệu Mỹ kim một năm nuôi 17 triệu người và gồng gánh bộ máy chiến tranh. Trung bình 42USD / 1người / 1 năm.
Thế nhưng, MNVN là con rồng Đông Nam Á. Trường học MNVN từ mẫu giáo đến Đại học đều được hưởng quy chế miễn học phí. Người bệnh vào bệnh viện từ xã phường đến trung ương đều được miễn phí. Thiên tai năm nào cũng có nhưng cả nước đùm bọc lấy nhau. MNVN không cần ngửa tay xin tiền ngoại quốc.
Từ 1989 đến nay đã 20 năm nay, VN vẫn lẽo đẽo phía sau các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tụt hậu 35 năm so với VNCH năm 1975.
Việt Nam ngày nay ở vào thời đại WTO, thời đại mở cửa, không còn là thời đại thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ thuở trước 1989. Trước 1989 việc cứu trợ thiên tai tại VN là việc cần. Sau thời đại mở cửa 20 năm nay, VN phát triển vượt bực. Những người về VN đều thấy việc hàng quán đầy đường, người xe kín lối, nhà chọc trời đầy dẫy, tất cả các nhà hàng đều đông nghẹt, khách sạn giá quốc tế, địa ốc ngang tầm hay mắc hơn cả Tokyo, Sydney, Whasington DC ....
Mọi người đều biết triệu phú USD ở Việt Nam nhiều hơn triệu phú trong Cộng đồng người Việt Hải ngoại.
Số tiền trong nước đổ ra nước ngoài mỗi năm rất lớn đều tuôn vào các ngân hàng và các trương mục tư bản đỏ.
Do vậy việc cứu trợ và từ thiện Việt Nam đã đến lúc cần được xét lại một cách đúng mức.
Giúp đỡ thương phế binh VNCH bị bỏ rơi tại VN là cần.
Giúp đỡ những cơn bệnh hiểm nghèo VN không có phương tiện chữa trị là không thể bỏ.
Giúp đỡ những trường hợp cá biệt là cần.
Giúp đỡ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân và dân quyền là không thể thiếu.
Tuy nhiên việc tổ chức thành những phong trào rầm rộ dưới hình thức từ thiện mang tiền về nước cống nạp cho CSVN là chuyện phải chống vì vi phạm luật lệ VN và không phục vụ lợi ích đích thực của cộng đồng hải ngoại. Luật lệ CHXHVN ghi rõ không tổ chức nào trong nước và ngoài được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan Cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Những tổ chức vận động lạc quyên hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn mà nói rằng có thể mang về mua quà cứu trợ trao tận tay nạn nhân hết số tiền này, đó là vấn đề cần được các tổ chức khác nhau trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại nghiên cứu và tìm hiểu thích đáng.
Thay vì mang tiền về! Chúng ta chỉ giải quyết ngọn mà không giải quyết gốc.
Tại sao chúng ta không vận động chính phủ, vận động các nhà hảo tâm, vận động các nhà tư bản đỏ trong nước để họ tự đùm bọc giúp đỡ nhau?
Tại sao không vận động chính phủ tổ chức cứu trợ đúng mức cho nạn nhân trong nước?
Việc cứu trợ có thể giải quyết thỏa đáng bằng quy hoạch của chính phủ chứ không bằng các vận động ồn ào bòn rút của cải hải ngoại. VN trước 1975 không cần xin hải ngoại như hiện nay để giải quyết thiên tai, thế nhưng người dân vẫn no ấm và “phồn vinh giả tạo”.
35 năm qua chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào ruột thịt của mình tại hải ngoại và cho tổ quốc mới của chúng ta.
Đừng nên quá ôm đồm.
Cộng đồng VN hải ngoại còn nhiều người “mù vi tính”. VN sắp sang giai đoạn xoá mù vi tính.

Chúng ta đã giúp VN từ 1975 đến nay.
35 năm cũng đã quá tròn tình nghĩa đối với người đã đưa tiễn chúng ta khi ra đi bằng đại liên trực xạ và trìu mến gọi ta bằng “ngụy quân, ngụy quyền, ham mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc, chây lười lao động, vượt biên phản quốc ...”
Đã qua thời 20 năm mở cửa (1989 – 2010).
Chúng ta đã làm đủ mọi thứ cho Việt Nam .
Xây cầu. Cất trường. Nuôi dạy trẻ mồ côi. Nuôi dưỡng người tàn tật. Giúp đỡ người nghèo, người bệnh. Xây chùa, nhà thờ ...
Thời gian 35 năm qua Bộ Thương Binh Xã hội VN đã báo cáo nhiều thành tích tốt mà không cần động đến móng tay và không cần quan tâm chăm sóc phúc lợi người dân trong nước vì ... mọi thứ đã có “bò sữa” hải ngoại chăm lo.”
***
C
òn lại vấn đề ‘nhức nhối’ Gây Quỹ (Tây gọi Levée de fonds, Mỹ nói Raising fund), một vấn đề vừa xã hội vừa ‘tôn giáo’, rất đáng được đề cập tới, cho dù có phải ‘khiêu vũ trên những quả trứng’!
Người viết muốn lạm bàn lắm, nhưng e ngại mình không được bình tĩnh, chịu ảnh hưởng cảm tính hơi nhiều, sanh ra chủ quan: vấn đề raising fund nầy đã làm hắn xốn mắt, ngứa mồm khá lâu mà vì tôn chỉ ‘an hòa’ của Dòng PSTT hắn phải cố dồn nén, để rồi cam đành ‘bịt mắt câm miệng’…Cho nên người viết xin mời ACE và bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây:
Một trong những lời căn dặn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trước khi qua đời là: Tiếng chuông và những làn khói.
Họ đến Roma để chứng kiến giây phút lịch sử. Chờ công bố Giáo Hoàng mới.
Nếu không vỗ tay khi làn khói bay lên, lỡ là khói trắng, họ mất cơ hội là những người đầu tiên reo mừng vì chứng kiến làn khói lịch sử.
Nếu vỗ tay mừng mà là khói đen thì giây phút lịch sử ấy lầm lỡ quá.
Media, truyền thông khắp thế giới quay ống kính vào làn khói. Không biết bao nhiêu nghìn phóng viên quốc tế chỉ chờ giây phút lịch sử ấy để mình là người đầu tiên loan tin về một làn khói. Không biết mấy trăm triệu người theo dõi truyền hình về một làn khói.
Người ta bực mình về một làn khói. Không đen, không trắng.
Thế kỷ này, người ta chứng kiến, người ta sống một trời lịch sử về những làn khói.
Con người hôm nay đang khủng hoảng về những giá trị không rõ trắng, rõ đen.
Trước khi vĩnh biệt trần gian, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để lại tiếng chuông trước những làn khói.
*** **
Khói ở công trường Roma không nhiều, hai mươi sáu năm nay mới lại xảy ra. Khói ở cuối sân nhà thờ thì nhiều.
- Nhóm quyên tiền giúp người nghèo.
- Nhóm quyên tiền bảo trì đền thờ.
- Giáo dân tổ chức raising fund.
- Linh mục tổ chức raising fund.
Nhóm nào cũng muốn khói mình bay cao, bay xa. Nhóm nào cũng muốn mọi người chú ý đến ống khói của mình. Lúc này cuối sân đền thờ rất nhiều thứ khói.
- Có khi giáo dân trách linh mục về raising fund. Cuộc đời họ là chạy theo nhu cầu để raising fund rồi, ít được học về Chúa, khi đến nhà thờ, họ xin các ngài hãy nói cho họ về Chúa.
- Có khi giáo dân lại xin các ngài raising fund. Họ rủ các ngài vào nhóm raising fund. Họ tập cho các ngài raising fund. Họ dựa vào các ngài mà raising fund.
- Có khi linh mục muốn raising fund nhiều hơn giáo dân.
Cuối sân giáo đường hôm nay, khói bay muôn hướng.
Rồi từ những làn khói bay. Có người cay mắt. Có tiếng kêu. Có người mắt cay mà không kêu. Có người kêu mà khói vẫn bay. Từ những làn khói, có người bỏ cuối nhà thờ đi chỗ khác. Thì cũng từ những làn khói, có những người bỏ nhà thờ từ lâu, nay lại tìm đến. Đó là kỳ diệu của những làn khói. Có làn khói làm người đi xa. Có làn khói đem kẻ khác lại gần.
LỜI KINH VÀ NHỮNG LÀN KHÓI
Cha Nguyễn Văn Quang, một linh mục người Việt Nam, coi một họ đạo lớn người Mỹ ở Greeley, gần Denver, Colorado. Một ngày chúng tôi lên núi Rocky Mountains. Trong câu chuyện đời sống linh mục. Chúng tôi nói chuyện với nhau.
- Mình là linh mục mà 60 phần trăm thời gian phải lo administration mất rồi. Có cuối tuần mất hàng tiếng đồng hồ chỉ ký checks cho nhân viên. Thế này thì hỏng, phải xét lại.
Linh mục được huấn luyện để nói về Chúa. Vai trò quan trọng của linh mục là sứ ngôn. Công bố Lời Chúa. Chúng tôi không được huấn luyện để raising fund. Nếu có linh mục kém raising fund, xin giáo dân đừng trách, đừng đòi buộc và so sánh. Khi có những linh mục raising fund giỏi, giáo dân ca tụng. Họ nhờ, họ xin các linh mục đó raising fund. Ca tụng linh mục này raising fund giỏi, chê linh mục kia kém, từ đó, giáo dân đưa dần làn khói, rất tiếc, không đen, không trắng vào cuối giáo đường, và có thể làm cay mắt nhiều tâm hồn.
Linh mục mà phải lo administration, phải lo đối phó với nhóm này, nhóm kia, phải raising fund, phải lo trả lời phỏng vấn, phải lo nhiều thứ quá, làm sao có thời giờ soạn bài giảng, làm sao có thời giờ đọc văn kiện Giáo Hội, làm sao có thời giờ nhận định xem khói đang bay về đâu, khói luân lý, khói đức tin, khói văn hóa, khói xu hướng, khói trong Giáo Hội, khói ngoài cuộc đời.
Trong những cuộc raising fund, làm cách nào để tránh được khói cạnh tranh?
Khi linh mục có mặt trong các chương trình này, dù tốt đến đâu, nếu có sự cạnh tranh, sẽ có “triệu người vui, và triệu người buồn.” Khói sẽ làm kẻ này đến nhà thờ, khói cũng làm kẻ khác bỏ đi. Nếu một việc mà như thế, một mục tử có nên làm không? Hay là trở về với bục giảng, để an ủi kẻ này bị khói làm cay mắt đừng bỏ nhà thờ đi, và cảnh tỉnh kẻ kia đừng lấy khói làm ai cay mắt.
Đức tin không có lòng xót thương, nó không có địa chỉ để về.
Lòng xót thương dễ ngộp thở trong một thế giới cạnh tranh.
Muốn giết lòng xót thương, có lẽ không khó. Cứ khen cha kia tổ chức giỏi, chê cha này giảng dài. Khen ông chủ tịch cũ, nhờ ông mà cộng đoàn mua được miếng đất. Hỏi ông chủ tịch mới, khi nào hội đồng mục vụ mới xây tượng đài? Nói Rollo hay thế sao kỳ này họ không mời? Cứ so sánh, khen và chê, sẽ thấy sinh hoạt xứ đạo ngộp thở, nhiều tâm hồn khốn khổ và lòng xót thương có thể sẽ chết tự bao giờ.
Khi một đoàn thể Công giáo tiến hành mà chỉ mong đoàn thể mình thành công hơn đoàn thể kia, thì đâu là Công Giáo tiến hành? Khi một dòng tu mà chỉ muốn dòng mình phát triển. Thành công của Phúc Âm là gì? Đối với việc tông đồ, làm sao có thể cổ võ kẻ khác bỏ tiền vào quỹ người nghèo do mình lập nên, đừng bỏ tiền vào quỹ kia? Nếu thế, đâu là lý chứng biện minh cho lòng bác ái và hành động như vậy? Nếu không, cứ khuyến khích người ta bỏ tiền vào quỹ kẻ khác, thì đâu là quỹ do mình lập nên? Đó là thách thức của lời kinh và những làn khói.
HỌC THUYẾT PHAOLÔ: ĐƯỢC LÀM KHÁC VỚI NÊN LÀM
Trong cộng đoàn Côrintô đã xẩy ra những chuyện được làm nhưng không nên làm. Phaolô viết:
“Được phép làm mọi sự” nhưng không phải mọi sự đều có ích. “Được phép làm mọi sự” nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng. Đừng ai tìm lợi ích riêng nhưng hãy tìm lợi ích chung. Tất cả những gì bán ngoài chợ anh em cứ việc ăn… Nhưng nếu có người bảo: “Đây là của cúng” thì đừng ăn. Tôi không có ý nói lương tâm anh em, nhưng vì lương tâm người khác.(1 Cor. 10:23-33 - Xem chú thích câu 29,
bản dịch Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ).
Phaolô cẩn thận cắt nghĩa là ăn của cúng không sao, nhưng nếu vì gương xấu cho người khác thì đừng ăn. Phaolô viết:
“Không phải của ăn làm chúng ta gần Thiên Chúa. Không ăn những thứ đó, chúng ta chẳng thiệt, mà có ăn cũng chẳng lợi gì. Nhưng hãy coi chừng kẻo sự tự do của anh em nên dịp cho người yếu đuối sa ngã.” (1 Cor.10:8-9).
Trường hợp cụ thể xẩy ra ở cộng đoàn Côrintô là vấn đề ăn thịt cúng. Nếu dựa vào hiểu biết của mình, cứ làm, không cần biết gương mù có thể gây ra, nghĩa là biết ăn của cúng không có tội, cứ ăn, còn ai nghĩ thế nào kệ họ, Phaolô viết rất rõ về thái độ đó như sau:
“Thế là sự hiểu biết của bạn làm hư mất một người yếu đuối, một người anh em mà Đức Kitô đã chịu chết để cứu chuộc. Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô. Vì thế, nếu của ăn mà làm cớ cho anh em tôi sa ngã, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt nữa, để khỏi làm cớ cho anh em tôi sa ngã (1 Cor. 11-13)..
Không phải chỉ gởi cho cộng đoàn Corintô. Trong thơ gởi cộng đoàn Rôma, chúng ta cũng gặp những căn dặn tương tự:
“Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Đừng vì chuyện ăn uống mà làm cho người anh em của bạn phải hư mất, vì Đức Ki-tô đã chết cho người ấy.
Vậy đừng để cho thiên hạ chê bai điều mà anh em cho là tốt.Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ai phục vụ Đức Ki-tô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng. Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. Đừng vì một thức ăn mà phá huỷ công trình Thiên Chúa. Đã hẳn, mọi thức ăn đều thanh sạch; nhưng ăn mà gây cớ vấp ngã, thì là điều xấu” (Rom. 14:15-20).
Trong hoàn cảnh xã hội hôm nay. Các vấn đề raising fund cần thận trọng. Nhưng tìm đâu tiêu chuẩn thận trọng? Có nên tìm hiểu thêm trong học thuyết này của Phaolô như một tiếng chuông không?
NHỮNG NGUY CƠ
Trong hoàn cảnh đặc biệt của người Công Giáo Việt Nam hải ngoại, raising fund là chuyện rất thường. Có khi cần. Nhiều người muốn đóng góp để xây dựng. Vấn đề là để được tốt, phải nói đến những nguy cơ để bảo vệ điều tốt kia.
1. Nguy cơ thứ nhất: Power
Đằng sau công việc từ thiện. Tiền bạc ngấm ngầm cho người ta power. Power ở đây mang nhiều mầu sắc:
- Power thứ nhất là chứng tỏ tài năng. Ai raising fund được nhiều, càng chứng tỏ nhiều power. Nhóm nào raising fund được nhiều càng chứng tỏ uy tín. Vì xã hội khen như thế. Đây là tiêu chuẩn xã hội, chứ chưa hẳn là đúng vì có những giá trị thành hình là do sự lầm lẫn của kẻ khác. Có người thành công trong raising fund, rồi cho là mình có tài năng. Có kẻ thấy người khác raising fund giỏi rồi cho rằng người đó có uy tín. Có nhiều cách raising fund. Nếu khen nhóm này đóng tiền nhiều để khích cái tự ái của nhóm kia thì đấy có là do tài năng và uy tín không? Nếu vì sự dễ tin của những tâm hồn chân thành mà dẫn họ vào những con đường vòng quanh mập mờ thì đấy có là nhân đức không? Giáo Hội đã có từng thời kỳ nhân danh ân xá để kiếm tiền, và đấy là một trong những nguyên nhân lớn trong cuộc ly giáo do Luther khởi xướng. Có đường lối thật, có đường lối sai. Phúc Âm gọi những tài năng giả, đường lối sai đó là những ngôi mộ tô vôi.
- Power thứ hai là được có quyền chi tiền cho ai. Thứ power này êm dịu, kín đáo vô cùng. Nó kín đáo lẻn vào lòng người, nhưng nó lại tỏ lộ trong thái độ sống. Người ta kín đáo che đậy, nhưng nó lại êm dịu như ánh trăng chiếu ra, không giấu được.
- Power thứ ba là được người chịu ơn ca tụng. Ai cũng bảo mình không muốn kẻ khác cám ơn. Nhưng ít người chỉ raising fund mà lại không muốn “đích thân” mình về Việt Nam trao tiền thì mới chắc chắn. Có hai thứ “đích thân”. Một là đến từ lòng nhiệt thành. Hai là kín đáo đến từ thứ power này.
Những power này, nó thầm kín, nhưng người ta dễ nhận ra. Những thứ Power trên đây không loại bỏ ai, giáo dân cũng như tu sĩ.
Khi không ai cắt cử mình vào công việc raising fund mà cứ có động lực thúc đẩy, thì cần cẩn thận vì có thể đàng sau động lực bác ái, đang bị những power trên đây thúc đẩy.Và đối với người dâng cúng tiền bạc cũng nên khôn ngoan nhận định những động lực này.
Tiêu chuẩn để canh chừng chính hồn mình, hoặc để khám phá ra các thứ power trên đây, thánh Phaolô đã viết cho cộng đoàn Galát:
“Hoa trái của Chúa Thánh Thần là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (Galát 5:22-23). Như thế, khi công việc dẫn tới những gì ngược với hoa trái trên đây, đấy là dấu chỉ cần thức tỉnh về những làn khói.
2. Nguy cơ thứ hai: Power
Đằng sau công việc từ thiện. Tiền ngấm ngầm lấy mất power của người ta. Nguy cơ thứ nhất, tiền cho người ta power có chất độc, nguy cơ thứ hai, trong power nó cho, nó lấy mất power nhân đức mình có. Power bị mất ở đây cũng mang nhiều mầu sắc.
- Power bị mất là không còn thời giờ cho đời thong thả, vì quá khắc khoải làm sao công trình của mình thành công. Với linh mục, thêm những mất mát khác, thiếu thời giờ thăm bệnh nhân, soạn bài giảng, học hỏi thêm. Và làm mình “chia trí”. Tại sao Đức Kitô quả quyết tiền bạc ở đâu thì lòng dạ ở đó. Nếu linh mục rơi vào tình trạng này thì lời giảng của linh mục mất nhiều power. Đây là mất mát rất lớn.
- Power bị mất là có thể mất lương tâm trong sáng. Tiền dễ đi tới gian lận. Lỗi đức công bình. Cắt nghĩa quá rộng cho lương tâm của mình vào vấn đề xử dụng quỹ bác ái. Ngày còn là các chú tiểu chủng viện Têrêsa, Long Xuyên. Cha giáo Vũ Sửu, bây giờ ngài vẫn còn sống, nhưng cha già yếu rồi, ngày đó, hơn ba mươi năm về trước, miền Tây thường lụt lội, ngài nhờ chúng tôi đi ủy lạo người nghèo bị lũ lụt. Tôi nhìn những thùng xà bông. Nhiều như thế kia, nghĩ làm công tác xong, thế nào cha chẳng cho mỗi đứa một bánh xà bông. Vậy mà ngài không cho một bánh nào. Lúc đó, đứa nào mà không buồn. Nhưng ngài dạy chúng tôi, dù một bánh xà bông, phải giữ tấm lòng trong sạch. Tôi vô vàn biết ơn những linh mục rất nhân đức
trong đời tôi.
- Power bị mất là không còn trái tim bao dung. Họ sẽ cạnh tranh với kẻ khác, gây gương mù. Có thể đi đến phá đám nhau. Gây chia rẽ cộng đoàn vì cần các đoàn thể khác ủng hộ mình. Người ta có thể gây chia rẽ và kiếm được trăm ngàn dễ dàng. Nhưng không dễ dàng dù chi trăm ngàn để chữa được vết thương đã chia rẽ. Trái tim bao dung và sự hiệp nhất có là tiêu chuẩn thành công theo cách thế của Nước Trời không? Việc làm của họ không còn siêu thoát. Giáo dân cũng vậy, tu sĩ cũng thế. Không nói đến tiền bạc, cách đây hơn hai mươi năm, vào năm 1984 cha Julian Elizalde, người Tây Ban Nha, hiện nay còn sống, đang làm việc ở Roma, một mình lái xe khắp các tiểu bang nước Mỹ lo tĩnh tâm cho giới trẻ Việt Nam. Tôi còn làm thày, xin theo ngài để học hỏi. Một chuyến hai cha con lái xe xuyên bang, ngài tâm sự:
- Có cha Việt Nam bảo giới trẻ nằm trong tay ông cha người Tây! Họ sợ tôi ảnh hưởng. Là pastor tốt thì phải lo cho giáo dân, đáng lẽ họ nên nhờ tôi đến giúp họ, họ lại cho rằng cho tôi đến giảng là một ân huệ.
Tôi còn nhớ mãi lời này. Xã hội này phải cạnh tranh mới sinh tồn. Cạnh tranh lẻn chui vào cả vấn đề thánh thiện của tôn giáo. Có những cộng đoàn giáo dân thiệt thòi chỉ vì pastor của họ như thế.
NHỮNG LÀN KHÓI HOANG MANG
Khi giáo dân hoang mang về những làn khói, không biết đen hay trắng, giáo đường sẽ là nơi rất buồn. Thánh Phaolô bảo ăn của cúng không sao. Nhưng nếu gây gương mù thì đừng ăn. Nhiều giáo dân thắc mắc, tại sao linh mục cứ phải bỏ thời giờ vào những việc mà giáo dân làm được, hay vì họ thiếu khả năng? Mỗi người tự chọn cho mình một chọn lựa. Nhưng đây là nguyên tắc không thể thay thế: Dù tu sĩ hay giáo dân khi tham dự vào các raising fund thì công việc này phải là những làn khói trắng vô cùng rõ ràng, không thể xám.
Ơn gọi của người hướng dẫn tâm linh là phân biệt cho người ta khỏi lầm lẫn về những làn khói. Phân biệt cho người khác không lầm lẫn những làn khói đã khó. Chính mình làm làn khói thì phải rất trắng để người khác không thể lầm lẫn.
Mê ngủ nơi thiền sinh thì khác nơi thiền sư.
Tín đồ lầm lẫn, họ mong các vị linh hướng giúp họ phân biệt khói trắng hay đen. Khi người hướng dẫn tâm linh lầm lẫn, mong ai phân biệt dùm mình.
Đức Giáo Hoàng Gioan – Phaolô II trước khi chết, Ngài thay đổi một nghi thức rất lạ. Để báo Tin Mừng cho thế giới là có Giáo Hoàng mới, đền thánh Roma không được để khói bay mà thôi. Trải qua nghìn năm lịch sử, thế mà bây giờ Ngài thêm vào: Khói trắng cũng phải có tiếng chuông kèm theo.
Công việc raising fund nhiều khi không rõ đen mà cũng không rõ trắng.
Khói bay ở sân nhà thờ hôm nay nhiều khi không rõ trắng, không rõ đen.
Đức Hồng Y Thuận đã phân biệt CHÚA và Công việc của chúa.
Để tránh lầm lẫn, mong ai phân biệt dùm mình?
- Phải có tiếng chuông!
Đối với giáo dân, làm sao linh mục giúp họ nhận ra tiếng chuông?
Đối với linh mục, đâu là tiếng chuông cho chính mình?
- Phải có tiếng chuông!
Đó là lời căn dặn của một con người đã làm xoay chiều lịch sử hôm nay.
Xin Đức Thánh Cha cầu bầu cho chúng con. Vì cuối sân giáo đường hôm nay có nhiều làn khói khác nhau.
Phụ Chú
Cần một tiếng chuông. Chính đời Đức Giáo Hoàng là một tiếng chuông rồi.
Có một phụ chú. Có thể chỉ là trùng hợp thôi, nhưng là trùng hợp rất đáng suy nghĩ. Ngôn ngữ Phúc Âm Gioan ở đây là tiếng chuông rất lạ, cho thấy kẻ đánh mất lý tưởng, phản bội Chúa và anh em mình là kẻ giữ túi tiền, chi tiền, quản lý tiền, là kẻ quan tâm đến người nghèo.
“Một trong các môn đệ của Đức Giêsu là Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người liền nói: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng bạc mà cho người nghèo.” Y nói thế không phải vì y lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: Y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung.” (Gioan 12: 4-6).
Power nào đã lẻn vào con người Giuđa?
Power nào Giuđa đã đánh mất?
(“Tiếng Chuông Và Những Làn Khói”, Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J)
-o-o-o-
B
ài viết Bữa cơm…nầy chỉ nhằm khơi dậy một vài điều rất tế nhị, rất nhạy cảm, nhất là rất…phức tạp, dễ gây va chạm trong việc làm công tác từ thiện và gây quỹ, mà theo người viết hình như càng lúc càng trở thành nếp sinh hoạt rất phổ biến, nếu không muốn nói là cái mốt (mode) rất ‘thịnh hành’ trong Cộng đồng Người Việt Hải ngoại, để cần lưu tâm hơn hầu tránh bị lợi dụng, bị khai thác sái mục tiêu từ thiện. Tuyệt nhiên, người viết không nhằm đả kích hay có ác ý châm chọc một đoàn thể hay một cá nhân nào hết. Việc tranh luận giữa hai phía bênh và chống các cá nhân hay đoàn thể hải ngoại về Việt Nam làm việc thiện chắc chắn còn tiếp diễn dài dài… Nói như Tây: Cuộc tranh luận vẫn còn triển mở (Le débat est encore ouvert)!
Tuy nhiên, thiết nghĩ có thể tạm kết bài viết rằng:
“Ồn ào ít khi làm nên điều tốt, việc thiện rất ít khi gây tiếng động” (Saint-François de Sales)

Thôn trang Rêu Phong, Xứ Tuyết, Đầu năm 2010
-Lê Tấn Lộc-


























Wednesday, December 16, 2009

MÙA VỌNG VÀ MÙA..."TẬN THẾ"




Vài suy nghĩ vụn vặt:

Mùa Vọng hay… mùa“tận thế”?

“Anh em đừng sợ.
Này tôi báo cho anh em
một tin mừng trọng đại,
cũng là tin mừng cho toàn dân:
Hôm nay một Đấng Cứu Độ
đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít,
Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa”
(Lc 2,10)

Khoảng một tháng trước khi vào bước vào Mùa Vọng, một lô bài viết được tung lên internet ‘trịnh trọng’ loan báo hết sức có ‘cơ sở’: năm 2012 sẽ…tận thế! Một cuốn phim ‘khoa học giả tưởng’, còn dám quyết đoán đó là ngày 21 tháng 12 năm 2012!
Thôi thì vô số tài liệu về thiên văn học, về các nghiên cứu văn minh cổ xưa, về cách diễn giải sấm Trạng Trình cũng như về các lời tiên tri Nostradamus, được các chiêm tinh gia -dân gian thường gọi nôm na là giới bói khoa và coi quẻ- hấp tấp ‘chớp thời cơ’ lôi ra ‘chứng minh’, đoán mò, rồi xủ quẻ: trăm phần trăm thế giới sẽ ‘tiêu tùng’, nhân loại nói riêng, mọi mầm sống nói chung đều sẽ…‘tịt ngòi’ vào năm 2012!
Không phải đây là lần đầu những tiên đoán tận thế được tung ra, gieo rắc quá nhiều hậu quả tệ hại, đôi khi rất bi đát: nhiều vụ tự sát -cá nhân có, cả gia đình có, cả tập thể có- để khỏi chứng kiến cảnh tượng tận thế khủng khiếp rồi chết thảm! Bá tánh thấp thỏm chờ trái đất nổ tung…Ấy thế mà quả địa cầu -hành tinh xanh- vẫn tiếp tục quây xung quanh mặt trời và dân số khắp thế giới vẫn đều đặn gia tăng, nhanh hơn cả tốc độ lạm phát phi mã toàn cầu!
Nhưng lần nầy hình như thiên hạ hoang mang, xao xuyến nhiều hơn: viễn ảnh đen tối của cơn suy thoái kinh tế trầm trọng khắp năm châu gần đây, viễn tượng chiến tranh hạt nhân từ lò lửa Trung Đông với sự hung hãn của Iran bất chấp sự cảnh cáo của Cộng đồng quốc tế kêu gọi ngưng ‘làm giàu’(enrichir) uranium, ngầm tiến tới việc sản xuất vũ khí hạt nhân, với sự kiên trì của Bắc Hàn luôn hăm he chế bom nguyên tử, dù dân chúng thiếu dinh dưỡng chết đói dài dài, với mối đe dọa ‘bá quyền’ từ phía biển người Trung Cộng, v.v…thêm sức thuyết phục cho loạt bài viết ‘thảm khốc’(catastrophique) -những bài viết ‘thần sầu quỉ khóc’ nói trên! Chưa kể sự vô tư của loài người thường xuyên hủy diệt môi sinh theo đà tiến hóa của văn minh kỹ thuật, ngày càng đạt hiệu quả tối đa, trong việc khai thác và tận dụng đến kiệt quệ các nguồn năng lượng thiên nhiên, cũng góp phần nuôi dưỡng nỗi kinh hoàng (panique) trong quần chúng…
-o-o-
Tâm tư giao động trước nguy cơ “Grippe A H1N1” -dịch cúm heo đang đe dọa truyền nhiễm rộng khắp (pandémie)- dù cơn cảm ho gây khó khăn hô hấp chưa dứt hẳn, tôi vẫn cố gắng lái xe đến giáo đường Thánh David (Pierrefonds) dự thánh lễ chiều thứ bảy, dự tính như thế sẽ có thì giờ nghỉ ngơi dưỡng sức để Chúa Nhật đi họp Dòng, đầu tháng 12, trước để tìm sự an bình nội tâm, sau để gặp lại ACE, tay bắt mặt mừng tìm chút hơi ấm tình người đang khi giá băng cuối thu bắt đầu loan tỏa…

“Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự tên đám mây mà đến…”.
Tin Mừng theo thánh Luca được vị phó tế khởi đọc không làm sao tránh khơi dậy nỗi ám ảnh…“tận thế”!
May thay, Tin Mừng quả thật đúng là TIN MỪNG khi vị phó tế đọc tiếp:
“Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”!
Đúng vậy, Mùa Vọng là mùa chúng ta chuẩn bị mừng lễ Chúa sinh ra đời vào dịp Noel. Mùa Vọng là ..chờ đợi. Và sự chờ đợi nầy khiến chúng ta liên tưởng tới ngày Chúa đến khi tàn cuộc thời gian trần thế. Người nói với các môn đệ về chuyện Người đến, Người trở lại bằng những hình ảnh dữ dội như trong sách Khải Huyền (Apocalypse). Nhưng dù bên ngoài trông có vẻ dễ sợ, những hình tượng đó không nhằm làm ta khiếp vía, trái lại nhằm trấn an chúng ta. Bởi vì “Con Người đến không phải để giết mà để cứu chữa(Lc 9, 56), để “cứu chuộc kẻ hư mất” (Lc 19, 10). Như Cha Trợ Úy Dòng PSTT, sau đó. đã nhận định, nhân buổi họp Dòng đầu tháng 12/2009: những cảnh tượng mô tả như ‘tận thế’trên đây, thực ra là cách thức lay tỉnh chúng ta chú tâm hơn đến Lời Chúa cảnh báo Hãy Tỉnh ThứcNước Trời đã đến gần thôi! Bởi thế, với tôi, ngoài sự trông đợi, Mùa Vọng còn là mùa của Hy Vọng…
**
Trên đường về, tiếp tục suy gẫm về Lời Chúa và về bài giảng của linh mục chủ tế, tôi nhận ra Mùa Vọng thể hiện việc “Chúa giữ lời: Ánh Sáng của Người đã chói rạng”. Ánh sáng là một biểu tượng tôn giáo đối chọi với bóng tối. Ánh sáng luôn có mặt từ đầu trang đến cuối trang Thánh Kinh. Các Tiên Tri loan báo việc ánh sáng đến như để thể hiện những lời hứa của Thiên Chúa (Isaie 9,1; 58,10). Đôi khi, chính Thiên Chúa là ánh sáng (Michée 7, 8) đời đời rạng ngời (Isaie 60, 19).
Ánh sáng đây không phải là thứ ánh sáng thông thường, đó chính là Chúa Giêsu mà, qua Người, Thiên Chúa giữ lời hứa với chúng ta. Ánh sáng nầy soi sáng đời ta, xua tan bóng tối của oán ghét, của thù hận, của tự khép kín, v.v…Đó là ánh sáng của lòng lành, của niềm vui, của bình an ban cho mọi dân tộc. Mỗi lời ủi an, mỗi bàn tay nắm, mỗi sự sinh ra đời, mỗi hành vi công chính không là những tia nắng của nguồn ánh sáng rạng chiếu trên chúng ta và trên thế giới sao?
Cuối thánh lễ linh mục chủ tế yêu cầu mọi người hát vang lên niềm hân hoan ca mừng Chúa Giáng Sinh. “Này đây là ngày Thiên Chúa làm nên:Trong ngày nầy ta hãy reo vui mừng rỡ” (TV 117).
Còn chỗ nào chăng cho những ảnh tượng ảo (images virtuelles) u ám, hù dọa…địa cầu sắp bị hủy diệt hoàn toàn? Mùa…tận thế làm gì có đất đứng trong Mùa Vọng: “Reo vui lên! Nữ tử Sion! Hãy hò la, hỡi Israel! Hãy vui mừng, hãy hoan hỉ hết lòng, nữ tử Yêrusalem! (…)Vì ngươi, Người hân hoan vui sướng. Với ngươi, Người làm mới lại Tình Yêu của Người. Vì ngươi, Người nhảy mừng trong tiếng reo vui như thuở tao phùng”(Sophonie 3, 14-18a)…Chẳng lẽ Người nhảy múa reo vui với dân Người trên những điêu tàn…tận thế?
Thánh Phao-lô đã không ngừng khuyến nhủ chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã đến gần. Anh em đừng lo lắng gì cả” (Pl 4, 4-6)… sao?
Quả thật, tín lý công giáo không cho phép chúng ta yếm thế chỉ vì mê tín, dị đoan rồi tin bừa rằng sẽ…tận thế. Nào ai dám cả quyết lúc nào Chúa sẽ đến! Chỉ duy có Chúa biết thôi! Vì thế chúng ta phải luôn thức canh!
Vẫn hay “Đường lối Chúa khôn dò khôn thấu”…
***
Lâu nay tôi cảm thấy tín lý mình bị xúc phạm nặng nề bởi một số ‘hiện tượng’ khác lạ xuất phát từ những người công giáo mà tôi nghĩ rằng chắc hẳn vạn lần thông suốt hơn tôi -một tân tòng- về giáo lý đạo thánh Chúa: Có những người công giáo thuần thành cả tin vào phép lạ chữa lành -y như trong Tân Ước- từ những người trần tục. Có những người công giáo cả quyết mình ‘nghe’ Đức Mẹ hay Chúa Giêsu truyền lệnh cho mình ‘thế thiên hành đạo’! Có một số người công giáo quả quyết ‘thấy’ những dấu chỉ (signes) Đức Mẹ hoặc Chúa Giêsu hiển hiện qua hình thể một đám mây, trên cỏ cây, hoa lá, đồ vật, v.v…Mới đây có một người công giáo chuyển cho tôi ảnh một người đàn bà ‘khoe’ gương mặt Chúa hiện lên trên mặt bàn ủi của bà!
Toà Thánh rất cẩn trọng và khe khắt kiểm chứng những hiện tượng ‘siêu nhiên’ nầy. Gần như trong một triệu cái cho là ‘dấu chỉ hiển linh’ may ra có được một hoặc hai sự kiện được Tòa Thánh thừa nhận và công bố.
Nên nhớ lại, trong Phúc Âm, Chúa đã quở mắng đám người cứng lòng rằng “Dân nầy đòi hỏi các dấu hiệu…Sẽ chẳng có dấu chỉ nào cho chúng cả”... chăng? Còn nhớ lời Chúa nói với thánh Thomas: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin(Jn 20, 29)… chăng?
Người viết sực nhớ, trước năm 1975, vô số chuyện thầy nước lạnh, thầy vuốt, thầy mằn, thầy pháp, thầy đồng-bà bóng, …lợi dụng sự mê tín của đám đông lũ lượt kéo đến cầu xin họ chữa trị bịnh tật để vừa vơ vét tiền của bá tánh vừa làm biết bao điều xằng bậy. Ngay bây giờ, tại quê nhà, ‘hiện tượng’ thầy bùa, thầy ngải, thầy pháp ‘chữa lành’ nầy còn rộ nở hơn bao giờ hết!
Một lần nữa, xin những bậc cao kiến chỉ dạy cho tôi rõ: Người công giáo chân chính có nên mê tín, dị đoan chăng?
Trong khi chờ đợi được chỉ giáo, tôi cố tự tìm hiểu về ý nghĩa đích thực của Mùa Vọng, đặc biệt là làm sao giải thích việc qui định sử dụng màu tím -vốn được xem như màu tang tóc ưu sầu-cho Mùa Vọng. Và đây là câu giải đáp:

MÙA VỌNG: MÙA MÀU XANH

1. Mùa Vọng là mùa Thiên Chúa hy vọng vào con người.

Lần thứ nhất, do hy vọng, Người đến gieo ơn cứu rỗi và lần thứ hai, cho hy vọng, Người đến gặt những gì mình đã gieo và giữa hai lần đến chính thức ấy là cơ man nào mà kể những lần âm thầm đột xuất ngẫu hứng bất ngờ.
Và bất ngờ lớn nhất giữa những cái bất ngờ vẫn là cái giờ và cái cách Chúa đến với mỗi cá nhân trong cảnh tranh sáng tranh tối của họ giữa chốn chợ đời. Mùa Vọng là mùa Thiên Chúa hy vọng vào con người.

2. Mùa Vọng là mùa con người hy vọng vào Thiên Chúa.

Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.
Tỉnh thức trong hy vọng là nhận thức rằng người đời có một Thiên Chúa yêu thương và đời người có một vận mệnh tương lai.
Tỉnh thức trong hy vọng cũng là canh thức để cộng tác với ơn Chúa mà thể hiện niềm hy vọng đời mình.
Và cuối cùng, tỉnh thức trong hy vọng cũng có nghĩa là thao thức thường xuyên cùng với Giáo Hội để gieo niềm hy vọng vào chính môi trường mình sống.
Sống Mùa Vọng như thế chính là sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa là Đấng hy vọng vào con người. Và như là vật êm đềm gợn sóng màu xanh lên chính cuộc đời tín hữu của mình. Mùa Vọng là mùa màu xanh.

MÙA VỌNG: MÙA MÀU TÍM

1.Sám hối mang màu hy vọng không cúi gập trên những lỗi lầm của mình mà hướng mở về tình thương Thiên Chúa.

Sẽ là thất vọng nếu chỉ nhìn tội mình mà quên nhìn tình Chúa và sẽ là vô cùng ảo vọng nếu chỉ nhìn tình Chúa mà quên nhìn tội mình; nhưng sẽ là hy vọng dâng đầy cho những ai vươn lên tình yêu Thiên Chúa khởi đi từ lòng sám hối tội lỗi của mình. Hình như trong lời kêu gọi “hãy sám hối’’ đã có tiếng giục giã “hãy hy vọng’’,và sở dĩ Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối hôm nay là bởi vì đã có niềm hy vọng dọn đường chờ mong Chúa đến.

2. Sám hối mang màu hy vọng không dừng lại trong nội vi tâm thức mà biết tỏa rộng lên cả cuộc đời.

Sám hối Mùa Vọng đâu phải là thứ sám hối như thế, mà thật ra phải là thứ sám hối toàn diện đúng mức với lòng hối cải, vốn bao gồm hai động tác cơ bản đan xen: “hối’’ có nghĩa là hối lỗi và “cải’’ là chữ nói tắt của chữ cải thiện. Nếu hối lỗi là mặt tiêu cực thì cải thiện là mặt tích cực. Nếu hối lỗi là đoạn tuyệt với quá khứ tội lụy, thì cải thiện là lời quyết tâm dấn bước vào một tương lai tươi mới. Và đến khi sám hối trở thành một thói quen ăn sâu vào trong nhịp sống để nổ lực chuyển đổi không ngừng lên những tình trạng tốt hơn thì đó chính là một cuộc lột xác đổi đời.

3.Sám hối mang màu hy vọng biết vượt qua những động tác để trở thành một thái độ sống.

Thực ra sám hối mang màu hy vọng không đơn thuần là một động tác cho bằng là một thái độ. Sám hối là một thành phần của đời sống đức tin, nhưng lại gói ghém và len lỏi vào mọi ngõ ngách của toàn bộ cuộc sống đức tin ấy.
Sám hối mang màu hy vọng là sám tìm về tình thương Thiên Chúa, chấp nhận thay đổi cuộc đời và biết để cho ơn tha thứ thấm đẫm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống đức tin. Đó là sám hối Mùa Vọng chuẩn bị đón lễ Noel, nhưng đó cũng là thái độ thường xuyên của đời tín hữu. Và cũng vì có sám hối như vậy, Mùa Vọng đúng nghĩa chính là mùa màu tím từ bên trong ra bên ngoài và từ ngôn ngữ tới hành vi.

MÙA VỌNG: MÙA MÀU HỒNG

Nếu khởi đầu Mùa Vọng là một màu xanh của những tâm hồn biết rằng Thiên Chúa hằng hy vọng vào mình và hành trình Mùa Vọng là một màu tím của những cuộc đời sám hối, thì ở giữa lòng Mùa Vọng, đời người đã được đặt vào một vận hành mới với một năng lực mới cho một cuộc đời mới. Những cái mới ấy Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả bằng một niềm vui và lễ phục minh họa bằng một tông màu bất ngờ tươi sáng để cùng với Giáo Hội… Xin được gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng.
Vâng! Màu hồng. Nhưng không phải là một thứ ửng hồng e lệ của tình yêu buổi đầu gặp gỡ, cũng không phải là thứ bột hồng điểm trang của hương phấn trong ngày lễ hội, mà chính là màu hồng của niềm vui chan hòa và những chí bền chiến đấu làm nên sức sống và sức mạnh không ngừng gieo hưng phấn trên hành trình đức tin.
Sẽ là dị ứng co cụm nếu chỉ thở dài thất vọng, nhưng sẽ là bản lĩnh hy vọng nếu biết vươn lên khẳng định niềm tin.
(Vũ Duy Thống, Gm)
-o-o-o-o-
Người Do Thái tin rằng việc Chúa sống lại sẽ xảy ra vào ngày tận thế! Các Ki-tô hữu đầu tiên nghĩ rằng Chúa phục sinh khi họ còn sống. Và họ đợi chờ Chúa quang vinh trở lại một ngày gần đây thôi. Nhưng ngày ấy xem ra coi bộ hơi…lâu. Nên họ thua buồn, muốn…ngủ gục hơn là thức canh! Do đó thánh Luca nhắn nhủ họ nên chú tâm đến các dấu chỉ sẽ đến với họ. Nhưng thánh Luca nhấn mạnh chớ run sợ, chỉ cần tỉnh thức. Không nên kinh hãi, vì với việc Chúa đến, thế giới cũ đã ra đi. Tận thế đã khởi sự rồi. Một tân thế giới đang khai sinh. Cần nhận biết các dấu chỉ về sự chuyển biến nầy. Phải luôn thức canh để chuẩn bị việc Chúa trở lại. Tận thế ư? Chớ quan ngại. Trái lại là khác, vì không phải những khốn khổ, bất hạnh sẽ kéo tới, mà chính Con Người đầy quyền năng và vinh quang sẽ đến với chúng ta!
“Cho nên, phàm một ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới cả. Thế giới cũ kỷ đã qua đi và nầy đây một thực tại mới đã lộ diện.”
(2 Cor. 5, 17)

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, mùa đông 2009
-Lê Tân Lộc
-

Sunday, November 8, 2009

MÙA XUÂN NĂM ẤY

MÙA XUÂN NĂM ẤY…

Hỡi cô gái khép đôi tà áo

Xuân nhật đăng lâu vọng cố nhân

Chàng trai phong nhã ngày xưa ấy

Đã bỏ tình riêng theo nước non

Tân dửng dưng trước không khí rộn rã vui tươi tưng bừng đón Xuân Tân Mão 1951. Trắng đêm thức đọc Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh, một tay xoa bóp các vết bầm trên thân thể sau trận đòn do người anh răn dạy mình đã tỏ tình không đúng chỗ với cô gái cưng của ông chef của anh, tay kia lần giở tập học trò với nhiều bài thơ tiền chiến chép tay, Tân thì thầm đọc:

Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng

Nhẹ bảo chàng: “Em chẳng biết gì ư?

Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù

Người nước Việt ra đi vì nước Việt

Tha La vắng vì Tha La biết

Thương giống nòi, đau đất nước lầm than…


Từ dạo bước chân vào trường trung học, càng đọc các truyện về những chàng trai theo kháng chiến chống Pháp -nhứt là các truyện của Thẩm Thệ Hà- Tân càng thán phục họ và cảm thấy lòng yêu nước bị khích động mãnh liệt, thâm tâm nhen nhúm niềm khao khát noi gương họ… “thoát ly”! Các tập truyện mõng nầy do nhà phát hành Nam Cường phổ biến rộng rãi và được giới trẻ -nhứt là giới học sinh- cũng như người đứng tuổi nồng nhiệt đón nhận. Tân vừa say mê vừa cảm động ngấu nghiến đọc Em không về nữa chị ơi, Chiếc hòm chưn nhạn, Xin đắp mặt tôi mảnh lụa hồng, v.v…Nhưng “Nửa bồ xương khô” mới thực sự là quyển sách gối đầu giường của Tân. Phải nhìn nhận thuở ấy, đối với Tân, những truyện viết nầy quá xuất sắc, càng xuất sắc hơn nữa là chúng đã khéo léo “qua mặt” được nàng kiểm duyệt “thông tin” của bộ máy cai trị thời đó, vốn chịu nhiều áp lực nặng nề và sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp. Điều lạ lùng nhứt là chúng đã thành công đẩy lui vào quên lãng những hoài niệm kinh hoàng của Tân tích tụ từ thời cùng gia đình tản cư, hưởng ứng lời kêu gọi “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh! Quả thật,

tuổi thơ vẫn sẵn lòng quên những phát súng những mũi dao của bọn người lớn…


Cuối cùng Tân quyết định sáng sớm tinh sương mùng bốn Tết Tân Mão âm thầm ra đi với Trang, bạn cùng trường ở Vĩnh Long, cả hai vai mang đờn mandoline, tay xách túi nhỏ đựng hai bộ quần áo với một ít tiện nghi vệ sinh hằng ngày. Để qua mắt chính quyền, người “móc nối” kín đáo “gởi” Trang và Tân trên chuyến xe di chuyển gánh hát cải lương Phát Thanh của ông Bầu Tèo sang lưu diễn tại Cái Bè, thuộc quận Cai Lậy, với thành phần diễn viên nồng cốt: đào thương thinh sắc vẹn toàn Nguyệt Yến-“Nữ Thần Trong Động Lửa”, kép mùi Paul Thuận gầy yếu xanh xao, kép độc Hoàng Dưỡng tướng tá bậm trợn, đằng đằng sát khí, v.v… Và hẹn một tuần sau đến đón hai cậu học sinh bỏ trường vô “khu” … Đảo mắt nhìn bao quát lần cuối thành phố còn say ngủ, thành phố tư bề có sông rạch bao quanh, đã yêu thương dung dưỡng biết bao mộng mơ bất thành của mình, Tân khe khẻ ngâm nga:

quê tôi ở giữa kinh thành

có những phố phường nho nhỏ

có những buổi chiều xanh xanh

bụi loãng trong lòng thương nhớ


-*-


Đến hẹn vẫn chưa thấy người móc nối xuất hiện như đã hứa. Hai thiếu niên Tân-Trang bỗng nhiên trở thành hai trẻ lạc loài như RémiMattia trong truyện Vô Gia Đình (Sans famille) của Hector Malot. Tân chợt nghĩ có lẽ rồi đây mình cũng sẽ như Rémi theo ông nhạc sĩ già Vitalis mưu sinh! Được báo cáo có hai cậu học sinh “bỏ nhà theo gánh hát”, ông bầu Tèo và tình nhân Nguyệt Yến vặn hỏi hai đứa muốn họ cho người đưa về nhà chăng. Cả hai đều nhứt quyết “theo gánh hát”, chẳng thể nào dám tiết lộ chờ người dẫn ra “khu”! Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, sự thế đã thế thì đành…gặp thời thế thế thời phải thế! Khởi đầu, bầu Tèo giao cho hai trẻ thủ vai vệ sĩ cho “dũng” tướng Paul Thuận, cứ mỗi lần ra quân phải kéo ro ro vài điếu lấy hơi và phải mặc áo độn cho ngực vung vai u để không quá lép vế trước người yêu Nguyệt Yến, đào lẵng tràn đầy nhựa sống, “trẻ mãi không già”, phu nhân bị cưỡng ép của loạn tướng Hoàng Dưỡng quá ư gồ ghề, “gian ác”. Hai trẻ rất được ông bà bầu gánh cưng chiều và anh chị trong đoàn hát thương mến. Nhờ thế Tân và Trang đỡ tủi thân. Trước mắt, có cơm ăn áo mặc tương đối tươm tất. Riêng Tân có khiếu văn nghệ nên được truyền dạy cổ nhạc. Hai cây mandoline coi như bỏ xó! Thế nhưng, không như Trang có vẻ dễ dàng thích ứng với cuộc sống mới, Tân vẫn thấp thỏm trông đợi người móc nối tới lôi mình ra khỏi “kiếp cầm ca”, để được dịp nhắn gửi người con gái đã khiến Tân bị ông anh mình dần một trận đòn nhừ tử:

Nghe chăng cô gái đô thành nội?

Áo trắng an ninh giữa lũy đồn

Xuân sang rấm rức sầu quê tổ

Ai điểm trang mà em phấn son?


Trong khi chờ đợi, đào chánh Nguyệt Yến sai người hầu cận Bảo Ngọc, một thiếu phụ nhan sắc hiền thục, phong cách thùy mị (phụ trách trang điểm các diễn viên) tới nhờ kép độc Hoàng Dưỡng và Tư Đẹt (nhỏ con, nhẹ cân, chuyên thủ vai kiếm khách “bay” lượn trên sân khấu) trông chừng và truyền nghề cho Tân: Đẹt dạy đánh kiếm, đấu “boa nha” (dao găm). Dưỡng chỉ dẫn điệu bộ trình diễn cải lương và các điệu ca Vọng Cổ, Xàng Xê, Chuồn Chuồn, Nam Ai, Mẫu Tầm Tử, Khốc Hoàng Thiên, Lý Con Sáo, Kim Tiền Bản… Riêng Trang được thầy đờn huấn luyện ghita sáu dây phím lõm; không mấy chốc ngón “nhấn” của Trang được coi như đã nhuần nhuyễn, nức-nở-mùi-mẫn-thốn-tim!


**

Một tháng, hai tháng, rồi ba tháng trôi qua: chẳng thấy bóng dáng người có nhiệm vụ đưa đường dẫn lối hai cậu học-sinh-thoát-ly vào “khu chiến”. Tân và Trang -nhứt là Tân- đành miễn cưỡng tháp tùng gánh hát đi lưu diễn khắp các tỉnh miền Đông Nam Phần. Hằng đêm cùng ăn cháo khuya với Hoàng Dưỡng và Tư Đẹt, Tân được nghe nhiều chuyện bí ẩn, cực kỳ lý thú, khi bức màn nhung đã buông xuống, lúc “sân khấu (đã) về khuya”… -Lúc nãy Tân có thấy gì khác lạ khi hai tay trung thần và nịnh thần đối đáp chăng? Hoàng Dưỡng hỏi. -Họ diễn thực quá! Tát tai nẩy lửa, đối đáp chan chát… -Bởi vì trung và nịnh thần trên sân khấu có mối tư thù ngoài đời. Ông thầy tuồng biết rõ nên mới phân vai quá đúng. Cả hai là tình địch. Nịnh thần cướp tình nhân của trung thần. Cho nên khi trung thần xỉ vả nịnh thần: “Bản mặt nhà ngươi coi bảnh bao vậy chớ cái lưng nhà ngươi đầy thẹo ghẻ ngứa”, anh ta “hát cương” (mà kép nịnh thần ghẻ ngứa đầy mình thiệt!). Và nịnh thần cũng vả miệng trung thần thiệt tình (trả đũa mà!) thay vì giơ tay mặt giả bộ vả, tay trái vỗ vô đùi tạo ra tiếng “bốp”! Tân thấy chưa, sân khấu và cuộc đời nhiều khi không khác nhau lắm đâu! Thảm trạng của những ai theo đuổi nghiệp “dưới ánh đèn màu” là vậy đó: Một số đem cuộc đời lên sân khấu như Tân vừa chứng kiến. Một số, ngược lại đem sân khấu xuống cuộc đời! Câu sanh nghề tử nghiệp coi vậy mà đúng quá! Nốc cạn ly xây chừng rượu thuốc, khà một tiếng nghe thật đã, Hoàng Dưỡng tiếp: -Anh kể Tân nghe vài hiểm nguy nghề nghiệp: Có lần đi hát ở tỉnh lẻ, cô Bích Thuận diễn xuất vai Thúy Liễu (trong Lan và Điệp) quá xuất sắc, đã bị một nam khán giả văng tục mắng nhiếc thậm tệ, thiếu điều muốn trèo lên sân khấu hành hung cổ! Vị khán giả nầy phản ứng kịch liệt như vậy vì ông ta thực tình “thấy” cổ đích thị là…Thúy Liễu! Châm thêm rượu vào ly xây chừng, Hoàng Dưỡng kể tiếp: -Cách đây 2 năm, khi gánh hát mình lưu diễn tại Nam Vang, anh xém bị một ông “đàn thổ” (Cao-Miên) cáp duồn! Cũng vì anh đóng quá “đạt” vai nịnh thần Bàng Hồng! Tay nầy ngồi hàng ghế đầu, phát thinh chửi thề: “Dơ! Tao chem chêt me mây!”. Rồi xách dao xông lên sân khấu toan làm thịt anh! Rất may cảnh sát can thiệp kịp thời, còng tay chàng ta lôi đi. Thế mà ổng còn ngoái đầu lại hét lớn: “Dơ! Tao chơ mây ra đương tao chem chêt cha mây luôn!”. Suốt cả tháng anh chẳng dám ló mặt ra đường ăn cơm tiệm, đành trốn miết trong rạp hát húp cháo cầm hơi, sụt gần chục ký! Lúc giở gánh đi, anh phải núp trong rương quần áo, hia mão mới thoát chết vì ông đàn thổ ổng cầm dao chực sẵn ngoài rạp, hễ thấy anh là…“phụp” liền! Một điểm khá lạ lùng với Tân, không hiểu vì sao Bảo Ngọc có vẻ rất “thương” và tận tụy chăm sóc từng miếng ăn, thức uống, giặt ủi luôn áo quần cho Tân…Đặc biệt hơn nữa, người thiếu phụ xinh đẹp dễ mến nầy cứ nằng nặc đòi Tân phải nằm ngủ sát cạnh nàng! Lý do nàng nêu ra là có Tân kề cận nàng yên bụng đêm khuya khoắc không bị mấy tay kép “thả dê” ẩu tả! Đã có tiếng xầm xì nàng và Tân “bồ bịch”. Dĩ nhiên không có chuyện đó, dù nàng chỉ hơn Tân bốn năm tuổi thôi. Nghe đâu nàng đã một lần dang dở tình duyên. Tân không dám hỏi nhưng nghe đồn kết cuộc rất bi thảm…


***

Thế rồi việc gì phải đến cũng sẽ đến, khi gánh hát trở lại Cái Bè. Tân chẳng thể ngờ lâu nay Bảo Ngọc âm thầm “chăm sóc” Tân là vì đã được người móc nối ở Vĩnh Long giao trách nhiệm tìm hiểu hai cậu học sinh bỏ trường có thực lòng muốn theo kháng chiến chống Pháp chăng. Sau vài tháng theo dõi, quan sát, Bảo Ngọc thấy rõ chỉ còn Tân muốn vô khu… Đêm ấy, như thường lệ, sau khi vãn hát Tân sửa soạn chỗ ngủ sát cạnh Bảo Ngọc. Giữa đêm, một làn hơi ấm thoang thoảng mùi hương bưởi phả vào mặt Tân: khuôn mặt hiền hòa của Bảo Ngọc ẩn hiện huyền ảo dưới ánh đèn măng-xông (manchon) vặn nhỏ…Nàng đưa ngón tay lên miệng ra dấu giữ im lặng, vội vã kéo tay Tân về vùng bóng tối sau cánh gà “đề-co” (décor) trên sân khấu, kề tai Tân yêu cầu gấp rút gom góp hành trang rời gánh hát ngay… Tim Tân đập loạn xạ, thầm nghĩ chẳng lẽ nàng rủ chàng bỏ trốn đi xây tổ uyên ương? Vô lý, lâu nay nàng vẫn xem Tân như người em mà!

-Đi đâu vậy chị? Tân thì thào hỏi.

-Đi đến một nơi mà Ngọc sẽ giúp Tân toại nguyện… Tân đỏ mặt tía tai. Toại nguyện cái gì? Lẽ nào là…“chuyện ấy”? Sao nàng lại xưng tên mình và gọi Tân bằng tên, không như từ lâu vẫn một mực “chị nói em nghe…”?

-Chị nói gì em không hiểu…

-Tân đừng chị chị em em với Ngọc nữa! Chúng ta bình đẳng, cùng chí hướng. Ngọc nói cho Tân rõ: Ngọc là giao liên. Ngọc sẽ đưa Tân vô khu trước khi trời sáng. Từ nay trở đi, chúng ta là bạn và Ngọc sẽ luôn sát cánh giúp đỡ Tân trong mọi tình huống. Yên chí đi, lúc nào bên cạnh Tân cũng có Ngọc, như trước đây lúc nào bên cạnh Ngọc cũng có Tân…Xuồng ba lá ngụy trang đã được chuẩn bị sẵn sàng. Tân không rành đường đi nước bước nơi đây, nhứt là trời còn tối om, nên Tân phải nắm chặt tay Ngọc. Từ đây tới chỗ xuồng đậu mất ít nhứt nửa tiếng đồng hồ. Trong mọi trường hợp Tân không được buông tay Ngọc…


Chàng và nàng vừa bước xuống xuồng thì có tiếng chân người thình thịch bên kia bờ sông! Ngọc vội vã đẩy Tân bật ngữa ra khoang xuồng, nằm sấp lên người Tân, đúng lúc ngọn đèn pha trên lô-cốt quét sáng trưng vào bụi ô-rô đang che khuất chiếc xuồng ba lá cùng lúc với tiếng quát tháo bằng tiếng Pháp:

-Qui va là? Halte-là! (Ai đó? Đứng lại!)


Một tay bịt miệng Tân, tay kia nắm chặt trái lựu đạn đã mở chốt, Ngọc trong tư thế sẵn sàng phản công tự vệ hoặc…tự sát! Một tràng tiểu liên “ria” bừa vào đám ô-rô. Ngọc áp sát người trên Tân, chắc chắn với ý định dùng thân đỡ đạn cho chàng! Một loạt đạn thứ hai “tưới” cầu âu vào lùm cây thăm dò phản ứng. Trong tình thế cực kỳ nguy ngập, Tân vẫn thấy người nóng rần trong đêm lạnh, bởi chưa bao giờ được dịp ngây ngất vì hương vị da thịt của phái yếu…Khoái cảm đầu đời! Đèn pha quét rọi đã tắt ngấm từ lâu nhưng Ngọc vẫn nằm yên trên Tân! Tự dưng Tân ao ước ánh đèn oan nghiệt kia lại chọc thủng màn đêm, từng tràng tiểu liên lại “rót” không ngừng vào bụi cây, cho Ngọc tiếp tục ghì siết Tân thâu đêm…Nhưng Ngọc đã nhỏm dậy, bình tĩnh đẩy xuồng ra khỏi lùm ô-rô: Nàng vẫn không quên trách nhiệm được giao phó!


****

Cuối cùng Ngọc chu toàn nhiệm vụ. đưa Tân an toàn “ra bưng”. Lúc bước lên bờ, đến bìa rừng chồi, Ngọc yêu cầu Tân cho Ngọc bịt mắt để bảo mật lộ trình dẫn tới điểm đến, theo qui định Ngọc phải tuân thủ. Sau khi hướng dẫn Tân đến “ra mắt” người điều khiển khu mang bí danh Tư Rọm, trách nhiệm chiến khu mang ám số C5, Ngọc giữ đúng lời hứa không rời Tân nửa bước, Sự quan tâm của Ngọc khiến Tân đỡ xao xuyến. Không hiểu sao giáp mặt Tư Rọm, Tân cảm thấy rợn người, tâm thần bất ổn trước cặp mắt cú vọ và cái miệng gần như không có môi của hắn, y như miệng rắn!

-Cô Ngọc giao cậu Tân cho Sáu Củi khai tâm về đường lối của Cách Mạng và huấn luyện xử dụng vũ khí, Tư Rọm ra lệnh. Cậu Tân qua bên đó ăn ở luôn với anh Sáu…

-Thưa anh Tư, Ngọc nghiêm mặt trả lời. Huấn luyện Tân thì giao cho anh Sáu. Nhưng Tân phải ở với tôi. Người móc nối Tân ở Vĩnh Long dặn dò tôi rất kỹ phải luôn luôn canh chừng Tân. Anh ấy nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Và tôi không thể trái lịnh…

-Thôi được. Tạm thời, tôi chấp nhận như vậy. Tuy cô trực tiếp chịu trách nhiệm với Bảy Vẹo ở Vĩnh Long, nhưng ở đây là vùng trách nhiệm của tôi, mọi chuyện phải theo qui định của tôi…

-Anh Tư cho Tân theo tôi “hoạt động” vài lần cho quen việc, rồi chúng ta bàn lại…


Trên đường về trạm giao liên -hầm trú ẩn được ngụy trang rất tinh vi, tránh máy bay quan sát khám phá- dành riêng cho Ngọc nghỉ ngơi, Tân thắc mắc: -Sao Ngọc cứ muốn mình ở chung với nhau vậy? Tân thấy Tư Rọm có vẻ hắc ám quá! Anh ta là người Nam mà sao giọng nói lơ lớ như…người Bắc hay người Trung vậy?

-Câu hỏi thứ nhứt của Tân, Ngọc sẽ trả lời sau, vì chuyện khá dài dòng…Tư Rọm là người Nghệ Tĩnh. Hắn bắt chước giọng Nam để giấu biệt gốc gác của mình, cho thiên hạ lầm tưởng hắn là dân địa phương, hầu dễ bề gây cảm tình với quần chúng. Tân linh cảm đúng về hắn đó. Sáu Rọm rất tàn bạo và quỷ quyệt. Ngọc nhắc Tân lần nữa, như mình đã nhất trí: Tân phải luôn bám sát Ngọc.

Ngưng một lúc, Ngọc choàng vai Tân, kề tai hạ thấp giọng:

-Thêm điều kiện nầy nữa cho thật an toàn: Từ nay trở đi, mình phải đóng kịch như đôi nhân tình. Tân không nên xem thường điều kiện mới nầy, vì nó tối quan trọng, có tính cách sinh tử chứ không phải chuyện giả bộ chơi cho vui đâu! Chuyện nầy ít nhiều liên quan tới câu hỏi thứ nhứt của Tân…

Tân định vặn hỏi nhưng Ngọc đã nhanh chóng kéo Tân xuống hầm, đóng nấp lại. Qua ánh đèn bấm, Tân nhìn thấy một thùng gỗ chứa đầy lựu đạn đặt cạnh một cây mi-trai-dết (mitraillette Mas 36) mà Tân thường thấy lính Tây được trang bị.

-Tân nhìn khẩu Mô-ze (Mauser) phòng thân của Ngọc đây. Ngọc sẽ chỉ Tân cách sử dụng. Có dịp, Ngọc sẽ kể câu chuyện về nó để trả lời câu hỏi thứ nhứt của Tân… Trước khi ngọn đèn dầu leo lét được thổi tắt, Tân thoáng thấy Ngọc lên đạn khẩu Mauser…


*****

Suốt hai tuần, Sáu Cũi vừa nhồi nhét “đạo đức cách mạng” vừa tập cho Tân đủ mọi thế ném lựu đạn (và tháo chạy!), tuyệt nhiên không chỉ dẫn gì hết về súng đạn. Ngọc luôn có mặt bên cạnh Tân, đưa chàng về trạm giao liên ngay sau mỗi buổi tập, không muốn Sáu Cũi kéo Tân ra khỏi tầm nhìn của Ngọc nói chuyện riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho Tư Rọm tới ve vản nàng. Tư Rọm bực tức, hậm hực nhìn “hai trẻ” nắm tay “tình tứ” đưa nhau về “động hoa vàng-hầm trú ẩn”! Hắn thèm khát Ngọc từ lâu. Bao nhiêu lần hắn đột nhập vào “sào huyệt” của Ngọc mưu toan hái mận bẻ đào nhưng không kết quả. Lần nào Ngọc cũng mở chốt lựu đạn cảnh cáo hắn nếu sấn tới sẽ buông tay cho cả hai cùng tan xác!

-Ông sẽ cho chúng con biết tay ông! Hắn lầu bầu, miệng méo sệch, sùi bọt mép, cặp mắt cú vọ đỏ rực, trợn trừng trông khiếp vía…


Một tuần sau Tư Rọm giao cho Tân công tác rải truyền đơn. Dĩ nhiên có Ngọc đi kèm. May thay! Nếu không Tân đã bị mật thám Tây bắt hoặc bị bắn hạ khi tháo chạy! Vào giờ chót, Ngọc thay đổi địa điểm do Tư Rọm chỉ định. Thay vì trong nhà lồng chợ, Ngọc canh chừng cho Tân thi hành công tác tại trường tiểu học quận lỵ…

-Tân chớ lo. Ngọc báo cáo địa điểm trong chợ bị địch phát giác…

-Ngọc tài thật. Sao Ngọc biết trước địa điểm nầy nguy hiểm?

-Ngọc sẽ nói rõ ngọn ngành với Tân sau. Tạm thời Ngọc bảo gì Tân cứ y thế mà làm. Nếu không mạng sống Tân sẽ như chỉ mành treo chuông! Trên đường về, Ngọc thay đổi lộ trình nhiều lần…


Đêm đó, dưới ánh trăng lưỡi liềm yếu ớt , ẩn mình trong khu rừng chồi ven sông, Ngọc tiết lộ hành tung khiếp đảm của tay huyện ủy đã khiến Tân rởn óc, lần đầu chạm mặt:

-Hắn tên Đỗ Xảo, năm nay hắn đúng 35 tuổi, giỏi lắm học tới lớp tư trường làng, sống bằng nghề chính bưng mâm rửa chén cho các tiệm ăn; nghề phụ, nhổ răng và thiến heo dạo. Năm 20 tuổi, hắn bỏ xứ trốn vào Nam vì đâm chết một đối thủ cùng trổ nghề cướp giựt, móc túi. Hắn chuyển qua nghề dẫn mối gái ăn sương cho lính Tây. Nhờ vậy hắn được một tên lính lê dương (légionnaire) giới thiệu làm bồi cho vợ chồng một quan hai Tây. Hai năm sau hắn mò vào phòng ngủ đâm chết ông trung úy, rồi hãm hiếp và siết cổ bà trung úy cho tới chết. Từ đó hắn tuyệt tích giang hồ. Nghe đâu nhờ “thành tích” đẫm máu nầy, hắn được kết nạp vào Đảng! Ngọc nghe anh chị em ở đây xầm xì là trước khi đáo nhậm C5 hắn đã trở về quê cũ ném lựu đạn rồi phóng hỏa đốt nhà ông hội đồng Thành, giết sạch gia đình ông nầy cùng vợ và hai con hắn được ông hội đồng cho tá túc làm việc nhà, sau khi hắn can tội giết người bỏ trốn. Nhằm tạo thành tích dâng cho Đảng, hắn không từ nan bất cứ chuyện gì có lợi cho hắn thăng tiến, kể cả việc giết luôn vợ con mình! Hiện nay “quan” huyện ủy nhà ta cuỗm vợ của một du kích xã đã bị Tây phục kích bắn chết. Thiên hạ đồn rằng hắn đã mật báo cho Tây lộ trình của anh du kích! Bây giờ hắn lại muốn “chiếu cố” Ngọc…

-Do đó Ngọc cần Tân sống chung với Ngọc để…

-Đúng vậy. Nhưng còn một lý do thầm kín khác mà từ từ Tân sẽ hiểu…Trong khi chờ đợi, Ngọc có bổn phận bảo vệ Tân và…ngược lại!

-Ngược lại?

Ngọc không trả lời câu hỏi của Tân, trái lại vội vàng ghì siết Tân vì…Sáu Cũi đi tuần tra các tổ báo động ven sông vừa rọi đèn pile vào “chàng và nàng” đang (giả bộ) mùi mẫn!


******

Một tháng sau khi tới C5, Tân bắt đầu nhuốm bệnh sốt rét rừng. Ngày cũng như đêm, Ngọc túc trực bên Tân cạo gió, giác hơi , nấu nồi xông, đút cháo cho Tân cầm cự chịu trận cho cơn bịnh hành hạ. Mỗi lần “làm cử”, đắp bao nhiêu chăn mền đều không ngăn được Tân rét run tận xương tủy, đến độ Ngọc phải ôm cứng Tân “đè” chàng xuống sạp tre, nếu không chắc Tân đã té lăn xuống đất! Ngọc van nài Tư Rọm xin vài viên kí-nin (quinine), nhưng hắn dứt khoát từ chối, viện lẽ thuốc để dành chữa cho các “đồng chí” chiến binh mau bình phục, sớm trở ra trận tuyến. Tân không thuộc loại được ưu tiên săn sóc nầy. Không còn cách nào khác, Ngọc đành liều lĩnh lẻn ra “thành” cầm đôi bông tai mua kí-nin giá chợ đen về cứu Tân qua cơn nguy kịch. Cơn làm cử vừa lơi đôi chút, Tư Rọm giao công tác liền tức khắc cho Tân. Ngọc phản đối. Hắn lạnh lùng “phán”:

-Cách Mạng không thừa cơm nuôi bọn ăn không ngồi rồi!


Lần nầy hắn cho Sáu Cũi “tăng cường” tổ công tác: Tân phải liệng lựu đạn vào một quán ăn trong chợ, nơi lính tráng từ trại binh của Tây thường ra ăn uống. Sáu Cũi lên đường trước, hẹn giao hai trái lựu đạn cho Tân trước cửa chợ. Nửa giờ sau Ngọc và Tân rời hầm trú ẩn, tiến về mục tiêu được chỉ định…Đột nhiên, Ngọc thay đổi lộ trình, kéo tay Tân vô khu rừng chồi, nhờ Tân phụ đẩy xuống nước chiếc xuồng ba lá đã đưa Tân tới C5, đem giấu sau đám lau sậy ven sông.

-Tân giữ trái lựu đạn nầy phòng thân, tuyệt đối im lặng chờ Ngọc trở lại. Ngọc đã lo liệu mọi thứ đâu vào đó rồi. Tân đừng sợ. Ngọc đi đây!


Áng chừng 30 phút sau, một tràng tiểu liên phá tan sự im lặng ban mai. Tân bồn chồn lo lắng cho Ngọc, muốn rời xuồng chạy về hướng có tiếng súng nghe ngóng tin tức, tuy nhiên vẫn cố dằn lòng nằm im, nhớ lời Ngọc dặn dò…Nhưng rồi nhiều loại súng thi nhau nổ ròn tan khiến Tân không còn chịu nổi sự căng thẳng cân não. Tân dợm nhảy lên bờ tiếp cứu đồng đội thì… từ xa Ngọc hỗn hễn phóng tới hối hả bơi xuồng lướt nhanh đi, luồng lách trong hệ thống kinh rạch chằng chịt tìm cách thoát khỏi khu C5.



Đêm đến, Tân “làm cử” dữ dội hơn mọi bận: sau cơn rét run bầng bật suýt làm xuồng lật chìm, Tân nóng sốt mê sảng, ói mữa thâu đêm. Ngọc mệt nhoài choàng ôm cứng Tân ngủ thiếp cho tới lúc mặt trời đứng bóng, Tân vẫn chưa ra khỏi giấc ngủ như hôn mê…

-Tân! Tân! Ngọc lay gọi. Ráng tỉnh dậy đi! Có chuyện nầy rất quan trọng, Ngọc cần bàn với Tân. Mình đã ra khỏi vùng kiểm soát của C5 và cũng đã vượt khỏi khu Tây có thể truy lùng. Sáu Cũi đã bị bắt.. Ngọc cố ý cho “bể” vụ Tư Rọm sai hắn gài bẫy cho Tân sụp hầm Tây. Tràng tiểu liên do Ngọc bắn đã cứu Tân thoát chết. Bây giờ Ngọc dự tính đưa Tân về với gia đình, trở lại trường học. Ở lại C5, Tân không chết về tay Tư Rọm cũng sẽ chết vì sốt rét rừng.

-Làm sao Tân về nhà mà không bị công an bắt về tội trốn ra bưng?...

-Tân yên tâm. Anh Bảy Vẹo đã chuẩn bị rất tỉ mỉ cho chuyến trở về của Tân hoàn toàn êm xuôi với chính quyền Vĩnh Long. Trước mắt, về tới nhà, Tân phải ẩn mặt một thời gian. Anh Bảy sẽ kín đáo cho người đến lo liệu mọi thứ với gia đình Tân…

-Nhưng Ngọc sẽ ra sao nếu Ngọc trở về C5? Chẳng thể nào Tư Rọm tha cho Ngọc và Tân đã bất tuân lệnh của hắn, khiến Sáu Cũi bị bắt…

-Tân không phải lo. Anh Bảy “uy thế” hơn Tư Rọm nhiều, nên hắn không dám đụng tới Tân. Ngọc sẽ báo cáo Tây nó lầm tưởng Sáu Cũi là…Tân! Mà đúng vậy. Vì sau đó Tây mang Sáu Cũi ra giữa chợ bắn bỏ! Điều nầy cho thấy rõ ràng Tư Rọm đã mật báo cho Tây vây bắt Tân và bắn chết ngay, bởi vì hắn đinh ninh Tân là tình địch …

-Càng thêm một lý do nữa để Ngọc đừng quay lại C5! Sao Ngọc không thừa cơ hội nầy ra đầu thú hay trở về hoạt động với anh Bảy? -Có nhiều tình tiết mà lúc nầy Ngọc chưa tiện tiết lộ cho Tân rõ. Nhưng nhứt định Ngọc phải tiếp tục công tác bên cạnh Tư Rọm để chờ cơ hội…

-Cơ hội?...

-Từ từ Tân sẽ rõ. Ngọc thấy Tân còn quá yếu, cần nằm nghỉ lấy sức. Ngọc cũng vừa bán chiếc nhẫn mua thêm vài viên quinine giúp Tân cầm cự vài hôm nữa để Ngọc có thể đưa Tân tới Bắc Mỹ Thuận cùng Tân đón xe đò về Vĩnh Long…

-Tân không đành lòng để Ngọc hứng chịu mọi hiểm nguy thường xuyên với con quỷ dâm ô có cái miệng như miệng rắn, chỉ vì muốn giải cứu Tân…

-Thì Ngọc cũng đã lợi dụng Tân như tấm bình phong để bảo vệ mình trước mưu đồ hắc ám của tên quỷ sứ đó! Vả lại Ngọc có mối thù bất cộng đái thiên với tên lưu manh đội lốt cách mạng nầy. Tân còn nhớ Ngọc nói có dịp Ngọc sẽ kể câu chuyện về khẩu Mauser tùy thân nầy chăng?

Ngọc không nghe Tân trả lời vì Tân lại vừa lên cơn sốt rét kịch liệt…


*******

Tân hồi tỉnh trên căn gác mà các cửa sổ đều được đóng kín, tưởng chừng như vừa giật mình thức giấc sau cơn mộng dữ dai dẳng: Tân bỏ học? Tân theo gánh hát? Tân vô khu? Tân rải truyền đơn? Tân trên đường mang lựu đạn đi ném vào khu chợ búa đông dân cư? Tân bị sốt rét rừng suýt chết? Tân bỏ khu trốn về thành? Ngọc! Ngọc ơi! Ngọc đâu rồi? Mọi chuyện đã thực sự xảy ra như thế hay tất cả chỉ là một giấc mơ dài? Rõ ràng đây là căn gác trên lầu nhà Tân, nơi vừa là phòng ngủ vừa là phòng học của Tân và đứa em trai mà! Lẽ nào do ôn bài thấm mệt Tân ngủ quên trên giường đến độ nằm chiêm bao kinh khủng quá sức tưởng tượng? Thân thể nóng bốc khói, miệng khô đắng, Tân dụi mắt cố gượng dậy. Vừa đứng lên, chàng lảo đảo té sấp xuống sàn gỗ, sặc máu mũi, môi miệng ứ máu sưng húp! Dưới nhà có tiếng chân người vội vã chạy lên cầu thang…

-Tân! Tân con! Ba đây, đừng sợ! Đã 3 ngày rồi con mê sảng… Có người giúp ba lén đưa y tá tới chích kí-nin-mắc (quinimax) nên con mới bớt làm cử. Nhưng con còn yếu lắm, lưỡi con đóng bợn cứng ngắt, nói chuyện khó khăn. Chưn con chưa đứng vững được nói chi tới bước đi. Chờ má con đi chùa Bà Đội thu xếp xong về, ba sẽ đưa con vô đó tạm lánh mặt để chữa trị, tránh chòm xóm dòm ngó. Cô Ngọc nói với ba anh Bảy đã “lo” xong với chánh quyền chuyện con trở về. Họ coi như con lỡ dại ham vui “theo gánh hát” thôi. Anh con cho biết đã được trường con đồng ý cho con trở lại đi học. Con ráng tịnh dưỡng…

-Vậy là con không nằm mơ, phải không ba? Ngọc đâu rồi ba?

-Cô ở lại một ngày, một đêm bên con. Sáng sớm hôm sau cô kiếu từ và nhờ ba má nói với con là cô rất quí mến con. Cô yêu cầu ba giữ cuốn sổ nhỏ nầy nhưng dặn ba chỉ đưa cho con khi tình trạng sức khỏe con khả quan…


Tân cảm thấy cổ họng nghèn nghẹn, mắt cay xè…Ngọc ơi! Bây giờ (Ngọc) ở đâu? Góc biển hay rừng sâu? Chúng ta vĩnh viễn chia tay nhau rồi chăng? Có lẽ Tân sẽ không còn ứa lệ như trước nữa, khi cám cảnh Em không về nữa chị ơi…Mà rồi đây Tân sẽ phải âm thầm thổn thức…Chị không về nữa em ơi! Đã một thời chúng ta tựa vào nhau chống chọi với thói đời ở một nơi mà chúng ta ngỡ là ưu việt, là cao cả, là… cách mạng! Ngọc ơi…

hai cánh bèo trôi bớt lẻ

ta ép chung từng tiếng lệ

sông dài cũng đỡ tràng giang

hia nhau nửa giấc kê vàng


Liên tiếp ba ngày sau khi Ngọc ra đi, một cơn bão rớt trút mưa xối xả xuống thành phố Vĩnh Long. Hệ thống cống rảnh không còn khả năng thoát nước, đường phố chìm dưới nửa thước nước. Riêng con đường mòn từ lộ cái dẫn tới chùa Bà Đội, nước ngập tới lưng quần! Xe cộ vô phương lưu thông, ba Tân đã phải kề lưng cõng Tân lội nước trên 3 cây số, từ nhà đến chùa dưới cơn mưa tầm tã…Tân khóc nức nở thương xót cha già khổ lụy vì con! Nhờ cơn bão rớt, đường phố vắng hoe, cha con Tân an toàn di chuyển trên lộ trình gian khổ đưa Tân đi mai danh ẩn tích trị bịnh… Một tuần cật lực điều trị, lớp uống quinine, lớp tiêm quinimax, Tân hồi lực thấy rõ. Sớm chiều nghe kinh, tâm hồn nhẹ lâng theo tiếng đại hồng chung thanh thoát, tiếng chuông mõ hoà quyện với tiếng ê a tụng niệm, Tân dần dà tìm lại được an bình nội tâm.


********

Bước ra sau chùa, tìm bóng mát dưới tàng cây đa, Tân lần mở quyển sổ tay của Ngọc ..mở đầu với 4 câu thơ khiến Tân đau nhói trong tim:

Mây sớm nay về u ám quá

Đường sầu ướt át phố mờ sương

Ta xé lòng nhau làm mấy mảnh

Anh một phương và tôi một phương


“Tân thương mến,

Không nỡ rời Tân đang đau yếu, nhưng Ngọc không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc ra đi, dù thâm tâm vẫn muốn luôn kề cận Tân để bảo vệ. Không như lúc chúng ta sớm tối có nhau ở C5, nấn ná, bịn rịn với Tân lúc nầy Ngọc sẽ gây nguy hiểm chẳng những cho Tân mà còn cho cả gia đình Tân. Ngoài ra, Ngọc còn món nợ to lớn phải thanh toán với Tư Rọm. Anh Bảy yêu cầu Ngọc giao cho anh ấy giải quyết, nhưng Ngọc không đồng ý. Ngọc phải đích thân ‘tính sổ’ với hắn… Chỉ một thời gian quá ngắn sinh hoạt với gia đình Tân, Ngọc nhận ra ba má Tân thương con hết lòng, hết sức, nhứt là ba Tân. Suốt thời gian Tân vắng nhà, ông bỏ bê công việc, suốt ngày thất thần buồn bã, lắc đầu thở dài, không màn tới chuyện uống rượu vốn đã thành thói quen của ông sau giờ trại mộc đóng cửa. Má Tân kể ba Tân vốn vô thần, chẳng những không tin tưởng gì hết mà còn châm biếm bà mê tín dị đoan, thờ ‘Chà Và’ (Phật), ‘Chệt’ (Quan Công, Cửu Thiên Huyền Nữ) v.v…Thế mà khi Tân bỏ nhà ra đi, bà thuyết phục được ông vô chùa lạy Phật và thắp nhang chắp tay xá trang thờ Bà Cửu Thiên cầu xin phù hộ cho Tân an lành trở về! Ngọc đoán Tân rất nôn nóng muốn biết rõ việc gì đã xảy ra giữa Ngọc và tên huyện ủy ác ôn của C5. Hôm nay Ngọc sẽ kể đầy đủ tình tiết… Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu (ba mẹ Ngọc đều dạy học), mẹ qua đời khi Ngọc vừa bước vào tuổi 16. Ba ở vậy nuôi con mà Ngọc là đứa con đầu đàn. Ông đốc học của ba muốn Ngọc về làm dâu ông. Mà Ngọc đã trót yêu Bảo, đang học Luật. Cũng như Tân, chịu ảnh hưởng những chuyện viết về kháng chiến chống Pháp, Bảo ‘thoát ly’...Rồi thuyết phục Ngọc bỏ nhà, tránh bị cưỡng ép kết hôn. Khởi đầu hai đứa hoạt động với anh Bảy. Sau đó được điều tới tăng cường cho C5. Ngay buổi tiếp xúc đầu, Bảo đã nghi ngờ tư cách ‘khó khá’ của Tư Rọm. Hình dong, dáng dấp của hắn gần như thường xuyên toát ra tính chất mờ ám…Riêng Ngọc thì bắt gặp ánh mắt thèm thuồng như muốn lột trần Ngọc ra và cái nhìn quá ác cảm chỉa về phía Bảo của hắn! Vài lần hắn giao công tác cho hai đứa, Bảo không còn nghi ngờ gì về tính gian manh của tên dâm tặc tàn nhẫn nầy. Bảo nhứt quyết phải vạch trần bộ mặt thật của hắn để vĩnh viễn khai trừ hắn ra khỏi hàng ngũ kháng chiến quân. Cơ hội diệt trừ hắn đến, khi hắn sai Bảo đi ám sát con yêu râu xanh người Cọt (Corse) - Xếp sòng công an liên bang (sûreté fédérale) Pháp, trách nhiệm truy lùng khu C5- chuyên hãm hiếp phụ nữ địa phương chẳng may bị hắn nghi ngờ hoạt động chống Tây bắt giam. Tư Rọm không đồng ý Ngọc theo trợ lực, nhưng Ngọc vẫn bí mật tới yểm trợ Bảo… Hai đứa tin chắc tài liệu về hành tung bí hiểm của hắn nằm trong tay của tên Corse dâm đãng. Phen nầy hắn vô phương chạy tội. Nhưng…ai ngờ hắn cao tay ấn hơn, mật báo cho tên trùm lính kín. Nhằm tuyệt đối bảo mật -đề phòng nội tuyến- tên nầy đơn độc phục kích sát hại Bảo với khẩu Mauser mà Ngọc đã cho Tân xem qua…Hắn không ngờ Ngọc có mặt, có lẽ Tư Rọm đã cam kết với hắn rằng Bảo sẽ đi một mình. Ngọc bắn hạ, tướt đoạt khẩu Mauser trên tay hắn, lục túi áo hắn lấy mảnh giấy -chứng cớ ràng ràng về sự hãm hại độc địa anh em kháng chiến của tên huyện ủy gian xảo- đau lòng bỏ xác Bảo cạnh xác tên quỷ sứ, gấp rút vượt thoát đám lính Tây đang ùa tới truy nã… Ngọc ẩn mình trong rừng suốt đêm, khóc thương Bảo hết nước mắt, tim quặn thắt đau đến mức sắp quị ngả nhưng cố lấy lại bình tĩnh, thản nhiên đến báo cáo Bảo đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ ám sát tên Corse-trùm-lính-kín. Cho nên Tân yên tâm: Tư Rọm không biết Ngọc đã rõ hết hành vi tàn độc của hắn mượn tay kẻ thù giết chết Bảo. Trái lại hắn yên chí sớm muộn gì Ngọc cũng sẽ rơi vào vòng tay thô bạo của hắn vì không còn ‘chướng ngại’ Bảo ngăn trở. Cho tới khi Ngọc nhờ Tân đóng kịch nhân tình…Một công hai việc: Chúng ta bảo vệ lẫn nhau và qua cách hắn âm mưu hãm hại Tân, Ngọc thu thập thêm bằng chứng về dã tâm sát hại đồng đội để rảnh tay cưỡng chiếm vợ con họ…” Tân ngước nhìn lên không trung, thầm cầu xin Trời Cao phù hộ cho Ngọc, giờ đây đang liều lĩnh trở về hang hùm C5, rình chờ cơ hội hạ thủ độc-xà-huyện-ủy Đỗ Xảo! “Sau cái chết tức tối của Bảo, Ngọc xin anh Bảy đổi bí danh thành ‘Bảo-Ngọc’, để vừa tưởng nhớ Bảo vừa nhắc nhở Tư Rọm ‘giao liên’ Ngọc hiện thuộc diện goá phụ tử sĩ hy sinh vì cách mạng, bất khả xâm phạm…tiết hạnh! Vậy mà hắn cứ lăm le giở trò bỉ ổi… Tân yên tâm dưỡng bịnh để trở lại học đường. Ngọc chắc chắn Tân sẽ thành công mỹ mãn trên đường học vấn và tin tưởng mãnh liệt sau nầy Tân sẽ nhiệt thành đóng góp sức mình cho đất nước hữu hiệu hơn. Phần Ngọc, Tân chớ lo: Ngọc đủ sức đối phó với Tư Rọm. Ngọc được biết ít nhứt có 3 người đang ra sức truy tầm hắn, đòi hắn trả nợ máu: Cô em vợ hắn, cậu em trai ông trung úy Pháp bị hắn đâm chết và ông anh bà trung úy bị hắn hiếp dâm rồi siết cổ chết. Chưa kể thân bằng quyến thuộc của ông hội đồng mà hắn đã tàn sát hết cả nhà… Ngọc hy vọng thành công xử tội hắn với khẩu Mauser đã hạ sát Ngọc, cho thân nhân các nạn nhân của hắn khỏi nhọc công ra tay… Tân sẽ được thông báo đầy đủ chi tiết về số phận của Tư Rọm một ngày gần đây. Hắn và đám em út tay sai của hắn không dám chạm tới Tân vì anh Bảy đã bố trí nghiêm nhặt chờ ‘đón tiếp’ rất kỹ bọn hắn. Tân đừng liên lạc với anh Bảy để tìm cách gặp Ngọc. Cứ coi như Ngọc đã biến mất trong trí nhớ của Tân. Hãy trở lại nếp sống thư sinh, chuẩn bị hành trang vào đời hữu ích hơn, phong phú hơn, nhân ái hơn…

Giao Thừa Tân Mẹo-Nhâm Thìn 1952

Vĩnh biệt Tân,

Bảo-Ngọc ”


Tân thẫn thờ dạo quanh sân chùa, thì thầm:

Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi

Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết

Và dấu giầy mai sẽ lá sương che


Bất giác Tân ngậm ngùi nhớ đến Tha La xóm đạo:

Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

Bao người đi thề không trở lại nhà

Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!...


*********

Lại thêm một mùa xuân lữ thứ! Tân thầm nghĩ. Mùa xuân tha hương thứ 30. Tân chợt nhận ra hầu hết các chuyển biến quan trọng đều đến với Tân vào mùa xuân. Nhìn lại những mùa xuân đã đi qua đời mình chỉ còn mùa xuân năm ấy -mùa xuân ra đi với duyên số gặp gỡ “người tình bất đắc dĩ”, mùa xuân quay về với duyên phận vĩnh viễn lìa xa “người ân xưa”- vẫn chưa phai mờ trong tâm trí Tân ở ngưỡng cửa mùa xuân mới, mùa xuân thứ 57 từ độ Ngọc tuyệt tích giang hồ… Chỉ một lần duy nhứt Tân nhận một lá thư Ngọc cho người mang tới trao tận tay, sau khi Ngọc rời Tân được một năm:


“Tân thương mến,


Như đã hứa, Ngọc xin vắn tắt báo tin cho Tân rõ: Ngọc đã thành công tự tay nã đạn vào ngay tam tinh của Tư Rọm với khẩu Mauser đã sát hại Bảo. Hắn đã trúng mỹ nhân kế, theo Ngọc vào khu rừng chồi, tưởng rằng sẽ được ân ái với Ngọc. Năm anh em bên anh Bảy gởi qua phục kích chận bắt trói gô rồi buộc hắn quì nghe đọc cáo trạng về tội ác tày trời của hắn. Sau khi trưng các bằng cớ về sự phản trắc của hắn, bán rẻ sinh mạng anh em cho thực dân Pháp để cưỡng hiếp người phối ngẫu của họ, Ngọc thi hành bản án tử hình dành cho tên cuồng dâm, phản dân hại nước Đỗ Xảo, bí danh Tư Rọm! Tuy nhiên, để tránh hoang mang trong hàng ngũ kháng chiến, tên tử tội cực kỳ lưu manh nầy được ‘tuyên dương’ tử trận vì…phục vụ cách mạng! Và được chôn cất tử tế. Ngọc phản đối, nhưng không kết quả… Ngọc đã làm xong hoàn mỹ hai việc mà Ngọc hết sức tha thiết:

-Đưa Tân trở lại học đường cho khỏi uổng phí một bàn tay, một con tim, một khối óc hữu dụng cho đất nước sau nầy hơn là để nguồn năng lực tiềm ẩn nầy bị nhóm người thiếu tư cách như Tư Rọm hoang phí.

-Rửa hận cho Bảo đã chết tức tửi vì một tên vô loại dùng xương máu anh em lập thành tích, mưu đồ tạo cho mình một ‘sự nghiệp cách mạng’! Thôi thì từ nay trở đi, xin Tân hãy coi như Ngọc đã vĩnh viễn tan loãng trong sương khói rừng rậm…”


Cũng chỉ một lần duy nhất Tân dò la tông tích Ngọc, 10 năm sau khi đọc lá thư trên, trong một lần hành quân qua thôn xưa: khu rừng chồi ven sông hầu như vẫn không thay đổi. Tân tưởng chừng như Ngọc vẫn còn quanh quẩn đâu dây, kéo Tân xuống xuồng dùng thân mình đỡ đạn cho Tân. Hỡi ôi!...

về đây ta lại về đây

về đây mây trắng trôi hoài ngàn năm

về đây hoàng hạc mất tăm

về đây lặng đứng âm thầm chốn xưa


-o-o-o-

Cao tay nâng ly rượu đỏ chào mừng mùa xuân năm ấy, Tân nhắn gửi người năm xưa chẳng bao giờ còn trông thấy nhau lần nữa:

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó

Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau

Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu

Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá


Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, Xuân Canh Dần 2010

Lê Tấn Lộc

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-Ghi chú: *Thơ trong bài nầy mượn của các nhà thơ Vũ Anh Khanh, Vĩnh Lộc, Kiệt Tấn, Nguyễn Đình Toàn… **Người viết sửa đổi tên một số nhân vật, nhằm tránh gây phiền toái cho họ -nếu còn sống- và gia đình họ -nếu còn ở Việt Nam. -LTL-