Thursday, May 29, 2008

Thư cho Kiệt Tấn




Nay ta thèm rượu nhớ mong ai,
Một mình rót cạn uống chẳng say.

Em thương mến,

Bốn buổi sáng chói chang đã đi qua cửa patio trông ra rặng cây xanh tươi mát đang lả ngọn như mời gọi anh viết bất cứ cái gì cho em. Để tự khích mình, anh đã độc ẩm hơn nửa chai pernod mang về từ Orly, mong tháo gỡ nốt những trăn trở cuối cùng còn sót lại trong tiềm thức. Hoài công.
Sáng nay, cũng một buổi sáng rất đẹp trời, anh lại ngắm nhìn rặng cây trước patio -không có chất men thúc đốc- mà mơ tưởng mình đang
ngồi đây đợi nắng bình dương
tương tư phố nhỏ bụi hường lao xao

với Trâm, em, Nhựt, Thứ và Danh. Văng vẳng đâu đây tiếng nhạc sầu:
paris thu xám, vàng thêu,
anh đi giữa phố, nắng chiều không lên…

Phút chốc anh mơ ước trời đổ mưa thay cho những giọt nước mắt, lẽ ra phải có khi anh không còn nhìn ra được em sau khung cửa mở của căn nhà «thượng tầng không khí», lầu 15 chung cư Bagnolet, để làm ướt mắt chúng ta qua cái choàng ôm vội vã ở Orly ngày chia tay, sau ba tuần hội ngộ nhanh như chớp…Làm sao ta có thể ôn lại những gì đã đi qua đời anh em chúng ta -phần nào đã được phơi bày trong Nụ cười tre trúcThương nàng bấy nhiêu- suốt thời gian dài đăng đẳng từ thuở ấu thơ tới nay, chỉ trong khoảnh khắc 21 ngày? Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, Nghìn năm chưa dễ đã ai quên.

Anh trộm nghe có người ngờ vực anh em ta vô luân. Nghĩ cho cùng, chuyện chúng mình cũng công-xúc-tu-
lắm, dù anh chắc em cũng đồng ý ta chỉ muốn -xúc-nữ-sĩ thôi. Bởi, em thấy không, bất cứ khúc quanh nào trong cuộc sống chúng ta cũng đều có bóng dáng yêu nữ (người nữ đáng yêu) chập chờn, bất cứ thành phố nào còn lưu lại trong ký ức chúng ta đếu là thành-phố-mang-tên-em, bất cứ con đường nào ta đã đi qua cũng đều là con-đường-xưa-em-đi…Đa tình hay đa dâm ? Anh thua em ở chỗ: Giữa tình yêu và tình dục, nếu bị ép bỏ một thứ, có lẽ em sẽ giữ lại tình dục. Anh thì…anh giữ cả hai thứ, bởi với anh, tình mà không dâm cũng như rượu ngon mà không có đồ nhấm hợp khẩu; dâm mà không tình cũng như thức ăn cao lương mỹ vị mà không có bồ đào mỹ tửu.
Cố nhiên, rượu ngon không có bạn hiền cũng hóa rượu dỡ. Thế nên tôi có mời anh. Dự hay không, tùy hỉ. Nhưng xin anh, nếu không nhập cuộc thì đừng có la sảng tôi dâm ô đồi trụy. Thây kệ anh, nếu anh muốn tìm sự thanh thản cao quí. Mặc kệ tôi, nếu tôi nhào vô cái «cõi đời ô trọc» nầy. Anh cho anh đeo đuổi niềm vui thanh cao. Anh nói tôi chạy theo lạc thú thấp tè. Cám ơn, anh khỏi cần ``giải phóng`` tôi. Xin lỗi anh, về cường độ sướng tôi thấy nó cũng ngang nhau: Anh hả hê sau khi ra tuyên ngôn, đọc cương lĩnh cứu nguy nhân loại hoặc với một đoạn kinh, một bài giảng. Tôi cũng sướng rân, cũng đã lắm với một ngụm rượu đỏ kèm cục thịt bò bít-tết. Chưa chắc ai sướng hơn ai. Nghĩ cho cùng, ai cũng tìm «sướng» hết, kể cả tên khổ dâm: hắn tìm thú đau thương đấy chứ!
Trời đất! Anh đâm hơi rồi. Trở lại chuyện chúng ta: Anh em ta vô luân? Khắt khe chi lắm vậy, người anh em?
nỡ đâu trách tội tơ tằm,
nỡ đâu thống trách trăng ngầm gợi mơ?
tình nào không chút bơ phờ?
yêu thì không nói bao giờ…xót xa!
Thế nên ngoái nhìn lại đoạn đường đã đi, anh không chút chi hối tiếc. Cái chất nữ, theo anh, đã trút đổ xuống chúng ta như mưa tắm gội, nắng sấy ấm tạo vật. Bóng dáng người nữ mỹ miều tô mầu hồng lên cuộc đời xám xịt của chúng ta. Cây cỏ mà không có nắng mưa thì làm sao nẩy nở, trường tồn ? So, take it easy!

Hai mươi mốt ngày tái đoàn tụ của «anh em nhà họ Lê», hết 7 ngày mưa thúi đất, 5 ngày thuốc an thần đè em ngủ thiếp, 4 ngày em vác cày xuống núi. Nhưng chuỗi ngày ngắn ngủi bên nhau quả là hạnh phúc (xin miễn định nghĩa, chứng minh). Những gút mắc đã được tháo gỡ, những ẩn ức đã được vạch trần, những vọng chấp đã được hóa giải với hy vọng phá chấp. Chúng ta đã cho nhau những trận cười lăn chiên lăn ngửa. Cười lên đi cho đỡ táo bón!
Ít nhiều anh cũng bị méo mó nghề nghiệp («Tôi đam mê hiểu biết con người-J’ai la passion de comprendre les hommes.»,J.P.Sartre). Xấc chưa! Đó là cái giá phải trả cho thân phận làm người. Tình thật anh không có tham vọng phác họa một thứ profil psychologique. Anh chỉ khám phá mình chưa hết ngạc nhiên về cặp bài trùng Kiệt-Lộc, vốn rất khác biệt nhau về nhiều điểm. Em, hướng nội. Anh hướng ngoại. (Ráng chịu các danh từ hàm hồ nầy nghe em). Do sự khác biệt cơ bản này, các chấn động bên ngoài, tuy thâm nhập tâm hồn em và anh cùng cường điệu, nhưng phản ứng hai đứa hoàn toàn theo hai cách chuyên biệt: ở em, «những kinh nghiệm, xúc cảm, suy tưởng(…)được ấp ủ, tích lũy như một thứ rượu quý, để đến một lúc nào đó, không thể dừng được nữa(…)để mặc cho xúc cảm tuôn trào nơi ngọn bút».Nơi anh, sự «ấp ủ, tích lũy» này rất ngắn và…không mấy chốc đã trào ra cửa miệng! Tâm hồn anh như chỉ là một relais, một trạm trung gian. Trước đây, anh đã nói với em: «Em viết được những gì anh muốn nói. Anh nói được những gì em muốn viết »…Thế nên, thông thường em chỉ nói 10% điều em nghĩ. Nhưng gặp cơ hội thuận tiện 90% ấp ủ, tích lũy nấy tuôn ra hết. Do đó em không thể không ngất ngư, như hết hơi bình (batterie à plat). Anh, trái lại, thông thường đã tuôn ra hết 90%. Có điều 10% còn lại, nếu có dịp cũng chỉ trào ra 9%. Cái 1% sót lại đó chính anh cũng không còn nhớ, nhưng biết chắc nó có đó, có như một donnée cho vào máy điện toán, có như cái ngăn trở cuối cùng không cách chi giải tỏa, ngoại trừ phát điên. Mà điên cũng có nhiều cách, cũng không phải dễ. Bởi vì, như một triết gia đã nhận ra : «Người điên là kẻ mất tất cả, trừ lý trí »

Hai đứa là bạn đồng hành thường xuyên trong tình trường. Với anh, cũng giông tố bão bùng lắm, nhưng tai ương còn lại chỉ là những nếp nhăn nho nhỏ như dấu chân chim trong tâm can. Với em, những tàn phá chỉ kinh hồn khi bộc phát như một hoả diệm sơn chuyển mình dưới lớp tuyết phủ nhiều năm. Trên một bình diện nào đó, cơn điên là một thứ xú-bắp an toàn, một phương thức tự trị liệu căn bệnh trầm kha nơi em : lúc cuời, lúc khóc, vật vã, hành xác...
Em vào đời bằng nguyên khối trực-giác-xúc-cảm. Anh, với những lắc léo của lý-trí-suy-luận. Từ điểm khởi em đã bắt gặp cuộc sống. Anh quanh co rồi cũng tới nơi. Sức mạnh của nguồn sống đã vật em đảo điên. Những cạm bẫy của tư duy đã đưa anh vào ngõ cụt: lò cải tạo. Từ đó anh bắt gặp Niềm Tin. Tình Yêu và Niềm Tin đã là hai chiếc nạng chống đỡ anh trong cái «đại học máu» hoàn toàn bưng bít bởi cuồng tín và giáo điều của đàn cừu Mác-Lê. Đừng hỏi tại sao con người vô thần như anh trước đây, giờ lại tin Thượng Đế. Niềm Tin đến với anh như một nhu cầu sinh tử. Tôi tin. Giản dị thế thôi. Tôi không cần đến các luận cứ chứng minh sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng Đế. Niềm tin tự tại nầy của tôi, không một quyền lực nào có thể tước đoạt. Tôi không khuyến giục anh tin, nhưng anh cũng không thể cấm tôi tin. Cùng lắm anh chỉ có thể cấm tôi hành đạo theo nghi thức. Mà tôi không hề có ý định làm một thánh tử đạo, cũng không có ý muốn nhận huy chương anh hùng cải tạo như một số rất hiếm hoi anh em chúng tôi trong tù đã ngang nhiên -can đảm thay!- dùng miệng lưỡi đấu với vũ khí của bọn chúa ngục các anh. Cùng lắm, tôi cũng chỉ có thể lặp lại câu đốp chát của anh thanh niên Phục Quốc chẳng may rơi vào tay các anh: «Anh có ngon, đưa tôi cây súng hoặc vứt bỏ cây súng anh đang cầm trên tay. Như vậy, chúng ta có thể nói chuyện hay đấu chưởng bình đẳng hơn…».
Anh lại đâm hơi nữa rồi! Lại trở về quá khứ, lại bị ám ảnh bởi cơn ác mộng hãi hùng bị bắt giữ, cưỡng bức «cải tạo»!..Thật khó lòng trả lời câu hỏi của em : Chuyện nào em viết, anh thích nhất? Chuyện nào em viết gây xúc động cho anh nhất? Độc giả chưa kịp phỏng vấn tác giả đã bị tác giả phỏng vấn rồi! Chắc chắn anh đã khóc, đã cười, đã «rất đã» khi đọc Kiệt Tấn. Đâu phải em là em ruột của anh mà anh không được quyền rung cảm, phải không? Rằng quen mất nết đi rồi, Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao…

Mấy giây phút cuối ở Orly, anh đã nhắc lại nhiều lần với em: Anh không ngừng bận tâm về em, dẫu anh vẫn biết chìa khóa hội nhập cuộc sống đang nằm trong tay em. Như em thường nói: Thiên đàng hay Địa ngục cũng chỉ nằm trong đầu chúng ta. Như anh vẫn thường nói: Chỉ cần một chút thôi cũng đủ để hạnh phúc hay để…bất hạnh ( Il a suffi de peu pour être heureux ou…malheureux.). Cùng lắm anh chỉ có thể trỏ cái ổ khóa nơi cánh cửa mở tới những gắn bó với vợ con, gắn bó với anh em, gắn bó với bạn bè, gắn bó với cộng đồng, gắn bó với quê hương. Anh tin –và hằng cầu nguyện- cuối cùng em sẽ tra đúng chìa vào ổ khóa mầu nhiệm đó. Anh biết em dị ứng với hai chữ cầu nguyện. Xin hãy hiểu: cầu chúc và ước nguyện…
Như một niềm tin –đồng thời cũng là một hi vọng- anh mơ ước cái chết tức tưởi của Tuyết-Đêm-Cỏ-Tuyết trước đây và sự trở về tro bụi của Louise-Yêu-Em-Xứ-Tuyết sẽ như căn duyên đã được giải, để đem em trở về với loài người đang được đẻ ra, ăn uống, giỡn cười, la khóc, yêu đương…Anh tin em làm được, bởi anh thấy sức yêu mãnh liệt nơi em tuôn chảy đến mọi người, mọi vật, mọi thứ…

Chót hết, anh hỏi em: Biết bao giờ anh em chúng ta sẽ lại là láng giềng lân cận như khi xưa ở Hàng Xanh? Phải đợi đến lúc mỗi người, tay chống gậy, chân nhích từng bước đi chăng? Và chân trời nào đây sẽ là điểm hội tụ? Quê hương hay xứ người? Câu hỏi ném lên không trung, chỉ có sóng gió rì rào trả lời. Phải chăng đó là nỗi buồn của chúng ta hôm nay ?


Thôn trang Đổ-Lá-Đầy-Ấp-Mơ, Xứ Tuyết, Hè 1989
- Lê Tấn Lộc -

Thiện…




Sổ tay góp nhặt

“Ồn ào ít khi làm nên điều tốt, việc thiện rất ít khi gây tiếng động.”
(Saint-François de Sales)

Không riêng gì bạn hay tôi, mà hầu như tất cả những ai đã từng may mắn được giúp đỡ để vượt qua cơn hoạn nạn, thường hứa hẹn là sẽ tận tình trợ giúp người khác đồng cảnh ngộ mà mình đã “kinh” qua: Chẳng hạn, đám “thuyền nhân” chúng ta hay “van vái trời phật”, nếu được phù hộ thoát hiểm và được an toàn đi định cư thì sẽ tận tình hướng dẫn, ủi an, nâng đỡ anh chị em mình bơ vơ, bỡ ngỡ trong những ngày đầu trên đất tạm dung thân. Thử nhớ lại xem lời tuyên hứa thiêng liêng đó đã được thực hiện lần nào chăng? Nói chi tới bỏ tiền ra giúp, ngay cả bỏ chút công sức cũng chưa chắc đã có!
Khách quan nhận xét, người Việt tị nạn chúng ta đa số thành công trong việc hội nhập với môi trường sống mới: Con cái đỗ đạt rạng rỡ tông môn, cửa nhà khang trang đồ sộ, công việc làm ăn phát đạt, địa vị xã hội khả quan, tương đối có “bề thế”… Nhưng ý niệm “làm việc thiện nguyện” hầu như hoàn toàn trống vắng trong hệ tư tưởng của tuyệt đại đa số chúng ta…
Dĩ nhiên người Việt xa xứ có lập nhiều hội đoàn hoạt động như một cơ quan từ thiện. Cũng rất đông thiên hạ đua nhau lấy tư cách cá nhân hay lợi dụng danh nghĩa đoàn thể nầy, cộng đoàn kia tổ chức tiệc tùng đình đám, văn nghệ dạ vũ gây quỹ cứu nguy những kẻ khốn cùng…” Của người, phước ta”, thường là mẫu số chung khá phổ quát. Tuy vậy, có còn hơn không. Dù khó tránh yếu điểm khoa trương thành tích nhằm thỏa mãn tự ái cá nhân -vốn ít nhiều ưa thích năng “nổ”- phải thừa nhận số đông tranh nhau làm việc thiện nầy ít ra cũng có ý hướng tốt giúp đỡ đồng loại kém may mắn. Còn hơn là ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh lầm than của người chung quanh, phải không?
Thế nhưng, Nhỏ-bé-thôi nhận thấy, ngoài việc hưởng ứng lời kêu gọi quyên góp tiền bạc của các cơ quan từ thiện, một dòng viên Phan Sinh Tại Thế hèn mọn, nghèo khó, trong phạm vi nhỏ bé vẫn có thể tự góp sức mình làm nhẹ bớt phần nào nỗi cơ cực của người anh em bất hạnh hơn mình.
Xin kể câu chuyện có thật sau đây để cùng nhau suy gẫm:

Tháng 8/1986, toàn thân Clermont Bonnenfant, cư dân Longueil, 26 tuổi, dập gẫy tan nát trong một tai nạn môtô. Tuy vậy, anh vẫn không hôn mê. Và trên xe cứu thương đưa anh tới bệnh viện cấp cứu, anh cầu xin: “Lạy Chúa! Nếu Chúa cứu con ra khỏi cơn nguy ngập nầy thì con xin hứa, khi đến lượt con, con sẽ tận lực giúp đỡ kẻ khác…”.
Sau 21 cuộc giải phẩu và sau 10 tháng nằm liệt giường, Clermont rời bệnh viện Charles LeMoyne. Nói năng, đi đứng rất khó khăn, điếc một tai; nhưng anh không chết.
Bước đầu, Clermont không giữ lời hứa thiêng liêng trong cơn thập tử nhứt sinh, trái lại tinh thần anh bệ rạc vì nghĩ rằng cuộc đời tàn tạ của mình kể như vứt đi. Nhưng tình cờ anh tiếp cận một người đồng cảnh ngộ với anh, đang ôm ấp một ý nghĩ điên rồ là đi thu nhặt các khoen mở (languettes) trên nắp các lon bia và các lon nước uống khác để tự sắm cho mình một xe lăn!
Clermont tiếp tay người nầy thực hiện và hoàn tất hoài bảo của anh ta. Cùng lúc, Clermont nhận thấy “ý nghĩ điên rồ thu nhặt languettes” quá tuyệt vời và Clermont quyết định đơn độc tiếp tục “công trình” rất gay go nầy. Phải mất 5 tháng dài, anh mới thu nhặt được đủ 1 triệu 144 nghìn khoen mở để đổi lấy chiếc xe lăn tay đầu tiên tặng cho một cụ bà mà khả năng di chuyển rất hạn chế.
May mắn thay, Clermont được ông Mario Lefebvre, nhà thầu vật liệu thải hồi (recycleur) nhận mua tất cả các khoen mở mà Clermont thu nhặt, với giá 70 xu một livre thay vì 50xu, nếu mua của người khác.
Hiện Clermont đã thiết lập được 70 địa điểm tập trung các khoen mở thu nhặt, chỉ riêng ở Longueil thôi! Và, mùa hè cũng như mùa đông, Clermont không ngừng đạp xe đạp ba bánh giao hàng và nhận hàng trao đổi: xe lăn! “Chỉ những khi tuyết rơi quá dữ dội, Clermont mới đi xe buýt giao hàng, Mario Lefebvre nói. Mỗi tuần, hắn ghé tôi ít nhất một lần…”
Từ 1990 tới nay, Clermont đã xài qua 7 xác xe đạp ba bánh cho công việc thu nhặt nầy! Anh không thể đếm và nhớ nổi đã đạp xe bao nhiêu cây số rồi. Nhưng anh có thể đếm và nhớ số hoen mở đã thu nhặt: 1.144.000 khoen cho một xe lăn tay; 3.784.000 khoen cho một xe lăn có động cơ. Cho tới nay, để hoán đổi được 150 xe lăn tay và 12 xe lăn máy cung cấp miễn phí cho người khuyết tật, Clermont đã phải thu nhặt tới 165 triệu khoen mở!
Càng may mắn hơn nữa là “tiếng tăm” của Clermont vượt khỏi giới hạn thành phố Longueil! Anh nhận được nhiều kiện hàng “khoen mở” gửi giúp, chẳng những từ các nơi khác trong tỉnh bang Québec mà còn từ Floride, Connecticut… Cách đây 2 năm một số người thiện chí ở Saint-Jovite đã chuyển bằng camion 9 kiện hàng khoen mở cho anh!
Có lẽ rất nhiều người cũng cảnh ngộ với Clermont sẽ than van trách cứ, cáo buộc chính phủ không trợ giúp đúng mức. Nhưng thay vì kêu ca, thưa gởi, than trách, Clermont đã hành động. Con người mà cuộc đời đã quật ngã lại chọn giúp đời qua cách giúp đỡ kẻ khác khốn đốn hơn mình!

Thôn trang Ven-Sông, Mùa Đông 2008
Nhỏ Bé Thôi

Thầy Tư Hón



Thầy Tư Hón

Người đàn bà luống tuổi vẫn còn giữ được phong cách nhanh nhẹn của một vị cao niên mà sức khỏe vẫn còn tốt, ánh mắt đã bớt long lanh, có phần “hom hem” nhưng vẫn không sút giảm nét linh động, nụ cười vẫn tươi tắn… không nhận ra tôi lúc tôi cúi đầu chào: “Thưa chị Tư…”
Năm mươi năm rồi không gặp. Nửa thế kỷ! Không nhìn ra nhau cũng là lẽ đương nhiên. Tôi ước đoán ít nhứt chị cũng hơn tôi mười tuổi. Mà tôi giờ đã tròm trèm “thất thập cổ lai hi”!
-Lộc-Nguyễn Trãi đây mà chị Tư!
Người đàn bà trọng tuổi lộ vẻ bối rối không bắt được mạch hoài niệm. Cũng dễ hiểu. Làm sao chị còn nhớ được cậu bé còn non choẹt, chưa bể tiếng, lớp đệ nhứt niên học trình Thành Chung của Collège de Vĩnh Long, dạo nào đã cất tiếng hát thảnh thót: “Chim kêu não nùng trên non bao la…” trong vở kịch dã sử “Hận Nam Quan” do chính thầy Tư Hón, người chồng lỗi lạc của chị biên soạn năm mươi ba năm về trước? Làm sao chị còn nhớ nổi chàng thiếu niên bắt đầu bể tiếng đã hùng hồn, tha thiết trổi giọng rền vang trong nhạc cảnh “Khúc hát sông Thao”, cũng do chính thầy Tư Hón dàn dựng, hai năm sau đó?
Văn Chinh, đứa em họ của tôi nhắc khéo:
-Thưa cô! Anh năm Lộc của em từ nước ngoài trở về thăm quê hương sau hai mươi ba năm biệt xứ. Anh vẫn còn nhớ đường qua cầu Thiềng Đức và nhớ căn nhà của thầy cô, nên ảnh nhờ em đèo Honda đến tìm gặp “anh Tư Hón yêu dấu” của mình. Anh Lộc từng là “kép chánh” của trường Cao Tiểu Vĩnh Long suốt bốn niên khóa và là “đệ tử ruột” của thầy Tư.
Người đàn bà tuổi đã xế chiều, nhan sắc còn phảng phất nét kiều diễm vẫn chưa đánh thức được hồi ức, mời chúng tôi ngồi đợi trên bộ xa-lông gỗ cổ kính bằng gõ đỏ…
Tôi nghẹn lời, ứa nước mắt ôm chầm lấy người đàn ông già yếu đang được chị Tư dìu từ buồng ngủ bước ra chậm rãi từng bước một, mà tôi chỉ còn nhìn ra được qua nụ cười thoảng nhẹ trên môi, tóc thưa thớt gần hói trọc, mắt thờ thẩn nhìn lơ đãng, nhưng nét cường tráng một thời vẫn còn ẩn hiện sau bộ đồ ngủ.
-Anh Tư! Em đây! Lộc-Nguyễn Trãi, Lộc-Lê Lai, Lộc-Ngô Quyền đây, anh Tư!
Người đàn ông già nua vẫn không chút giao động. Ký ức người đã rong chơi xa rồi! Anh Tư “Hón” yêu dấu muôn thuở của tôi, người thầy khả kính cận kề nhiều thế hệ học trò Collège de Vĩnh Long mà tôi và các bạn đồng liêu (niên khoá đầu tiên, 1949-50) đã may mắn được thụ huấn; anh Tư (biệt hiệu “Hón”, vì thuở còn học trường Taberd có tính hay phá phách, nên các sư huynh gắn cho biệt hiệu “diable Hun”); anh Tư Hón thần tượng thuở niên thiếu của tôi đã hoàn toàn lạc thực vì bệnh Alzheimer…
Bốn bức tường của căn nhà mà năm mươi năm qua bạn bè và tôi không còn được dịp đến vui họp đoàn với gia đình thầy cô (đúng hơn, gia đình anh chị Tư. Thầy Tư yêu cầu và chỉ cho phép nhóm văn nghệ lớp tôi gọi thầy cô bằng “anh chị” cho thân mật) treo đầy ảnh sinh hoạt văn nghệ, thể thao của trường, suốt thời gian anh Tư phục vụ.
Tôi huyên thiên nhắc nhở kỷ niệm, kể cả kỷ niệm đau thương, lần chỉ có mình tôi có mặt khi anh chị mất đứa con trai thứ hai. Chị Tư chăm chú nghe, khi nhớ, khi không. Lúc tôi hỏi thăm Tùng, đứa con trai đầu lòng của anh chị, cả một vùng kỷ niệm như chợt hồi sinh với chị Tư. Anh Tư thì tuyệt nhiên không phản ứng, tiếp tục “lơ lửng”. Nhưng khi tôi vói tay cầm cây mandoline khẩy bản Tuổi Thơ, mắt anh hình như ngấn lệ. Và khi tôi đánh guitare bản Thu Quyến Rũ, đôi mắt lạc thần dường như có dấu hiệu tập trung và đôi môi anh hình như mấp máy… Nước mặt tôi tuôn trào không ngăn được…

Hai năm đã trôi qua, từ lúc tôi gặp lại anh chị Tư Hón. Đầu óc tôi đầy ứ hoài niệm thân thương về ngôi trường thuở mới lớn, biết mơ mộng, biết tương tư, biết vỡ mộng, thuở mới chập chững bước lên sân khấu học trò và…vướng vào nghiệp chướng văn nghệ.
Cơ duyên nào đưa đẩy tôi gặp được thầy Tư Hón? Tôi nghĩ phần lớn có lẽ vì thuở còn lõi tì (lớp tư, lớp ba) các thầy cô đã “khám phá” chất văn nghệ nơi tôi. Suốt ba năm tản cư vì chiến cuộc, tôi và thằng em út tôi (Kiệt Tấn sau nầy) đã ca múa “Mừng Xuân”, “Mắng Lê Tắc” v.v… để vận động đồng bào nuôi kháng chiến quân chống thực dân Pháp. “Mầm non văn nghệ” nầy được quí thầy lớp nhì, lớp nhứt nuôi dưỡng và khuyến khích trong các kỳ văn nghệ phát thưởng cuối năm.

Rời Bạc Liêu lên Vĩnh Long học, lúc mới vào lớp 1ère Année, trong giờ huấn luyện thể dục, tôi vô ý đánh rơi trên sân vận động bài thơ học trò mà thầy Tư Hón tình cờ lượm được:
Đời tôi là cả một bài thơ,
Cả một bài thơ rũ bụi mờ,
Cả một bài thơ không đầy ý,
Là đời nghệ sĩ sống vì mơ…
Có thể từ đó tôi được thầy Tư “chấm” có khiếu văn nghệ!
Thêm vào đó, không rõ ngẫu nhiên hay tiền định, hai nơi tôi cư ngụ ở Vĩnh Long, một bên kia, một bên nầy cầu Lộ đều gần rạp hát. Hằng ngày máy phóng thanh cứ ra rả, hết cải lương tới “nhạc cải cách”(tân nhạc)!
Con đường Krautheimer -sau nầy là Võ Tánh- trước rạp hát Lạc Thanh thường dẫn bước tôi tới góc đường Châu văn Tiếp, cạnh cầu Bà Điều, đứng lặng yên cho tiếng dương cầm của chị Bé réo rắt từ một biệt thự màu hồng ru hồn mình.
Cũng trên con đường Võ Tánh nhiều sắc thái văn nghệ nầy, hai hình ảnh tuyệt đẹp vẫn còn hiện rõ nét trong ký ức tôi: Thế, chàng thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, gầy gầy, dỏng dỏng cao, dáng điệu rất thư sinh trong bộ bà ba trắng, thong thả đếm bước. Và Xuân Lan, cùng lớp tôi, đẹp như tranh, đài các, kiêu sa nhưng vẫn pha lẫn với e dè, thẹn thùng, bẽn lẽn, thướt tha tung tà áo trắng phất phơ trong nắng sớm …Xuân Lan sau nầy có thời làm Dân biểu Quốc hội đệ nhất Cộng hòa, thần tượng yêu đương “Cao nguyên ngực, sóng trùng dương mắt biếc” của cố thi sĩ Tạ Ký, qua tập thơ “Sầu ở lại”.
Nghiệp chướng văn nghệ đó, cho tới nay tôi vẫn còn đa mang! Tôi thường ca đùa với hai đứa bạn cùng trang lứa khi, một thời đã “ông ông mụ mụ rồi” còn có dịp “mần” văn nghệ chung: Bạn bè mình còn có ba thằng. Đứa đi (ĐKT), đứa ở (LVH), đứa đang tật nguyền (LTL, tiếp tục lãnh thẹo văn nghệ dài dài…).

Lần về thăm lại Vĩnh Long, tháng 3/2003, tôi đã đứng tần ngần rất lâu trước ngôi trường cũ: Cửa vào Thánh thất Cao đài đối diện, Tiểu chủng viện bên hông trường vẫn còn, dù nay chỉ là cái xác không hồn. Miễu Bà Cố vẫn còn đấy, nhưng khung cảnh trang nghiêm, không khí huyền bí đã tan loãng. Cây Da Cửa Hữu -di tích lịch sử- có vẻ tiều tụy, mất hẳn nét mầu nhiệm và lôi cuốn thơ mộng, từ muôn thuở vẫn là chứng nhân cho bao cảnh vật đổi sao dời, cho “những cuộc tình không tới”. Cây da trước miễu ai biểu cây da tàn, Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu! Thương nàng bấy nhiêu hay thương bấy nhiêu nàng?

Đất Vĩnh Long là đất của mỹ nữ, hoa khôi. Xuân Hương, Xuân Đào, Liệt (Lệ), Oanh và một số người khác đã về với tro bụi. Những Xuân Lan, những Hảo-Huyền Trân, những Lucie Minh, những Pauline Nho và biết bao mỹ nhân sắc nước hương trời khác, giờ xiêu lạc hà phương?
Sóng xô một buổi tan khuê các.
Khói dậy vài phen nát liễu bồ….


Chiều hôm đó, sau khi từ giã anh chị Tư Hón trong bịn rịn, nắm nuối, một bữa cơm thân mật tại nhà Văn Chinh cho tôi cơ hội gặp lại một số cựu học sinh cùng trường. Tất cả đều tan tác! Tôi nhắm mắt hồi tưởng những kỷ niệm văn nghệ xa xưa…
Hỡi ơi một thoáng dư hương cũ
Bỗng chập chùng xô động tháng ngày!
Trong số các nữ sinh văn nghệ cùng thời, tới nay tôi còn giữ một hình ảnh rất cao đẹp, thương tâm, vì đó là mối tình “câm nín” -Thì thôi người cứ yên tâm nhé,
Tôi chẳng bao giờ dám nói đâu- về một người nữ thinh sắc vẹn toàn, giọng oanh vàng của trường tôi thuở đó: Hồng Cúc. Để “tỏ tình”, tôi chỉ dám chép thơ thất tình của Nguyễn Bính gởi cho nàng!

Rồi đây, đi lại trên “con đường xưa em đi” quen thuộc thuở nào ở Vĩnh Long, tôi chỉ còn biết thì thầm:
Chỉ một lần anh gọi tên em,
Một lần môi say rượu đêm rằm.
Anh nằm trong khối sầu tưởng nhớ,
Phố cũ hè xưa đâu dấu chân?
“Xin còn gọi tên nhau”,
cho tới nay vẫn là ca khúc tôi “thấm” nhất.

Thôn trang Rêu-Phong, chớm thu…
-Lê Tấn Lộc-

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...



Lạc bút ngày xanh:

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...

Đã thấy xuân về với gió đông,Với trên mầu má gái chưa chồng. Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong…

Thuở ấy… Juliette Hoa tuổi chưa đến độ trăng tròn, Roméo Linh vừa chập chững bước ra khỏi lứa tuổi bẻ gẫy sừng trâu. Qua khung cửa sổ đặc biệt hình “mắt bò”(oeil de boeuf), Juliette đang “ngước mắt nhìn trời”, thầm đếm nầy trăng, nầy sao…Cùng lúc, bên dưới lầu vọng nguyệt Roméo cũng đang ẩn mình sau giàn dạ lý hương, ngây người ngắm nhìn “đôi mắt trong” của thiếu nữ trông trăng!
Coi nhau như “hàng xóm” cũng được: Hai trẻ cùng học trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹtho, cùng “ở trọ, ăn cơm tháng” tại biệt thự số 8 đường Hùng Vương, con đường lúc bấy giờ chạy ngang cổng sau trường chúng đang theo học. Tuy chung trọ, chỉ cách nhau một trần nhà, nàng tầng lầu, chàng tầng trệt, nhưng gia chủ là một ông thầy quá nghiêm khắc, “nam nữ thọ thọ bất thân” nên Juliette đương nhiên bị liệt vào hàng công nương “kín cổng cao tường”, được canh giữ cẩn mật. Roméo mặc nhiên bị gò bó, canh chừng như một “chủng sinh” (séminariste).Và pension nuôi-học-trò nầy sinh hoạt như một “tiểu chủng viện”, cửa đóng then gài! Nhưng rồi giậu thấp rào thưa, làm sao ngăn được gíó đưa hương tình, nhứt là những lúc gió mùa xuân tới? ”Balcon” hàng xóm, cô hàng xóm…

Mùa xuân năm ấy…,tôi bàng hoàng chạnh nhớ đã năm mươi hai năm qua! Mùa xuân năm ấy, sau hai lần học sinh bãi khóa, để tránh xáo trộn và tránh mọi mưu toan xách động chính trị khó lường, trường NĐC quyết định đóng cửa cho đến khi có lịnh mới. Roméo và Juliette bỗng nhiên, nhờ thời cuộc, được tháo cũi sổ lồng! Nỗi thương, niềm nhớ ấp ủ bấy lâu được dịp cùng nhau bày tỏ trong gió xuân về trên xứ sở của ruộng muối, của biển nhãn, của đồng lúa cò bay thẳng cánh BạcLiêu, quê cha đất tổ của đôi thanh thiếu niên đang bỡ ngỡ trước ngưởng cửa tình yêu thơ mộng, kỳ diệu. Nhưng hỡi ơi…Cuộc tình vừa chớm nở đã bị vợ chồng gia chủ ngôi biệt-thự-nuôi-học-trò lạm dụng uy thế làm thầy, làm cô chen vào bức tử, phân cách, chia xa đôi trẻ trong trắng yêu nhau. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu khổ nhục, đọa đày!...
Không rõ Roméo và Juliette có cùng “dìu nhau sang bên kia thế giới” chăng, nhưng họ tuyệt tích giang hồ từ đó. Cho đến…

Bốn mươi năm sau, nhân dịp “tìm dấu” Nguyệt Yến, một cố-nhân-văn-nghệ thời Collège de Vĩnh Long (tiền thân trường Tống Phước Hiệp), với sự trợ giúp của Kiệt -em tôi, cũng là một cựu C.V.L và cựu NĐC- bất ngờ, hết sức bất ngờ Roméo ngỡ ngàng trực diện với Juliette tại một quán cơm đường Monge dành cho sinh viên Việt Nam du học, từ giữa thập niên 50, một quán ăn mà có thời hai anh em Linh thường lui tới! Dưới đây là trích đoạn nhật ký, ngày 13 tháng 5 năm 1993 của Roméo Linh tại Bagnolet, vùng ven đô Paris :
«…
Tôi bước vào quán ăn, nhìn dáo dác. Thực khách phần lớn là kiều bào VN, làm sao nhận ra cố nhân. Nàng chắc gì nhận ra tôi? Một thiếu phụ từ cuối quán bước tới, mỉm cười dang tay ôm tôi, rồi ôm Phước, người bạn đồng hành suốt đời của tôi :
-Tôi chưa nhận ra anh, thiếu phụ nói, nhưng nhìn ra chị Phước liền, dẫu tôi chỉ gặp chị một lần duy nhứt, hôm đám cưới anh chị… ba mươi mấy năm về trước!
Cố-nhân-văn-nghệ Nguyệt Yến dẫn chúng tôi đến bàn đặt trước giới thiệu với chồng mình, anh Trương. Tôi và Trương là bạn học cùng trường ở Mỹtho, năm 1952. Sau đó, anh đi Pháp. Lúc qua Paris du học, tôi không có dịp gặp anh. Bốn mươi mốt năm bặt tin nhau.
Nhà hàng đãi chúng tôi một chầu Porto mừng anh em tái ngộ. Nghe đâu ông quản lý cũng là bạn chí thân với chồng Yến. Trương gọi thức ăn kèm một chai Bordeaux. Phước đạp chân tôi ngầm cản ngăn. Yến nói Phước cứ để tôi uống thoải mái vì hôm nay là ngày chót của tôi ở Paris. Yến đã cắt đi một phần ba bao tử mà Yến vẫn uống rượu như thường. Trương xác nhận ở nhà Yến thường uống rượu giải sầu. Trương không thường uống, chỉ uống khi thích uống hoặc khi có bạn bè.
Yến nói chỉ nhận ra tôi khi tôi cười. Tôi cũng nhận ra Yến khi nàng cười. Chưa nghe ai nói chỉ nhận ra nhau qua cái khóc! Trương cười nhắc chuyện vui lúc còn học ở Mỹtho. Yến cho biết lúc tôi gọi điện thoại mà không gặp là đang lúc Yến bị sưng phổi, phải nằm bịnh viện. Tưởng đã vĩnh viễn ra đi nhưng số phần chưa tới. Ta nợ nần gì nhau…chăng?
-Cái choàng ôm khi nãy là cái ôm đầu tiên giữaYến và tôi. Tôi nói với Trương và Phước.
Yến xác nhận từ lúc mới quen cho tới khi kẻ lấy vợ, người lấy chồng, tôi chỉ có viết thư chớ chưa hề nắm tay Yến, dù Yến và tôi đã nhiều lần đóng tuồng chung trên sân khấu học trò. Mà đó cũng chẳng phải là những tình thư. Cho tới bây giờ chắc Yến cũng chẳng rõ tôi muốn nói gì qua những lá thư đó: Chuyện trăng sao, mưa nắng, trích dẫn thi ca, lời hát hàm ý gợi nhớ kỷ niệm trình diễn trên sân khấu Collège de Vĩnh Long…Chẳng thấy dòng nào tỏ tình. Đời tôi là cả một bài thơ, Cả một bài thơ rũ bụi mờ, Cả một bài thơ không đầy ý, Là đời nghệ sĩ sống vì mơ…Tỏ tình kiểu nầy thì Yến đành chịu thua.Và tác giả thơ thẩn nầy cũng từ chết tới bị thương luôn!
Lúc nghe kể có lần quá tuyệt vọng vì mối tình câm, muốn tình nguyện đi lính, tôi đến giã từ Yến với cái đầu húi gần nhẵn thín,Yến cảm động cúi mặt :
-Tới giờ Yến mới nhớ lại và cố gắng tìm hiểu tình cảm của Yến đối với anh lúc đó …
Yến gợi lại nhiều kỷ niệm văn-nghệ-phát-thưởng-học-đường, đặc biệt nhắc nhớ lần nàng thủ vai Liễu Nhi, tôi, Ngô Quyền trong một đoạn kịch dã sử trình diễn trên sân khấu Miễu Quốc Công Vĩnh Long. Lúc nhận được bản thảo Gối rơm của tôi, liên tiếp mấy tháng nàng đã sống lại quãng đời chỉ có thơ, nhạc trọn chiếm tâm hồn nàng.
-Hôm nay gặp lại anh, Yến đột nhiên vỗ đầu mình nói, có một chuyện rất quan trọng muốn thông báo mà tự nãy giờ xúc động quá Yến quên tuốt. Anh đi theo Yến!

Nàng dẫn tôi đến gặp cô thâu ngân, hỏi tôi có nhớ cô đây là ai chăng. Thấy cô quen quen tôi đoán chừng có thể cô là một trong những mầm non văn nghệ năm xưa ở Vĩnh Long, có thời ngưỡng mộ mình, nên hỏi chận đầu cô có nhớ Nguyễn Trãi, vai tôi thường đóng lúc còn học Collège de Vĩnh Long chăng. Cô chỉ mỉm cười, lắc đầu. Yến quay sang cô thu ngân hỏi cô có nhớ anh chàng đang đối diện với cô là ai chăng. Cô tiếp tục mỉm cười, lắc đầu. Yến chỉ tôi,nói với cô:
-Là anh Linh đó!
Tôi thấy cô sững sờ giây phút. Yến chỉ cô, nói với tôi:
-Là chị Hoa đó!
Tôi ngữa cổ lên trời, vỗ trán, lắp bắp :
-Trời hỡi! Rồi gục mặt xuống quầy thâu ngân, ôm đầu thinh lặng thật lâu…
Khi tôi ngẩng mặt lên, miệng cười của Người Hoa không còn rộng mở nữa. Yến đã lặng lẽ rút lui cho Lan và Điệp lệ sầu tuôn mấy lượt! Tôi hỏi lại nàng:
-Là Hoa, là Juliette Hoa đây sao?
Nàng hỏi lại tôi:
-Là Linh, là Roméo Linh đây sao?
Cả hai chúng tôi đều không còn nhận ra nhau được nữa sau bốn mươi năm bị cưỡng bách bức rời!
Trước đây, Kiệt cho tôi biết hình như Hoa đang ở Paris. Hôm nay hẹn với Yến, ngoài mọi dự tính, tình cờ Hoa và tôi lại…trùng phùng! Sao tôi cứ bị rơi vào tình thế khó xử thế nầy mãi? Nơi bàn ăn một cố nhân đang đợi. Sau quầy hàng một cố nhân khác đang chờ...Chưa kể “cố nhân” Phước hiện diện rõ nét dưới dáng dấp nha-sĩ-chuyên-cà-răng-ông-chồng hư đốn! Chẳng còn biết đường nào mà lần!

Hoa-cố-nhân ngày xưa cùng học trường NĐC và cùng trọ với tôi tại pension thầy . Thuở ấy nàng mới mười bốn, tôi vừa mười tám, chỉ biết hồi hộp len lén nhìn nhau. Cũng có thư qua thư lại, nhưng có tỏ tình hẵn hòi nhưng chưa hề nắm tay nhau. Rồi thầy Kí bắt được thư trao đổi. Ông áp lực Ban Giám đốc buộc tôi phải chuyển sang trường Phan Thanh Giản (CầnThơ);và thúc ép gia đình Hoa đem nàng về BạcLiêu, tiếng là để đày đọa!
Hoa tình vừa hé nụ đã bị bàn tay xương xẩu của gia chủ pension đoạn đành chém đứt phăng, cho giẫy chết tức tưởi dưới móng vuốt bén nhọn của giai-nhân-mắt-ươn-ướt, phu nhân của ông thầy “kính yêu”, vốn được tôn sùng như rất ư là đạo đức kách mệnh! (quả thật, sau Tết Mậu Thân, ông theo VC, giữ chức Tổng trưởng Giáo dục cho MTGPMN. Ai ai cũng bất ngờ; tôi thì không).
Rời Hoa, tôi đến với Yến. Rời Yến, tôi trở lại với Hoa. Phước dõi mắt theo tôi như theo một quả banh tennis bay qua lượn lại trên lưới chắn sân quấn vợt. Dám trặt cổ lắm!
Cuối cùng Hoa đến ngồi với chúng tôi khi hết giờ giữ két. Tôi đỡ mỏi chân, Phước đỡ nhức mắt. Nhưng bây giờ tôi phải đối đầu với tam nương! Trương rất tâm lý : khi tôi nói chuyện với Yến, Trương gợi chuyện với Phước và Hoa; lúc tôi bắt chuyện với Hoa, Trương tìm cách thu hút sự chú ý của Yến và Phước về mình. Với Yến tôi có nhiều hồi ức văn nghệ nhẹ nhàng nhưng sâu đậm. Với Hoa tôi tích tụ vô số hoài niệm thương động về mối tình thơ mộng đột ngột chấm dứt trong xót xa dai dẳng: Một trong những cuộc tình không tới đã lưu lại vài nếp nhăn li ti như vết chân chim trong tiềm thức thương đau luôn đánh động tâm can tôi mỗi lần gợi nhớ; những chuyện tình học trò hồn nhiên lãng mạn, thanh trong thơ ngây, chưa đủ lớn để biết khôn vặt hầu…toan tính chuyện lọc lừa !
Tôi nhắc lại những lần Hoa và tôi, mỗi đứa đạp xe đi một hướng để đánh lạc hướng sự theo dõi của thầy Kí và đám đệ-tử-trung-kiên-chuyên-rình-rập-báo-cáo của ông, rồi rón rén vòng xe lại gặp nhau ở điểm hẹn chùa Vĩnh tràng, đứng xa xa nhìn nhau năm ba phút, vẫy tay chào nhau. Xong, lại đạp xe mỗi đứa một hướng trở về nhà trọ.
Hoa ở lầu trên với ông thầy, bà cô. Tôi, tầng dưới với Thứ và các nam trọ sinh khác. Ngoài Hoa, biệt lệ, những nữ trọ sinh còn lại, tuy ở cùng tầng với phái nam vẫn được “nhốt riêng” trong một phòng, bế môn tỏa cảng nghiêm nhặt! Mỗi lần muốn trao thư cho nhau, Hoa bỏ thư nàng vào “ca” đánh răng của tôi và tôi bỏ thư cùa mình vào ca đáng răng của nàng. Tất cả ca đánh răng của trọ sinh được tập trung trên một cái kệ treo gần hồ chứa nước rửa mặt.
Cho tới khi bị phát giác, những lá thư tôi viết, trên chữ ký bao giờ cũng có câu : “Kính cẩn quỳ dưới chân Hoàng hậu và xin được phép hôn tay Nàng”…Một câu viết hết sức romantique như vậy lại là cái cớ để thầy Kí tra vấn tôi suốt cả tháng, hăm he truy tố tôi ra tòa về tội dụ dỗ gái vị thành niên! Một câu viết đã được tôi ghi lại trong nhựt ký và đã ảnh hưởng sâu xa đến Kiệt: khi còn nhỏ, cậu em út của tôi đã học thuộc lòng với ý định lớn lên sẽ theo gương anh mình đi tìm “Hoàng hậu của lòng anh”, quỳ xuống kính cẩn hôn tay…
Sau nầy, khi đã “lão-thành-thành-lão” trong tình trường, hai anh em vẫn còn nhiễm cái bịnh “quỳ dưới chân” nhưng là dưới chân “yêu nữ” lúc vừa ngà ngà. Và thay vì hôn thì…”gậm nhấm” tay người đẹp khi đã chếnh choáng! Cái tật gậm tay nầy khá phổ quát trong lớp tuổi sồn sồn vẫn còn thích ga-lăng …
Với Hoa-thuở-trăng-tròn mộng, tôi chưa hề dám chạm tay nói chi tới nắm, chưa hề nắm nói chi tới hôn tay. Thế mà vì một câu hôn tay (tưởng tượng) viết trong tình thư tôi đã suýt thân bại danh liệt!
Bọn chúng tôi cười hả hê với cái màn gậm nhấm tay mỹ nhơn. Kỷ niệm nầy lôi hoài niệm khác. Mãi lo ôn dĩ vãng chúng tôi quên ăn. Vào quán một giờ trưa, bây giờ đã bảy giờ tối! Tôi đọc cho Hoa một đoạn thơ tôi viết lúc ngồi tù cải tạo về mối tình hai đứa tan vỡ trong uất ức. Hoa ứa lệ, tôi lặng lẽ cúi đầu.
-Bây giờ, mỗi lần nhắc kỷ niệm xưa chúng ta phải lấy chục năm làm đơn vị, tôi nói. Hoa có vẻ mạnh khỏe hơn Yến đấy. Nầy Yến, có một bài thơ mà tôi nghĩ Yến chưa chắc đã đọc qua vì tôi ghi trên tấm lá chắn kẹp trong quyển sách mượn đọc xong đem trả lại Yến. Tấm lá chắn “đề thơ” có lẽ vẫn nằm yên trong quyển sách đó hơn bốn mươi năm, nếu Yến vẫn còn giữ nó.Thôi thì để tôi đọc cho Yến nghe vậy: Thư không nói hết nỗi niềm, Rượu không quên được càng thêm tủi sầu. Nhạc buồn dăm đứa cúi đầu,Nghe đau kỷ niệm nhớ câu ân tình. Đêm đêm mình lại với mình, Ôn trong dĩ vãng những hình bóng xưa…

Lúc chia tay, choàng ôm Yến tôi nói với Trương:
-Lần thứ hai!
Yến, Phước, Trưong cũng quyến luyến ôm nhau hẹn ngày tái ngộ. Ra tới cửa, tôi dừng lại ở quầy thâu ngân nắm tay Hoa nói:
-Lần đầu nghe Hoa! Rồi choàng ôm nàng từ biệt:
-Cũng là lần đầu, phải không Hoa?”
Anh Hào, phu quân của Hoa, quản lý quán ăn bắt tay tôi, nói đùa:
-Vậy anh và tôi là tình địch rồi!
Tôi cười, hỏi:
-Nếu vậy, Trương và tôi, Hoa, Yến, Phước cũng là tình địch sao? Không đúng. Kẻ đến trước, người đến sau thì đâu thể là tình địch!
Mọi người đều vui vẻ cười rồ. Hoa nói với Phước:
-Anh Linh có phước gặp được chị và ăn ở bền lâu. Chị có phước gặp anh Linh vì tới giờ ảnh vẫn ở bên cạnh chị. Dạo nầy ảnh còn đa sầu đa cảm không hả chị?
Phước mỉm cười trả lời:
-Lúc ở tù cải tạo ảnh có lén lút viết thư cho mấy nàng. Ra tù ảnh còn đi tìm cố nhân. Từ lúc bỏ nước qua đây tới nay, ảnh tu!
Tôi cười thầm: “Đúng. Tu…chai!”

Tôi ôm Hoa lần thứ hai, như sẽ chẳng bao giờ còn ôm nàng lần nữa. Cho anh hôn nhẹ triền môi ấy, Đời hết yêu thì thôi thương đau. Tôi ôm Yến lần nữa, như lần cuối, với ý nghĩ nàng có thể vĩnh viễn ra đi bất cứ lúc nào. Anh không cất tiếng mà nghẹn ngào dâng nước lụt, Anh nghiêng mình nguyệt bạch vỡ trên vai, Ôm em vào lòng tình ái nát trong tay, Anh thèm khát mê điên hằng hà sa mạc…
Nắm nuối, bịn rịn, bước đi nhưng chưa nỡ rời… Rồi từ đây xa nhau bốn phương, Người tình ơi thôi hết mong chờ, Người tình ơi thôi hết đớn đau, Lệ sầu rơi tuôn ta cố ngăn, Tấm can tràng đành chịu nát tan... Tôi hát nhỏ bài ca thuở mới biết yêu, người lâng lâng…Đột nhiên tôi thấy lồng ngực bên trái đau nhói, mọi vật chung quanh như đang quây cuồng. Tôi lảo đảo, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt…cố hết sức leo con dốc dẫn tới một cao ốc mười lăm từng trong khu chung cư Bagnolet. Đường về Kiệt Tấn sao mù mịt, Ngày cuối Paris, lạc lối về…
…»
Tôi ngủ thiếp lúc nào không hay biết trên chiếc võng mắc trước patio.Tôi choàng tỉnh theo tiếng chim ríu rít vỗ cánh đuổi bắt nhau, lay động những ngón tay hường đan vào nhau của hai rặng anh đào chạy dọc hai bên lối đi dẫn tới cửa vào chung cư “Ven Sông”. Mùa hè vẫn còn nguyên vẹn đó. Vài con ong theo cửa sổ mở bay lạc vào nhà. Cây trong nhà đã trổ bông. Nắng hực nóng.
Tôi nhủ thầm: “Anh đào hai bên đường trổ bông đặc gật. Pierrefonds hay Bagnolet?” Hình như tôi đã qua một giấc mơ thật dài…
trời sẽ tối tiếc thương rồi sẽ hết
trời tháng giêng tháng bảy buồn như nhau
hãy nằm im
và đừng hỏi tại sao
hình như là chiêm bao…
Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, cuối thu…
Lê Tấn Lộc

Dọc đường góp nhặt



Dọc đường góp nhặt
*nằm mơ một chớp dài muôn thuở,
ngoảnh lại nghìn xuân một thoáng thôi*!

Rất xa xưa, gần nửa thế kỷ về trước, tiễn tôi lên đường du học, ba tôi nhắn nhủ: «Mười mấy năm dồi mài kinh sử, mài miệt vùi đầu trong các thư viện con có thể ngấu nghiến đọc hàng vạn vạn trang sách. Nhưng với mớ kiến thức đáng kể thụ đắc đó, con vẫn chưa thể tự hào đã đọc được nửa trang trong quyển sách vô cùng to lớn của thế giới mông lung ngoài đời…». Thuở đó, tôi chưa hiểu thấu thông điệp ba tôi muốn truyền đạt, bởi vì còn bị choáng ngợp bởi chuyến ra đi đầy mộng ước vẻ vang đang đợi chờ «ta» nơi Kinh Đô Ánh Sáng. Và lý thú nghĩ rằng «ta» sẽ theo chân triết gia Descartes «ngao du trong quyển sách vĩ đại của địa cầu-voyager dans le grand livre du monde»!
Phải gần năm mươi năm sau ngày xa quê hương lần đầu, tôi mới sực tỉnh nhận ra mình đã lầm đường vì…lo sợ lạc đường! Lo sợ lầm đường đến độ không hề dám sấn bước chệch ra ngoài những lối đi an toàn có người qua kẻ lại tấp nập (sentiers battus), cứ mê say phóng lướt trên xa lộ thênh thang của công danh sự nghiệp -những tưởng sẽ được bảo đảm bền vững suốt đời- ngờ đâu lại lạc lối vào ngõ cụt, với vực thẳm không đáy trước mặt: Thảm họa ba mươi tháng tư một chín bảy lăm bất chợt phủ chụp xuống đất nước như một tai nạn lưu thông kinh hồn, vô tiền khoáng hậu, gây thương vong hàng loạt cho hằng muôn vạn sanh linh (hécatombe), đột biến như cơn nước lũ vỡ đê cuống phăng đi một mảng mặt lộ khổng lồ trên *đại lộ kinh hoàng*, chia cắt đôi bờ*sông côn mùa lũ* ; bên nầy bờ, nhục nhằn đày đọa; bên kia bờ, an lạc, tự do…Đôi bờ càng lúc càng dang xa, càng lúc càng *nghìn trùng xa cách* như bên nầy và bên kia đại dương mông mênh, trùng trùng điệp điệp phong ba bão táp! Một đại-dương-chứng-nhân biết bao thảm kịch vượt ngoài trí tưởng tượng của loài người, một đại dương như bể khổ trầm luân, đã đánh đắm hơn nửa triệu nhân mạng vượt trùng dương mưu tìm đất sống…

Sống sót sau cơn hồng thủy khiếp đảm đó, may mắn trôi dạt vào bến bờ nhận đón các dũng-sĩ-vượt-thoát-cùm-gông, cái «ta» kết sù trước kia giờ đây biến dạng thành *người ngồi hong nắng lặng thinh, hong kinh vô tự hong tình vô ngôn* trên dốc đá nhìn xuống biển cả, mồ chôn biết bao tài hoa son trẻ hơn kẻ bất tài vô tướng như hắn; để rồi hắn xót xa nghiệm ra quả thật mình *nhỏ bé thôi… nhỏ bé thôi*! Bài học đầu tay về khiêm nhường khởi đầu cho ý chí khiêm hạ, «đọc được» từ nửa trang -nửa trang thôi- trong quyển sách đời! «Nhỏ-bé- thôi» nhận chân rằng mình không được đặc ân *sinh nhi tri chi*-sinh ra đã biết; đã qua giai đoạn *học nhi tri chi*-nhờ học mà biết; bây giờ đang trải qua thời kỳ *khốn nhi tri chi*-do khốn đốn mà biết. Lời cha già thân yêu nhắn nhủ năm xưa lại vang dội bên tai «nhỏ-bé-thôi»…

Cơn gió thốc từ nhánh sông Saint-Laurent hiền hòa lờ đờ trôi ngang hậu liêu tu viện Dòng Tên Villa Saint-Martin (nơi anh chị em Dòng Phan Sinh Tại Thế vùng Mộng-Lệ-An đang Tĩnh Tâm) lay động hàng phi lau ven sông: Từng đàn bướm trắng bung lên, chới với vẫy cánh bay lượn la đà mặt sông, làm liên tưởng tới những cánh bườm của những chiếc xuồng ba lá tí teo, mong manh như lá liễu trên đại dương bao la sóng gào gió thét, ngày nào đã đưa từng đoàn người không đành lòng rời bỏ quê cha đất tổ vượt biển đi tìm đất hứa…Phải chăng các cánh bướm kia là những oan hồn vất vưởng của bạn bè thân thương vạn lần ưu tú hơn tôi đã phơi thây trên chiến trận, chôn xác trong rừng sâu nước độc của những trại giam nghiệt ngã, tàn khốc hay vùi thân dưới đáy biển ngàn đời tăm tối, gíá băng? Lạy Chúa! Xin rũ lòng thương xót cho những linh hồn cô đơn nầy được an bình ngơi nghỉ. *Requiescat in pace!*
Hỡi ôi! *Hí trường hay dở ba canh vãn, Thế sự thăng trầm một kiếp thôi*. Chẳng còn được như ngày xưa viếng thăm phần mộ những người đã khuất, cúi đầu lặng yên suy gẫm thế sự thì… Hỡi những anh em đã nằm xuống *không một nắm mồ-morts sans sépultures*! xin hãy cho tôi được một lần *nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió, cho nắm xương tàn được nở hương*!

Hết rồi những xa lộ thênh thang nhưng dẫn về ngõ cụt. Nhỏ-bé-thôi giờ đây nằm lòng trích đoạn Phúc Âm nầy, lúc Chúa Giê-su trên đường lên Giê-ru-sa-lem đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy :
Có kẻ hỏi Người :«Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải
không?». Người bảo họ:«Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào,
vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể
vào được» (Lc 13, 23-24).
Từ nay trở đi nhỏ-bé- thôi xin dấn bước trên những lối mòn không quen thuộc để học hỏi thêm, khám phá thêm những kho tàng tiềm ẩn nơi những anh chị em hèn mọn đang ở đây và bây giờ-*hic et nunc* với cái «ta» đang dần dà lột xác: Những ACE không học-cao-hiểu-rộng-lớn-lối-khoa-trương-khua-môi-múa-mỏ-cường-điệu-ngoan-cố; trái lại rất đơn sơ, hồn nhiên, rất kín đáo nhưng rất nhiệt thành, luôn luôn sẵn ứng giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau, khiêm tốn sống Phúc Âm, âm thầm *an nhi thiện cư, lạc nhi thiện sự* -an với chỗ mình đang ở,vui với việc mình đang làm- không bon chen, xô lấn, không loại trừ bất cứ ai, thể hiện trọn vẹn Tình Huynh Đệ Phổ Quát, tôn chỉ của Dòng Phan-xi-cô…
Tiếp cận dài lâu với những ACE «ít học» nầy, nhỏ-bé-thôi càng lúc càng thấy mình nhỏ bé thêm, càng lúc càng thấy lời cha già nhắn nhủ mình năm xưa được kiểm chứng: Hắn cần học hỏi thêm nơi các bậc «sư phụ» nầy mới có thể tiếp tục «đọc» nửa trang còn lại và những trang kế tiếp trong quyển sách đời, ngõ hầu phát huy hai vết khắc «Yêu Thương và Tha Thứ» mà vị linh đạo tĩnh tâm, Cha Trợ-úy-giảng-phòng Aimé Đỗ văn Thông đã hằn sâu trong tâm khảm hắn, xóa dần *vết thù hằn trên lưng ngựa hoang* của hắn từ lâu chưa được hóa giải…Lời khuyên nhủ của một ACE ít-học-nhỏ-bé-xinh-xinh, «sư-phụ-đơn-sơ» của hắn, bên bờ sông tĩnh mịch đầy cánh bướm nhấp nhô vang động trong tâm thức hắn:
*một cũng chấp, hai cũng chấp, chất chứa trong lòng chi cho khổ?
trăm điều bỏ, ngàn điều bỏ, thong dong tất dạ vậy mà vui !*
Dĩ nhiên chấp là tự làm khổ, nhưng phá chấp không phải bất cứ ai cũng dễ dàng làm được. Vẫn biết bỏ qua để tha thứ là trước tiên *chữa lành* cho mình, ơn ích của thứ tha, chính mình là người thụ hưởng đầu tiên. Nhưng, nếu Rome không thể xây cất xong trong một ngày thì thứ tha trọn vẹn, đích thực không thể một sớm một chiều mà đạt được. Tha thứ, một hành trình dài lâu đầy gian khổ, trục trặc: Nguy cơ tái phạm lầm lỗi không-bỏ-được-niềm-uất-hận-nung-chí-trả-thù thường xuyên chực chờ trong tiềm thức ẩn chứa hoài niệm thương động ta-đã-bị-xúc-phạm-nặng-nề…Nhỏ-bé-thôi làm sao quên được những bàn tay tinh xảo của y sĩ chuyên giải phẫu tim, óc bị «những đỉnh cao trí tuệ của loài người» buộc phải dùng tay trần cào xới đất cày lên sỏi đá để «canh tác»! Nhưng…một ACE «sư-phụ-ít-học-đàn-anh-tinh-thần» lại ân cần vỗ về cái «ta» của nhỏ-bé-thôi đang muốn vùng lên: «Uất ức nầy sớm muộn cũng sẽ đưa đến ý định trả thù, ăn miếng trả miếng. Cứ thế mà tiếp diễn, anh-cải-tạo-tôi-cải-tạo-anh…Biết bao giờ mới ra khỏi cái vòng lẩn quẩn hận thù chồng chất? Cả nước sẽ mãi mãi là một chuỗi trại giam…cho tới ngày tận thế chăng? Nầy người anh em! *Sự lai nhi tâm thỉ khởi. Sự khứ nhi tâm tùy không*-Tới thì biết tới. Qua thì cho qua». Thêm một nửa trang sách thứ hai của quyển sách đời được mạc khải cho nhỏ-bé-thôi:
*Sự việc tới tâm vui đón nhận,
Việc qua rồi tâm cũng theo qua…*

Nhìn lại chặng đường đã qua, cái ta từ từ tan biến theo sự bừng tỉnh của cái tôi càng lúc càng ý thức mình vô cùng nhỏ bé…Ếch nằm đáy giếng thấy bao lăm trời: «*Không thể nói về biển với ếch giếng, nó chỉ biết cái hang của nó mà thôi. Không thể nói về tuyết với ve sầu, nó chỉ biết có một mùa hạ mà thôi. Không thể nói về đạo với kẻ hẹp hòi, họ chỉ biết giáo điều của họ mà thôi*». Tự nhiên tôi thấy người nhẹ nhỏm. Lợi ích gì chấp nhứt «đỉnh-cao-trí-tuệ-giáo-điều»? Họ nào biết họ đang làm gì đâu! Chúa Giê-su đã chẳng xin Cha Ngài tha tội cho những kẻ không thấu rõ ý nghĩa hành vi của họ sao? Cùng lúc, tôi đón nhận lời truyền đạt của một «sư-phụ-anh-em» khác để rèn luyện đức khiêm tốn, hiền hòa với ACE:
*Tâm đừng hẹp hòi.
Khí đừng hung hăng.
Tài đừng bộc lộ.*
Hầu hết ACE tôi đều lặng lẽ, âm thầm phục vụ nhau. Hình như họ thấm nhuần tư tưởng phương Đông: * Ngôn giả bất tri. Tri giả bất ngôn *-Nói thì không biết. Biết thì không nói. Ai dám bảo họ không «có đầu óc». Họ mới đích thực là trí thức, trái với đám vỗ ngực tự xưng là trí thức nhưng thực chất là trí…ngủ! Cung cách tiếp xúc với anh em trong những ngày tĩnh tâm nói riêng, thuật xử thế khiêm nhu của họ trong mọi hoàn cảnh nói chung, cho thấy tôi còn rất nhiều điều cần phải lãnh hội, thấm nhuần. Sự thanh thản bình tâm của họ khiến tôi nhận ra *Tự do là ung dung trong ràng buộc. Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau*. Và quả thật họ chỉ cho tôi thấy, khi nhớ lại chuỗi ngày thê lương sống trong sự khốn cùng của một thế giới vô thần, rằng *Có mất tự do mới biết tự do là cao quí. Có ly thoát mới biết sự ràng buộc là khổ đau*…

Chia sẻ huấn đức tạo thêm cơ hội thuận tiện cho những trao đổi tâm tư tình cảm giữa ACE bên bờ sông im vắng. Các xung đột ngấm ngầm còn tồn đọng lần lượt được kín đáo tìm cách giải tỏa. Bài học cụ thể đến từ quyển sách đời là gương sáng nhẫn nhịn của «sư-phụ-đơn-sơ», nạn nhân bị «bạo hành miệng-violence verbale». Nhỏ-bé-thôi chất vấn sao người có thể chịu nổi một xúc phạm nặng nề, hết sức bất công và phi lý như vậy, «sư phụ» ôn tồn tâm giải: «*Nhẫn một chút, gió yên sóng lặng. Lùi một bước, biển rộng trời cao*»!
Đêm thức canh, mọi nguồn ánh sáng đều được giảm thiểu tối đa. Không khí trang nghiêm mờ ảo bao trùm các khấn sinh đang chập chờn trầm mặc trong bóng tối huyền nhiệm. Một ngấn lệ chảy dài trên má một khấn sinh, lấp lánh dưới ánh nến lung linh. Không rõ khói hương trầm làm cay mắt tôi hay chính tôi cũng đang ứa lệ? *Còn khóc được là còn hạnh phúc*.Tôi lại nhớ chuỗi ngày nhục nhằn, tan tác trong các trại tập trung. Nhớ như để chấp nhận «chịu tang-porter son deuil» cho thời gian bị trả thù đó, để rồi quên đi, quên ngay cả niềm uất hận chờ ngày phục thù! Thông điệp lồng trong đề tài tĩnh tâm Yêu Thương và Tha Thứ đã bắt đầu tác dụng trên nhỏ-bé-thôi…

Sau thánh lễ long trọng cho các khấn sinh tuyên khấn, nỗi vui mừng lan rộng, bao trùm tất cả ACE. Những vòng tay ôm siết trong tiếng chúc mừng qua nụ cười ướt lệ…ôi sao mà chân thành, nồng nhiệt quá sức! Như toàn thể đại gia đình mở rộng vòng tay nhất tề đón nhận những đứa con hối cải quay về tổ ấm. Mầu nhiệm thay, nhỏ-bé-thôi, kẻ một thời «khuấy nước chọc trời» giờ đây cùng với nhóm khấn sinh thân thương chính thức nhập gia Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế. Nhưng niềm vui chưa được toàn vẹn vì một vài ACE trong nhóm chưa đứng trong hàng ngũ khấn sinh lần nầy. Nhỏ-bé-thôi đã để yên cho một nhỏ-bé-thôi khác không cùng khấn lần khó quên nầy gục khóc ướt cả vai áo mình! Còn khóc được là còn…hy vọng. Một lần nữa khói hương trầm lại làm cay mắt tôi…

Một tuần sau ngày kết thúc tĩnh tâm, nhỏ-bé-thôi đứng trong đội ngũ Dòng PSTT tham dự rước kiệu Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, gây ngạc nhiên thích thú cho nhiều thân hữu và cho…cả chính hắn! Lần đầu tiên hắn đi kiệu, mà còn đi hàng đầu, cầm cờ nữa chứ! Quả thật, «đường lối của Chúa khôn dò khôn thấu-les voies du Seigneur sont impénétrables»!
Trên đường về, trao đổi cảm nghĩ về lần tĩnh tâm vừa qua với «sư-phụ-đơn-sơ», hắn lại được dịp «dọc đường góp nhặt» từ quyển sách đời để tìm hiểu thêm động lực đã thúc đẩy hắn thay đổi toàn bộ lối sống và suy nghĩ : *Phù du trong những phù du, phù du tất cả chỉ là phù du-Vanitas vanitatum, et omnia vanitas!*. Đúng thế, bởi vì chính ta : *Rồi đây ta cũng bỏ ta. Có, không, không, có cũng là phù du…*
Vậy thì cố chấp làm chi cho khổ thân, cứ *sống thanh thản, chết bình yên*. Vẫn biết trần gian là cõi mộng nhưng một khi đã đến cõi trần và có duyên gặp nhau thì hãy sống hết lòng với nhau. Bởi lẽ,*Trời xui định mệnh quen nhau Mà không cho biết bao lâu kiếp nầy. Thôi thì quên những tàn phai Để ta sống trọn tháng ngày có nhau*

Vâng, anh chị em của tôi ơi! Hãy cùng tôi sống như *người về qua cửa phù vân, nghiêng vai trút gánh phong trần đổ đi* cho tâm được thanh thoát…

Thôn trang Rêu-Phong, cuối hè 2007
-Lê Tấn Lộc -
_____________________________________________________________________________
Ghi chú : (*) Trích đoạn thơ văn trong bài viết nầy mượn của Chúc Mai, Hư Trúc, Khổng Tử , Lão Tử, Thanh Sơn, Trang Tử, Trần Huyền Trân, Viên Minh, X. v.v…và của chính tác giả.

Chân dung một linh mục



Các con cũng vậy, khi làm xong mọi việc do Thiên Chúa sai truyền, hãy nói:

“Chúng tôi là đày tớ vô ích: chúng tôi chỉ làm điều mình phải làm” (Lu-ca 17:10)

“Tôi còn nhớ rõ một ngày tháng 2-1980. Sau một tháng vắng mặt, tôi trở lại trại Kuku. Bước vào nhà nguyện lợp rạ, bái gối trước nhà tạm tôi chợt cảm nghiệm được sự hiện diện linh thiêng, sự hiện diện của Giáo hội trong trại. Tôi đã vắng mặt, nhưng Người, Chúa Giêsu đã ở lại với họ.
Chúa Giêsu, trong bí tích Thánh Thể là sự hiện diện của Tình Yêu giữa những người tỵ nạn. Ngài đã đến với họ trong cuộc lưu đày. Ngài đã ở với họ tại Việt Nam và bây giờ có mặt với họ trong trại này, trong ngôi nhà nguyện nhỏ bé, xơ xác và trong hòn đảo heo hút giữa biển Nam Hải bao la này.” (1)
Đó cũng là cảm nghiệm tôi chia sẻ với linh mục Gildo Dominici, Dòng Tên, ngày 10 tháng7 năm 1980, khi tôi quì dưới chân Chúa trong ngôi nhà nguyện nói trên mà mái tranh đã trống vắng một vài mảng, nước mưa đã bắt đầu dột tưới cho cỏ hoa mọc hoang dại trên sàn nhà và gió biển đã luồn thổi qua các kẽ hở của phên vách sa sút…
Đa số người tỵ nạn đến trước đã được đưa đến trại Galang nên trại Kuku đã bắt đầu hoang phế. Trên sườn đồi thoai thoải, vài nấm mồ của dân tỵ nạn vĩnh viễn nằm lại đảo vì bệnh tật. Ngôi mộ mới của em bé gái mười một tuổi, chết trên tay tôi vì kiệt lực, hình như gây thương cảm đến chín tầng mây nên trời trút mưa ồ ạt làm nhạt nhòa nước mắt của người mẹ lạc hồn đang thất thểu bước đi…”Chúa Giêsu đã ở lại với họ”, những người đã nằm xuống, những người còn lang thang trên đảo vắng và lũ người khốn khổ chúng tôi vừa trôi giạt vào đây, bỏ lại biển cả tám nhân mạng, trong số có một nha sĩ kinh hoàng đến loạn óc nhảy xuống biển tự tử lần thứ hai sau khi đã được chúng tôi vớt cứu lần thứ nhất…Vị đại diện Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đặc trách người tỵ nạn -người Nam Dương nhưng nói rành tiếng Việt vì đã có thời gian phục vụ tại Việt Nam- sau khi lấy lời khai của đôi bên (chủ tàu và khách đi vượt biển) đã thu xếp cho gia đình chị Hạnh và đứa cháu sống sót sang trại Galang trước để được chăm sóc và vỗ an tinh thần với phương tiện tương đối đầy đủ hơn.
Một tháng sau, số còn lại trong chuyến tàu khốc liệt của chúng tôi rời đảo Kuku đến hòn đảo được mệnh danh là "cửa ngõ của Tự Do và Tình Người" (1). Tôi có cảm tưởng toàn trại Galang bị dao động dữ dội. Khu chợ búa, các quán cà phê, các tiệm ăn, các barrack đều bàn tán xôn xao về các bài giảng ở nhà thờ, ở chùa chiền và nhất là về bài báo đăng trên nguyệt san Tự Do, đề cập đến trường hợp thương tâm của chị Hạnh và thái độ ác đức của bọn chủ tàu: “Chị Hạnh rời Việt Nam ngày 4.7.1980 cùng với 8 người người trong gia đình, trên chiếc tàu gồm 27 người. Vì thiếu chuẩn bị, vì bất cẩn nên số lương thực trên tàu chỉ gồm hai thùng xôi, một thùng sữa bột 5 ký và hai can rưỡi nước. Những người trên tàu được chia làm hai giai cấp rõ rệt, “thượng lưu” và “hạ cấp”. Thượng lưu gồm thân nhân của chủ tàu, họ được ở trên ca-bin và được ưu đãi. Hạ cấp là những người còn lại, họ phải ở trong hầm tàu và thiếu sự săn sóc; gia đình chị Hạnh ở trong nhóm người này…Chủ tàu phân phát nước theo tiêu chuẩn: ưu tiên cho gia đình và thân nhân của ông, kế tiếp mới đến trẻ con và phụ nữ. Tuy nhiên vì có sự lạm dụng nên số nước ít ỏi dành cho gia đình chị Hạnh và một số người khác bị “phỏng tay trên”, nên thảm trạng đã xảy ra: sáu người thân yêu của chị đã chết. Trong cơn khát cùng cực, họ đã van xin người có trách nhiệm một chút nước, nhưng dù van xin, kêu la hay than khóc họ vẫn bị từ chối và cuối cùng họ đã chết “ (1)
Cả đảo hầu như chỉ chực “làm thịt” lũ bất nhân này.
Đêm đó tôi trằn trọc thâu canh vì nội tâm bị giằng co mãnh liệt. Nằm trong nhóm “hạ cấp”, đương nhiên tôi được cảm tình của chị Hạnh và những người ở đảo muốn đóng vai “kẻ hành hiệp”. Nhưng sự thật không đơn giản như mọi người đã nghĩ. Và tôi có thể đóng vai trò “chứng nhân” vì đã mục kích tư đầu diễn tiến của thảm kịch. Liệu tôi có trung thực, khách quan tuyệt đối không? Đằng nào chăng nữa tôi cũng không thể bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm. Đã bỏ nước đi vì sự thù hằn, chẳng thể nào tôi chịu nổi sự căm thù giữa những người anh chị em vốn đã là nạn nhân của sự thù hằn dai dẳng ở Việt Nam.
Sáng hôm sau đi lễ, tôi chạm mặt chị Hạnh và đứa cháu gái trong giáo đường. Hình ảnh đau thương của cô bé gái thều thào van xin tôi nước uống –và ôm mặt khóc rưng rức khi tôi cho biết bốn hôm rồi tôi cũng chẳng có một gịot nước thấm môi- sống lại mãnh liệt trong tâm trí tôi. Tan lễ, tôi theo gót chị Hạnh mở lời ủi an một cách bất lực. Chị không thể quên những người thân yêu của chị đã chết khát, xác bị vứt xuống biển. “Chị Hạnh vừa đau đớn, vừa oán hận. Sự thù ghét giữa chị và chủ tàu ngày càng sâu đậm và hầu như mọi người ở Galang đều biết” (1). Tôi đọc hết bài Kinh Hòa Bình của thánh Phan-xi-cô Nghèo Khó cho chị nghe, đặc biệt nhấn mạnh: “Chính khi thứ tha là khi được tha thứ”, rốt lòng cầu xin cho chị đón nhận lời nguyện cầu của thánh Phan-xi-cô; “Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Nhưng tâm trạng thê thiết của chị không cho phép chị tiếp nhận thuận lợi lời đề nghị giảng hòa, “oán thù nên cởi, không nên buộc” của tôi.
Phía chủ tàu (bốn người cả thảy) cũng có sự đôi co kịch liệt, trút đổ trách nhiệm cho nhau và cũng chẳng hề có sụ nhất trí phải nhận lỗi, an ủi cùng đền bù tương xứng cho gia đình chị Hạnh. Mà đám đông trên đảo, hoàn toàn bị chi phối bởi niềm uất hận trước hoàn cảnh bi thương của gia đình nạn nhân, thì đang hừng hực đòi “xé xác” họ.
Tình thế càng ngày càng nguy kịch, có thể đổ máu bất cứ lúc nào. Không thể điềm nhiên tọa thị được nữa, tôi xin gặp Cha Sở Galang. Ngài đã lắng nghe tôi trình bày tường tận ngọn ngành của thảm cảnh suốt buổi sáng. Sau đó, Ngài yêu cầu tôi viết tờ trình nội vụ để Ngài có đủ dữ kiện tra cứu sâu rộng trước khi lấy quyết định tối hậu.
Đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với linh mục Gildo Dominici. Vóc người trung bình, trán cao, mắt hiền hòa sau làn kính cận, nụ cười bao giờ cũng thoang thoảng trên môi, nhanh nhẹn, tháo vát, linh động, linh mục là người Ý nhưng nói lưu loát và viết thông thạo tiếng Việt, dù người chỉ ở Việt nam một thời gian tương đối ngắn bảy năm. Một điều hiếm thấy nơi người ngoại quốc có cơ hội sinh sống ở nước ta. Chỉ có bảy năm mà sợi dây ràng buộc người với Việt Nam trở thành mối liên hệ huyết thống trường cửu.
Trở lại chuyện dầu sôi lửa bỏng trong trại Galang: Hai hôm sau, linh mục đến tìm tôi ở barrack, nhờ tôi hướng dẫn người đến gặp mấy ông chủ tàu. Người không nói gì ngoài những câu thăm hỏi gia đình họ và những khó khăn trong cuộc sống ở trại tỵ nạn. Nhưng khi người ra về rồi thì đột nhiên phía chủ tàu nhờ tôi thưa với người xin người đứng ra giàn xếp một cuộc gặp gỡ với chị Hạnh. Chúa nhật tuần đó, một buổi lễ cầu siêu ở Chùa (do phía chủ tàu xin) và một thánh lễ cầu hồn cho những người đã qua đời trong gia đình chị Hạnh, có sự hiện diện của đôi bên và của một số rất đông dân tỵ nạn trên đảo, được tổ chức tại nhà thờ Galang, do linh mục Gildo Dominici chủ tế. Mọi người xúc động nghẹn ngào khi thấy chị Hạnh, sau khi gục khóc thảm thiết trên ghế nguyện đã gượng dậy tiến tới trước bàn thờ Chúa bắt tay phe chủ tàu…"Cuối cùng chị Hạnh đã yêu thưong thay vì thù ghét, đã tha thứ, hòa giải thay vì oán hận…” (1). Một lần nữa, linh mục đã chứng tỏ cho dân Việt tỵ nạn thấy đảo Galang, ngoài danh hiệu “Cửa ngõ của Tự Do” còn là cửa mở cho “Tình người”. TỪ BI HỈ XẢ đã gặp BÁC ÁI BAO DUNG, tái xác nhận những cảm thông và hợp tác, vốn đã có từ khi trại Galang mở cửa đón nhận thuyền nhân Việt Nam, giữa những người tuy khác tín ngưỡng nhưng cùng chung một tâm huyết: bảo vệ và phục vụ người đi tìm tự do…Sự hiện diện của chùa Phật, thánh thất Cao Đài, nhà thờ Tin Lành, nhà thờ Công Giáo trên đảo xác minh nỗ lực cung ứng đồng đều nhu cầu tâm linh cho dân tỵ nạn Việt Nam.
Sau vụ hoà giải thành công, qua sự giới thiệu của linh mục, tôi đến cộng tác với bán nguyệt san Tự Do do người làm chủ nhiệm và hợp tác với ban Điều hành Trung tâm Huấn nghệ do người vận động với Cao ủy Liên Hiệp Quốc đặc trách người tỵ nạn dựng nên để dạy Việt ngữ, Anh ngữ và một số nghề cho dân tỵ nạn.
Linh mục, ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng La-tinh, tiếng Ý (dĩ nhiên) còn nói và viết thông thạo tiếng Nam Dương. Do đó, giới chức Nam Dương ở đảo Galang rất có cảm tình với người và qua người, rất có thiện cảm với người Việt tỵ nạn. Do sự can thiệp của người, mọi trường hợp lẻ tẻ cảnh sát Nam Dương hành hung người tỵ nạn đều được vị Chỉ huy trưởng trại Galang, thiếu tá Casmir Rachman đích thân giải quyết và có biện pháp thích nghi. Ít khi tôi thấy linh mục giam mình trong văn phòng. Ngoài giờ giấc qui định cho giáo sự, người thường cỡi Vespa đi khắp hang cùng ngõ hẻm trên đảo, đến khích lệ anh chị em ở tòa soạn Tự Do hoặc ghé qua Trung tâm Huấn nghệ động viên tinh thần ban giảng huấn và học viên, thăm hỏi các barrack, giải quyết tại chỗ các tranh chấp, xích mích và quyết liệt ngăn chặn mọi xô xát bạo hành. Cái mà người căm ghét nhất là bạo lực.
Rất tiếc tôi chỉ gần người để phụ lực trong một thời gian quá ngắn ngủi là ba tháng. Người mà tôi tâm sự nhiều nhất ở đảo là linh mục. Tôi đã cô đọng tất cả trong bài viết “Đường Về Nhà Cha”. (1)
Ngày cuối tiễn tôi ra bến tàu sang Singapore để lấy máy bay đi Xứ Tuyết định cư, linh mục tặng tôi quyển Thánh Lễ Misa duy nhất bằng tiếng Pháp mà người có trong tay, trên đảo Galang. Ở trang đầu, người viết: “Ai đã ở trong Chúa Giêsu thì người ấy là một tân tạo vật. Thế giới cũ kỹ đã đi qua; và này đây một thực tại mới mẻ đang ló dạng” (2Cor,5:17). «Tặng bạn thân Lê Tấn Lộc của tôi món quà nhỏ này. Ước mong, trong lời cầu nguyện nó sẽ là phương cách hiệp nhất với Thiên Chúa, một Thiên Chúa đã trở thành niềm đam mê của đời bạn ». Gildo Dominici, S.J. Pulau Galang, ngày 3 tháng 11 năm 1980.

- Thưa Cha! Tôi xúc động bái gối, rồi ôm chầm lấy linh mục Đỗ Minh Trí –linh mục Gildo Dominici của tôi, ngày xưa ở Galang- Con tạ ơn Chúa và Mẹ đã cho con gặp lại Cha ở Xứ Tuyết này, nhân lễ Chúa Giáng Sinh.
- Ồ! Ông Lộc! (linh mục nhận ra tôi ngay, dù đã 11 năm xa cách). Ô hay! Thật bất ngờ! Mấy lần sang Canada đều hỏi thăm ông mà không ai cho tôi được địa chỉ và điện thoại của ông. Lần chót ông liên lạc với tôi khoảng tháng 5 năm 1981. Rồi sau đó bặt tin luôn.
- Thưa Cha! Con còn nhớ lần đó Cha trả lời con là “Có rất nhiều thuyền nhân đến đảo Galang mà không thấy bà Lộc đâu cả…”. Con định tin cho Cha hay con không có ý để vợ con của con trải qua thảm cảnh hãi hùng của con trên biển cả. Nhưng rồi sau đó, quá cô đơn, quá thất chí, tinh thần con sa sút trầm trọng…Con ở cách đây 30 cây số, nên ít khi đi lễ ở đây. Hôm nay quả là thánh ý Chúa muốn vợ con và con gặp được Cha trong thánh lễ Giáng Sinh -cũng theo thánh ý Chúa- do Cha chủ tế vào giờ chót (vì cha Mai bận việc thình lình) tại nhà thờ Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam vùng Montréal. Con nghiệm thấy vẫn còn nhận hưởng được nhiều ơn Chúa.
Tôi mời linh mục lên xe cùng tôi về thôn trang Đổ-Lá-Đầy-Ấp-Mơ (Dollard-des-Ormeaux). Trên xe, linh mục lần lượt cho tôi biết người đã bị các quốc gia có người tỵ nạn “cấm cửa” vì đã bênh vực quyền lợi của người tỵ nạn bằng cách lên tiếng tố giác qua sách vở, báo chí và hệ thống truyền thanh, truyền hình những vụ chà đạp nhân quyền, như đánh đập, tống tình, tống tiền, bắn giết người tỵ nạn…
Khởi đầu là chính quyền Nam Dương: Bán nguyệt san Tự Do, ra đời ngày 1.4.1980 bị giới chức ở trại ra lịnh ngưng bản sau khi ra tới số 100. Ngày số cuối đến với độc giả cũng là ngày chính phủ Nam Dương “mời” linh mục rời trại Galang, nhường chỗ cho một linh mục người Nam Dương, với lời yêu cầu “miễn” trở lại. Trung tâm Huấn nghệ, ra đời gần như cùng lúc với Tự Do hình như cũng đã được dẹp bỏ khi người rời Galang. Tổng cộng, linh mục đã ở Nam Dương với người tỵ nạn 7 năm, 2 năm ở Djakarta, 5 năm ở Galang. Đa số thuyền nhân ở đảo với linh mục tới năm 1984 đều đã được đi định cư ở đệ tam quốc gia. Hiện còn non 20 ngàn người Việt tỵ nạn bị kẹt ở Galang 2 chờ “thanh lọc” (!) và chờ bị tống về Việt Nam.
Sau đó, linh mục đến trại Bataan (Phi Luật Tân) giúp người tỵ nạn Việt Nam. Cũng những cảnh chà đạp nhân phẩm dân tỵ nạn nhan nhản hằng ngày trước mắt người. Người lại lên tiếng tố giác. Đặc biệt lần này người thông báo cho tên trại trưởng người Phi các sòng cờ bạc, các động chích choác, các ổ điếm trá hình, cùng các tệ đoan khác trong trại. Ngày hôm sau người nhận được một thư nặc danh yêu cầu người rời khỏi trại Bataan càng sớm càng tốt, nếu không sẽ bị sát hại bằng những viên đạn như 3 viên đạn gửi kèm theo thư hăm dọa. Tên trại trưởng chắc chắn không xa lạ với hệ thống “làm ăn” qui mô này. Sau Nam Dưong đến Phi Luật Tân cấm cửa ! Người phục vụ ở Bataan 3 năm tròn.
Kế tiếp –như một nghiệp dĩ với người Việt tỵ nạn- người lại đến phục vụ họ ở trại tỵ nạn Banthat, một trại nằm ở biên giới Thái Lan-Căm Bốt. Cũng những cảnh đau lòng như ở các trại tỵ nạn khác mà người đã đi qua. Nhưng ở đây mức độ vi phạm, chà đạp kinh khiếp ngoài sức tưởng tượng. Ngay từ đầu, ban chỉ huy trại (người Thái) đã chỉ cho phép người và những người ngoại quốc khác trong Cao ủy Liên Hiệp Quốc đặc trách người tỵ nạn làm việc với dân tỵ nạn đến 5 giờ chiều. Một trong những lý do họ nêu ra là “lý do an ninh”: Quân Khờ-me Đỏ có thể tấn công hoặc pháo kích vào trại. Nhưng thực ra, đám lính Rangers (Biệt động quân) Thái đang nhiễu loạn trong trại không muốn có nhân chứng người ngoại quốc, để về đêm chúng tha hồ đàn áp dã man không thể tưởng: đánh đập gây thương tật, khảo tiền, vét của, hiếp dâm, ép mãi dâm, bắt cóc, thủ tiêu…Linh mục cho tôi biết, một cô gái may mắn sống sót sau một vụ trong nhiều vụ tàn sát tập thể đã kể lại với người: Đang đêm, hàng loạt người tỵ nạn bị lúa xuống ghe cho tàu Thái Lan kéo ra khơi và Marines (Thủy quân lục chiến) Thái xả súng bắn chết hết! Do sự can thiệp mạnh mẽ của linh mục và phái đoàn Cao ủy LHQ, chính quyền Thái thay thế đám lính rangers ô hợp bằng các toán quân quân nhân khác, có tác phong và kỷ luật gưong mẫu hơn. Từ đó trật tự an ninh mới được vãn hồi trong trại Banthat. Sau Nam Dưong, Phi Luật Tân, đến lượt Thái Lan “cấm cửa” người ! Linh mục đã ở trại Banthat non 3 năm.
- Nghĩ đi nghĩ lại –linh mục tạm kết câu chuyện khi xuống xe bước vào nhà tôi- tôi thấy, với dân tỵ nạn, người Nam Dương coi vậy mà tử tế nhất, người Phi Luật Tân độc ngầm. Tàn ác, hung bạo kinh khủng nhất là người Thái…
Sau khi ban phép lành cho ngôi nhà, dùng bữa với chúng tôi, linh mục tiếp nối câu chuyện bỏ dở. Người cho biết, từ Âu sang Mỹ đến Úc châu, đâu đâu người cũng may mắn gặp lại các “cố nhân” đã ở ”đảo tình người”: Ban đại diện trại, ban điều hành Trung tâm Huấn nghệ, Hội đồng Giáo Xứ, ban biên tập Tự Do, ban thông dịch của Cao ủy LHQ và rất nhiều người tỵ nạn khác. Mọi người, tuy đã tương đối ổn định đời sống nơi xứ lạ vẫn không ra khỏi tâm trạng tha hương, đều nhắc nhở và luyến tiếc thời ở đảo, dù thiếu nhiều tiện nghi vẫn đậm đà tình người, một thứ mà hầu hết đều nhận thấy thiếu vắng trên vùng đất định cư.
Hiện linh mục phụ trách công tác LINH THAO (gọi nôm na là “cấm phòng”, tiếng Pháp là retraite) cho Hoa Kỳ và Gia Nã Đại. Có thể có nhiều điểm tương đồng với Tịnh khẩu, Tĩnh tâm, Tham thiền nhập định của Phật giáo. Tuy nhiên người vẫn dành thời giờ nghỉ hè đi khắp nơi trên thế giới -nơi nào có người Việt định cư- để thăm viếng “đồng bào” của người.
Linh mục đã về Việt Nam hai lần và tin rằng lần thứ ba người trở lại, nước Việt Nam sẽ không còn chế độ cộng sản nữa. “Một tất yếu lịch sử. Họ thay đổi hoặc tự sát. Một thay đổi tuần tự, một giải thể tiệm tiến. Một sự sụp đổ nhanh chóng quá có thể xảy ra đổ máu”, linh mục nhận xét như vậy.
Tôi hỏi người sinh hoạt của Giáo hội ở Việt Nam giờ ra sao. Người cho biết tương đối đỡ ngột ngạt hơn trước đây, nhưng những ngăn chặn phát triển vẫn còn nặng, đặc biệt về nhu cầu cung ứng tu sĩ. Ta phải hoạt động “chui” để đáp ứng nhu cầu này.
- Ông có biết chính quyền cộng sản VN sợ cái gì nhất giờ này không? Linh mục hỏi tôi.
- Thưa Cha, chắc không phải sợ vũ lực của bom đạn., tôi đáp.
- Đúng. Họ sợ nhất là dân chúng xuống đường biều tình. Năm rồi họ không dám tổ chức “Lễ Đại Thắng 30-4”. Mọi thứ đã được chuẩn bị rầm rộ, nhưng giờ chót họ dẹp hết vì sợ dân biểu tình chống chế độ. Anh chị em ở hải ngoại nên biết điểm yếu của họ và nhắm vào chỗ đó… À! Ông còn nhớ chị Hạnh không? Tôi vừa gặp lại chị ở Úc. Chị bây giờ có bốn đứa con khác.
Tôi vừa mừng cho chị, vừa nhớ lại hình ảnh tang thương của chị lúc ở đảo. Mầm sống lại tái sinh từ chết chóc thê lương…
- Thưa Cha, cho con hỏi điều gì Cha đang ao ước nhất hiện nay?
- Trở về Việt Nam để góp phần giúp đỡ anh chị em tôi gầy dựng lại đất nước đã đổ nát vì một chế độ phá sản. Trước đây tôi theo chân anh chị em tôi bỏ nước đi lưu đày. Giờ đây tôi sẵn sàng tháp tùng đoàn người ly hương trở về quê mẹ. Bao nhiêu tim óc tôi đều trọn hướng về Việt Nam, quê hưong tôi. Tôi sẽ ở lại với người Việt Nam tại Việt Nam đến suốt đời…

Tôi đưa linh mục về và cùng lên phòng người để nhận sách tặng. Tuy người không nói ra, nhưng tôi nhận thấy người có vẻ “chồn chân” trên đất liền. Dĩ nhiên, công tác Linh Thao là một trong những công tác thiết yếu của Giáo hội. Và công tác nào cũng nhằm “mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”(thánh Phan-xi-cô nghèo khó). Nhưng tôi nghĩ con người của linh mục là con người của biển cả, của hoang đảo tràn đầy người tỵ nạn gầy yếu về thể xác, còm cõi về tinh thần. Linh mục đã gắn liền cuộc sống của mình với vận mệnh của đất nước Việt Nam và số mệnh của hàng triệu người Việt tỵ nạn…
Người đưa cho tôi xem ba tác phẩm bẳng tiếng Việt của người đã phát hành ở các trại tỵ nạn. Tác phẩm đầu là bản dịch từ tiếng Ý sang Việt ngữ, nói về cuộc sống hôn nhân. Tác phẩm thứ hai, Ra Khơi và tác phẩm thứ ba, Việt Nam Quê Hương Tôi, viết bằng tiếng Việt.
Người tiễn tôi ra tận cửa, và khi tôi lái xe ra khỏi khuôn viên Chủng viện người vẫn còn dõi theo cho tới khi xe tôi mất hút.
Về nhà, tôi xúc động bắt gặp những tình cảm, tâm tư sâu đậm của linh mục từ dòng chữ đầu của tác phẩm: “Với tấm lòng yêu mến dân tộc Việt Nam, đặc biệt là các bạn trẻ, tôi viết ra cuốn Việt Nam Quê Hương Tôi…” (1)
Trong bài thứ hai, tựa đề “Việt Nam Quê Hương Tôi”, người viết: “Nếu xét theo tiêu chuẩn địa lý thì quê hương tôi thật bé nhỏ: diện tích hẹp, dân số ít. Nhưng có một nước Việt Nam khác rộng lớn hơn, rộng lớn như một đại lục. Đó là văn hóa Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, đó là tinh thần Việt Nam. Và chính đó mới thực sự là quê hương của tôi(…) Một nước Việt Nam mà không một chế độ nào, không một cuộc chiến tranh nào có thể xóa được trên trái đất. Một nước Việt Nam mà không một chế độ nô lệ nào có thể chà đạp và khống chế ! Tôi hân hạnh được làm công dân nước Việt Nam trường cửu, bất diệt như vậy !” (1)

Tôi xếp quyển sách với hình ảnh linh mục Gildo Dominici -Đỗ Minh Trí- đang hướng nhìn về Việt Nam, bày tỏ nỗi lòng với tất cả người Việt, trong cũng như ngoài nước,trong đó có tôi: “Nhắc lại một lần nữa, tôi rất yêu mến người Việt Nam và cảm phục người Việt Nam. Và tôi tự coi mình một phần nào như là một người Việt Nam, ít nhất là xin phép tôi coi mình như là một người lai Việt Nam. Vì thế, mỗi khi gặp người Việt Nam, bất cứ lúc nào tôi đều có cảm tưởng đó là tôi gặp một đồng bào của mình.” (1)
Hi vọng lần đi sinh hoạt với giáo dân ở Baie James, dưới cái lạnh cắt da tăng theo cường độ của gió buốt, kéo hàn thử biểu xuống tới mức ghê rợn trừ 66 độ C, linh-mục-sứ-giả-của-tình-thương sẽ thấy lòng ấm lại khi gặp được vài “cố nhân” lẻ loi, đã ở “Cửa ngõ của Tự Do và Tình Người”, đang công tác ở vùng địa đầu của miền giáp tuyến Cực Bắc.
Và tôi nghĩ nước Việt Nam sẽ mở rộng vòng tay đón nhận một công dân người Việt gốc Ý: Công dân Đỗ Minh Trí !

Đổ-Lá-Đầy-Ấp-Mơ, Xứ Tuyết, Thu tàn…
-Lê Tấn Lộc-
______________________________________________________________________________________



Ghi chú:
(1)Các trích văn trong bài này mượn từ những bài viết của linh mục Đỗ Minh Trí, đăng rải rác trên 100 số của bán nguyệt san Tự Do, phát hành từ 1980 đến 1984, được tuyển chọn, tập trung ấn hành thành hai tác phẩm Ra Khơi Việt Nam Quê Hương Tôi. (Tác phẩm VNQHT được ban Giáo dục, ban Truyền thông và Đoàn Thanh Niên Hy Vọng, giáo hạt Tôma Thiện, Cộng Đồng Công Giáo Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại tiểu bang Victoria (Úc châu) tái bản vào tháng 7-1991, nhằm gây quỹ giúp người tỵ nạn.

Gối Rơm



Xứ Tuyết, đêm…

Lệ thương mến,
Tình cờ được biết Lệ sống ở Hoa Kỳ, đâu đã ba bốn năm nay, với người chồng mới (không rõ người Việt hay người Mỹ), tôi vừa mừng cho Lệ vừa đau cho Hoàng, nghe nói hình như mới được ra trại cải tạo năm rồi. Cũng tình cờ tôi gặp lại Phương, người mà chắc phải còn trong ký ức của Lệ, đang hành nghề y sĩ tại đây.
Xưa Lệ với Phương chưa chi đã đường ai nấy đi, tôi có tiên đoán. Nay Lệ bỏ Hoàng, tôi cũng có chờ đợi. Lẽ ra chuyện đó đã phải xảy ra sau mấy tuần trăng mật. Có lâu lắm cũng sau khi Hoàng rời ghế đầu quận ngay tại quê hương xứ sở của hai vợ chồng.
Trong ba con ngựa đua nước rút đến với Lệ, tôi là con đầu tiên bị trọng thương và bị loại ngay vòng đầu. Phương lặng lẽ rút lui. Khá nhiều con ngựa lẻ tẻ khác sứt càng gẫy gọng bỏ cuộc dọc đường. Hoàng đương nhiên tới mức ăn thua, nhưng không có nghĩa là thắng cuộc. Trong ba đứa, có lẽ tôi là người sớm nhận ra mẫu người lý tưởng đối với Lệ: đẹp trai, cao ráo, hiên ngang, có tâm hồn nghệ sĩ, con nhà giàu, vừa có thế lực, vừa phải học giỏi, có địa vị, có danh vọng và nhứt là phải chung thủy một chiều với Lệ. Ở thời điểm đó, cả ba thằng gộp lại chưa chắc đã hội đủ điều kiện, nói chi tới một đứa!
Có lẽ cuối cùng Lệ đã gặp được người Lệ hằng ấp ủ trong lòng từ lâu. Nếu thật vậy, bỏ qua dư luận khe khắt kết án, tôi mừng cho Lệ. Vả lại trường hợp của Lệ cũng không đơn lẻ trong hiện trạng quê hương tan tác…Tôi chỉ sợ Lệ lại thả mồi bắt bóng như xưa, loại dần những con ngựa bạn đường của Lệ để đuổi bắt vô vọng con thần mã huyễn hoặc Pégase đang vươn đôi cánh thiên thần bay trên trời cao…
Tôi hy vọng tình cờ Lệ đọc được đoạn thư nầy, để cùng tôi thả hồn về Vĩnh Long, gần nửa thế kỷ về trước, thuở Lệ 13 tôi 16. Thuở ấy, dù còn “nhi đồng”, Lệ đã kiêu sa bước vào tình trường với tuổi trẻ sắc nước hương trời như hành trang. Và giờ đây, tôi đoan chắc Lệ vẫn giữ nguyên vẹn phong độ hoa khôi thuở nào, bởi Lệ thuộc loại đàn bà không có tuổi, như “Nữ thần trong động lửa”, trẻ mãi không già…

Vĩnh Long, năm…

Buổi chiều hôm ấy Oanh, em nàng đem trả cuốn “Nửa bồ xương khô” của Vũ Anh Khanh mà tôi cho nàng mượn trước đó một tuần, bên trong kẹp một tấm ảnh 4x6 của nàng kèm theo một trang vở học trò xếp năm bảy lượt thành tờ chắn sách, gói ghém một “thông điệp” ngắn gọn: “Hẹn Nguyễn Trãi 12 giờ trưa tại Vườn Địa Đàng. K.L”. Phía sau ảnh, ghi: “Hình chụp lúc mới lên lớp Tiếp liên”.
Oanh vừa bước ra khỏi xưởng mộc của ba tôi là tôi lật đật chạy xuống bếp kiếm chị Trinh tôi khoe liền: Đưa ảnh người yêu cho chị xem, Cả thư người ấy gửi cho em. Chị cười đáng sợ là đôi mắt, Chưa thức đêm nào đến trắng đêm…
Dù đã một lần “lỡ bước sang ngang”, đã một lần “ép nốt dòng dư lệ”, chị tôi vẫn chưa hề có khả năng “nhỏ xuống thành thơ” để đời như “ông thầy” Nguyễn Bính và “bà thầy” TTKH của tôi. Nên chị chỉ lưu ý tôi: “Con nhỏ đẹp ác! Em coi chừng ôm hận”.
Tôi cười khà, lòng đầy tự tin:

Hai năm liền tôi nổi danh trên sân khấu học trò với vai Nguyễn Trãi biệt cha già Thục-Nguyễn Phi Khanh tại ải Nam Quan và Nguyễn Trải mưu cơ đồ cho Thứ-Bình Định Vương Lê Lợi. Hai năm liền tôi đoạt giải nhứt văn nghệ toàn trường về đơn ca, về kịch nghệ, về nhạc cảnh…Thầy Tư Hón, ông bầu văn nghệ học sinh “cưng” tôi như trứng mỏng. Ông Hiệu trưởng Nguyễn văn Kính, Thanh tra liên tỉnh Vĩnh Long-Sa Đéc-Trà Vinh (tục gọi mơ-xừ Te: Inspecteur interprovincial), quí thầy cô, nhứt là cô Nguyễn thị Sương (phu nhơn nhạc sư Trần văn Khê), thầy Nguyễn văn Kỷ Mậu, Tổng Giám thị nuông chiều tôi hết mức. Cũng hai năm liền, cùng với Thứ tôi đứng đầu danh sách phát thưởng về học vấn, nhưng ít người để ý tới, kể cả tôi. Trái lại, tất cả các trường trong tỉnh lỵ và phụ huynh học sinh đều biết “Lộc-Nguyễn Trãi”. Lúc đó chưa có phong trào xin chữ ký, nếu không, chắc tôi đã liệt tay! Mấy tiệm chụp hình ở hai con đường chính Phan Thanh Giản và Gia Long đều có “chưng” ảnh Lộc-Nguyễn Trãi. Nhờ vậy, các gia đình thượng và trung lưu trong tỉnh, vốn rất bảo thủ, bắt đầu chấp thuận cho các công tử và công nương của họ giao du với đứa con chú thợ mộc nghèo nàn.
Thời đó, vì thầy Kính kiêm luôn thanh tra tiểu học liên tỉnh nên các buổi văn nghệ phát thưởng được tổ chức chung cho trường trung học, trường Nam, trường Nữ tiểu học Châu thành. Quân hầu, vũ nữ, tỳ nữ thường do bên tiểu học cung cấp dồi dào cho “vua chúa, tướng quân” bên trung học. Các anh chị cùng lớp o bế tôi dữ lắm để được đóng vai quân Nam, cung nữ hoặc được hầu quạt, che lộng cho vua chúa, tướng quân, công chúa, công nương phe ta. Thầy Tư Hón cho tôi toàn quyền về việc tuyển chọn nầy. Số còn lại, nếu có chút “khiếu”, được tống qua phe địch do Ba Tàu Tông và Mười Giác thống lãnh. Làm quân Chệt ai cũng chê hết, lớp bị khán giả chửi, lớp không thọ, vì lâm trận là chết như rạ với quân ta. Vả lại, quân Tàu râu rìa lông ngực nên mặt mày phải bôi lọ nghẹ coi như quỉ sứ, chớ không “môi son má phấn mày ngài”, bô trai như quân Nam.
Các bạn gái cùng lớp đều lớn tuổi và lớn con hơn tôi, nên các chị “cưng” tôi như cưng em! Tôi chỉ còn đá lông nheo được với mấy em gái lớp Nhứt và lớp Tiếp liên. Nàng nằm trong đám văn nghệ mầm non tiểu học nầy, quá đẹp để đóng vai cung nữ, tì nữ, quá trẻ để thủ vai công nương. Tuy còn “nhóc”, nhưng nàng đã được cả tỉnh mặc nhiên công nhận là hoa khôi.
Lần đầu, cùng bầy “tiên nữ tí hon” Nhan, Huệ, Hương, Liên, Hoa v.v…nàng đến gặp tôi sau buổi trình diễn ở Miễu Quốc Công, lúc tôi đang đứng trước hàng “tướng sĩ” chụp ảnh lưu niệm. Trong lúc các bạn nàng gợi chuyện với tôi, nàng chỉ liếc nhìn tôi mỉm cười. Tôi để ý tới nàng ngay từ bữa đó. Trông nàng trội hẳn trên đám hoa biết nói cùng trang lứa. Và cung cách hành sử y như một công nương với đám tùy tùng.
Lần thứ hai, năm sau, nàng lân la làm quen với tôi, cũng sau buổi trình diễn văn nghệ ở rạp hát bóng Lạc Thanh, đường Võ Tánh, gần nhà tôi. Sau đó, chúng tôi gặp nhau thường hơn, nhưng cũng chỉ để cùng đạp xe vòng vòng mấy cây cầu bao quanh thành phố, như cầu Lộ, cầu Kinh Cụt, cầu Công-Xi Heo, cầu Lầu, cầu Thiềng Đức, cầu Cái Cá. Xa lắm là “cua” Long Hồ và cầu Ông Me (đường đi Trà Vinh), cùng đi với mấy cô bạn gái của nàng để thiên hạ khỏi dị nghị. Điểm khởi và trạm cuối thường là nhà Liên, em gái của Hưởng, đường Trương Minh Ký. Có khi là nhà Thu Hương, đường Phan Thanh Giản, gần tiệm bi-da Thiện Mỹ. Các cô “cáp”tôi với nàng. Dĩ nhiên làm gì tránh khỏi màn làm mai qua làm mai lại, muốn ăn gắp bỏ cho người v.v…Nhưng cuối cùng cặp Kiều Lệ-Lộc Nguyễn Trãi được coi như xứng đôi vừa lứa nhứt. Cho tới lúc Oanh đưa tin hẹn, tôi mới chắc chắn hoa khôi đã chọn tôi.

Sáng nay, tôi thức rất sớm. Nói là thức, chớ thiệt tình đêm qua, sau khi nhận “thông điệp” của người đẹp tôi có ngủ nghê gì đâu! Dợt đi dợt lại cả chục lần bộ tịch và lời tỏ tình với người hoa…tôi cất tiếng hát ca khúc “Viễn Du” của Phạm Duy (đã giúp tôi lọt vào mắt xanh của nàng) vang rền cả gác nhỏ mà ba má tôi dành riêng cho Kiệt -em tôi- và tôi làm phòng học, ngắm nghía “dung nhan” mình trước kiếng, chải thêm lần nữa (chắc cũng đến lần thứ mười mấy) mái tóc đã láng bóng vì bờ-ri-ăng-tin, o bế cái ổ gà trên đầu, sửa lại chiếc nơ pa-pi-ông đỏ chói, ép tóc hai bên cho thật tém vào ót, vuốt lại pờ-li quần cho thật bén, kéo áo sơ-mi cho phồng ra che phủ dây nịt, cúi nhìn đôi giầy béc-ca-na bóng như gương, mỉm cười hài lòng, rồi bước xuống cầu thang, băng ngang qua xưởng đóng bàn ghế của ba tôi, tay ôm gói quà định tặng cho nàng. Tội nghiệp thằng em tôi -nó vốn có hoa tay- phải mất trọn buổi chiều để vẽ cho tôi hai chữ L xoắn tít nhau. Và anh hai Te phải thức đến gần nửa đêm cưa, bào, đục, đẽo, chạm trổ trên mảnh cây cẩm lai loại quí nhứt (có vân trắng), biến hai chữ L thành hai con rồng trững giỡn trên mây…
Anh hai Te ngừng tay bào, nheo mắt chọc quê tôi:
-Dô cơ rồi hén!
Mấy chú thợ khác cũng dừng tay, trầm trồ khen tôi diện “kẽng” quá, Tôi đỏ mặt, bước nhanh về phía chiếc xe đạp dựng trước trại mộc, “dọt” gấp.

Qua khỏi Cây Da Cửa Hữu, đến trước Collège de Vĩnh Long, đường Nguyễn Thông, tôi thắng xe, đạp chậm lại, sợ hư mái tóc và đổ mồ hôi tiêu bộ đồ “vía”. Vả lại còn sớm quá, tới đứng xớ rớ cũng hơi ngượng. Từ nhà tôi đạp rề rề tới nhà Hưởng, con ông chủ hãng dầu thơm, đường Trương Minh Ký, mất chừng 20 phút. Bây giờ mới 10 giờ rưỡi. Tôi chạy thẳng tới nhà Thứ, cùng đường, định rủ Thứ đi chung. Nhưng Thứ đã ra chợ mua “ca-đô” cho bồ. Kẹt quá, tôi đành tiếp tục đạp xe tà tà đến điểm hẹn. Đối diện nhà Hưởng là khu Đất Thánh Tây, nghĩa trang của dân da trắng và dân địa phương có quyền uy trong tỉnh (Tương đương với nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi ở đô thành Sài Gòn). Dựng xe ngoài cổng, tôi thả bộ trên những lối đi trải sỏi phân chia các lô mộ, tìm một băng đá ngồi hướng nhìn về phía nhà Hưởng. Ngoài hàng rào tường vôi, một hàng xoài xum xuê bao quanh ngôi biệt thự đồ sộ nhưng rất xinh xắn.
Ba Hưởng tốt nghiệp cử nhơn lý hóa ở Pháp. Vì nhà quá giàu, ông không cần đi dạy học. Ông thích tự do, nên đã dành nhiều thời giờ gầy dựng và chăm sóc khu vườn có một không hai trong tỉnh, với hồ bán nguyệt, nhà thủy tạ, hòn non bộ v.v…cùng đầy đủ kỳ hoa dị thảo. Với chúng tôi, đó là “Vườn Địa Đàng”, rất thích hợp để hẹn hò với bè bạn ca hát, hòa tấu, ăn uống và tập dợt các tiết mục sẽ trình diễn trong các dịp lễ lạc.
Ngồi một lúc lâu, thấy khó chịu với cái nắng bắt đầu gay gắt, tôi dắt xe vào khu Vườn Địa Đàng. Chưa có bóng dáng bạn bè nào hết. Chào má Hưởng và Liên xong, tôi xin phép vào xa-lông ngồi chờ. Vói tay lấy cây ghi-ta, tôi dạo mấy bản nhạc tiền chiến cho đỡ sốt ruột, vừa đàn vừa ôn lại trong đầu những gì cần nói với nàng khi trao quà tặng.
Khoảng 11 giờ rưỡi, tôi nghe tiếng bánh xe nghiến trên lối đi chính trải sỏi dẫn tới Vườn Địa Đàng và tiếng cười nói của bạn bè gái trai. Nhưng tôi biết nàng chưa tới. Qua những lần chờ đợi nàng trong nhiều lần họp mặt trước tại đây, tôi in trong đầu âm thanh đặc biệt của tiếng bánh xe nàng rạch đường trên sỏi đá…Nửa giờ sau, tôi nhận ra âm thanh tuyệt diệu đó, nhưng hơi ngờ ngợ, vì hình như tiếng rào rào có vẻ lớn hơn mọi khi. Chắc xe chở đôi. Tôi dằn lòng ngồi nán lại, cố ý dành cho nàng một đôi phút ngơ ngác không thấy tôi. Quả nhiên. Nhưng người ngơ ngác không phải nàng, mà là… tôi! Qua cửa sổ phòng khách, tôi thấy nàng không có vẻ gì tìm tôi cả. Không phải tại Phương, bạn tôi, học ở Sài Gòn về ăn Tết chở nàng tới, vì chuyện đó vẫn thường xảy ra: chúng tôi ưa nhờ bạn đèo giùm bạn gái của mình cho đỡ mắc cở…
-Lộc đâu? Hưởng đón nàng, hỏi.
-Tôi hổng có quen Lộc nào hết! Nàng lớn tiếng đáp, nụ cười tắt liền trên môi.
Hưởng mỉm cười đáp lễ, nói Lộc tới trễ chút (Hưởng không biết tôi đang chờ ở xa-lông), có gì đâu mà giận dữ vậy. Nàng làm như tôi không có đó. Tôi lại nghĩ nàng còn giận lẫy…

Vào bàn tiệc, bày ra dưới một tàn cây rậm rạp, ai cũng có cặp, tôi đơn lẻ ngồi đối diện nàng. Thức ăn bắt đầu dọn ra. Tất cả cười nói vui vẻ; qua câu chuyện trao đổi, bạn bè nói xa nói gần, ám chỉ nàng và tôi: “Bao giờ vui nhỉ về ăn cưới?”.
Tự nãy giờ tôi chẳng dám hở môi. Hưởng vỗ vai tôi hỏi sao tôi không vui và không trò chuyện với nàng. Tôi chưa kịp phản ứng thì nàng đã đứng lên sừng sõ:
-Trong buổi tiệc tân niên nầy, tôi quen và thân với tất cả, trừ một người. Ai là người đó, nên biết thân, đừng có xía vô chuyện vui của người ta!
Mọi người hết sức ngạc nhiên; cả Phương cũng tỏ vẻ áy náy cho tôi. Mặt tôi chắc tái nhợt vì người tôi như đang lên cơn sốt rét. Tôi cảm thấy tay chân lạnh ngắt, miệng đắng, môi khô, nên nhắp một hớp xá xị cho đỡ khát. Ngụm nước ngọt chưa kịp xuống cổ họng, nàng đã chỉa tay vào mặt tôi, bắn phát ân huệ cuối cùng: “Gối rơm giữ phận gối rơm, Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao!”
Mọi người sững sốt, kể cả Phương…Suốt kiếp, sẽ chẳng bao giờ tôi quên nổi đôi mắt sáng quắc của nàng, lúc bấy giờ như hai tia lửa phóng thẳng vào mặt tôi. Tôi rụng rời…Từ giây phút đó, tôi chỉ còn là cái xác không hồn, ngồi bất động trong bàn tiệc mừng xuân. Những món ăn hợp khẩu vị do Hưởng thúc ép rớt vào miệng tôi như rơi vào mồm một người máy. Tuy muốn bất tỉnh vì nhục nhã, tôi vẫn ghi nhận sự ân cần chăm sóc của nhóm bạn gái nàng, của Thứ và Hưởng. Thỉnh thoảng nàng liếc nhanh về phía tôi, đầy ác cảm, thái độ khinh khỉnh, hiu hiu tự đắc!
Lúc chia tay, nàng chào hỏi hết mọi người, trừ tôi. Cuối cùng chỉ còn mình tôi ngồi lại bàn tiệc với Hưởng và Thứ. Hai đứa tra hỏi tôi về thái độ hung hãn của nàng. Chúng nó nghĩ tôi có làm điều gì “sốc” nàng. Tôi lắc đầu ngao ngán, không thể hiểu vì sao bỗng dưng nàng đối xử với tôi tàn tệ như vậy. Thấy mình sắp bật khóc, tôi vội vã chia tay hai đứa bạn, cố gắng bình tĩnh cột gói quà “lưỡng long” sau “bọt-ba-ga”(porte-bagage), cắm đầu đạp xe thật nhanh ra khỏi Vườn Địa Đàng…
Ra đường, nước mắt ứa tràn ướt mặt, nhưng tôi vẫn cố nén tiếng khóc, lầm lũi nhắm hướng trại mộc đạp miết. Thấy tôi bước vào nhà, nước mắt ràn rụa, ba má tôi, thợ thuyền và chị tôi chẳng hiểu ất giáp gì hết. Tôi đi bóng láng bao nhiêu, về bèo nhèo bấy nhiêu. Ôm khư khư gói quà, tôi chạy một mạch lên cầu thang, khóa cửa phòng, úp mặt xuống giường khóc ngất…Tôi khóc như vậy rất lâu…
Cơn xúc động vừa lắng dịu thì cơn giận dữ lại kéo tới như giông bão. Tôi đập “lưỡng long” xuống sàn vỡ đôi, vớ tấm ảnh của nàng -mà tôi đã rọi cỡ carte postale và lộng kiến- chọi vào vách lầu. Kiếng bể nát. Tiện tay, tôi lột tấm ảnh xé tan tành cùng với lá “thông điệp”. Miểng kiếng ghim đầy tay, máu tôi loang lổ trên ảnh và thư của Lệ…
Đêm đó tôi chong đèn thức trắng đêm. Rất tế nhị, Kiệt bỏ xuống nhà dưới ngủ. Khởi đầu, tôi lấy colle forte -loại keo cực mạnh để dán cây- gắn lại hai chữ L. Kế đến, tôi dùng băng keo trong vá lại tấm ảnh và lá thư độc nhất của nàng. Các thứ nầy, từ nay trở đi tôi quyết định sẽ luôn luôn có dưới mắt mỗi khi tôi ngồi học. Chúng sẽ nhắc nhở tôi, như Câu Tiễn ngày xưa, phải nằm gai nếm mật để luôn nhớ niềm đau cùng cực bị hạ nhục trước bạn bè thân thương.
Tôi phác họa một chương trình làm việc có thứ tự, lớp lang, có giờ giấc qui định rõ rệt cho mọi sinh hoạt: Ngoài giờ đi học ở trường, một giờ tập thể dục ở sân vận động, trừ giờ ăn uống nghỉ ngơi, không có mục đi la cà, đi xi-nê, đi văn nghệ; dành một tháng -một tháng thôi- tập dợt văn nghệ phát thưởng. Còn lại bao nhiêu thời gian đều dồn hết cho việc học.

Sáng hôm sau, Chúa nhật, tôi ra tiệm hớt tóc Xóm Lò Tương, sau nhà tôi, cạo trọc đầu. Cho chẳng thể mang cái đầu nhẵn thín này đi “họp mặt” với ai nữa cả. Chị Trinh thương tình may cho tôi một các “kết” để chụp lên đầu mỗi khi ra đường. Và khi vào lớp học, tôi xin phép thầy cô cho tôi khỏi giở nón vì tôi bị chứng lạnh óc!
Tôi đổi lộ trình đến trường, tránh chạm mặt nàng. Và cửa sổ phòng tôi được đóng kín, cho khỏi thấy nàng qua lại trên đường Võ Tánh. Lúc đầu tôi chỉ chống cửa sổ lên về đêm, nhưng sau đó tôi phải sập cửa xuống vĩnh viễn: Sau hai tháng đi chơi với Phương, nàng bỏ học luôn. Và một đêm, nghe tiếng máy xe nổ hòa trộn với tiếng cười lanh lảnh, tôi hé cửa nhìn xuống đường, thấy nàng mặc đồ dạ vũ ngồi trên xe Jeep với đôi ba chàng sĩ quan “hai ba bệt vàng khè” trên cầu vai, trong số có Hoàng nổi bật nhứt. Cảnh tượng đau lòng nầy diễn ra liên tiếp nhiều đêm, khiến tôi phải dùng bông gòn nhét lỗ tai để có thể ngồi học được.

Ròng rã bốn tháng liền bầu bạn với đèn dầu và sách vở, tôi chỉ nhận tiếp Oanh trên gác nhỏ. Tội nghiệp em nàng, mỗi lần đến thăm đều mừng mừng tủi tủi, xót thương tôi đèn sầu lẻ bóng, không còn nụ cười hồn nhiên như xưa nữa. Oanh cho biết chị mình đã đi hoang và ba má nàng rất khổ tâm. Cả gia đình nàng đều thương mến và quí chuộng tôi. Oanh chuyển lời ba má nàng mời tôi thỉnh thoảng ghé lại ngôi biệt thự ven sông, gần cầu Cái Cá, đường Trần Công Lại, nơi trước đây tôi thường đến dạy nhạc và kèm bài vở cho Oanh. Tôi cảm ơn Oanh, nói: với cái “đầu trọc lóc bình vôi” thế nầy tôi còn vác mặt đi đâu được nữa. Chưa tròn tuổi mười hai mà trông Oanh đã có triển vọng trở thành một trang mỹ nữ tuyệt trần. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da. Tự nhiên tôi có cảm tưởng Oanh là Thúy Vân…

Mùa văn nghệ phát thưởng lại đến. Vì Thứ-Lê Lợi đã chuyển sang trường Nguyễn Đỉnh Chiểu Mỹ Tho nên Ba Tàu Tông được đôn quân lên thế. Tôi thủ vai Lê Lai liều mình cứu chúa. Lẽ ra Lê Lợi phải gây được xúc động (Tông chỉ thích hợp với vai tướng Tàu), nhưng trái lại chính Lê Lai đã khiến cho khán giả bùi ngùi chua xót. Riêng nữ khán giả học trò, trong số có Oanh, đoàn tiên nữ “tùy tùng” trước đây của Lệ và vài khuôn mặt kiều diễm mới bên trung học (Hảo-Huyền Trân Công Chúa, -Chế Võ, Yến-Trần Khắc Chung, Duyên-Chế Mân, Nga-cung phi…) thì lệ ứa đoanh tròng… Thầy tu xuống núi lần nầy toàn đóng những vai có chít khăn bịt tóc (Ngoài Oanh ra, không ai biết tôi trọc đầu!).
Khi tôi trút hết tâm hồn cất tiếng: “Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu? Nhìn sông sâu, giòng nước cuốn cho vơi cơn sầu…” trong nhạc cảnh Trầu Cau của Phan Huỳnh Điểu, tôi thoáng thấy Oanh gục khóc! Vết sướt trong tim do Lệ để lại trong tôi, thể hiện quá rõ! Nhưng nàng vẫn vô tâm biền biệt rong chơi chốn Sài Gòn hoa lệ…
Lần nầy, ngoài các phần thưởng về học lực, văn nghệ, tôi còn gặt hái thêm hai phần thưởng về hạnh kiểm và thể dục. Nhưng tôi hết còn thấy thích thú như năm vừa qua. Một người thiếu vắng cả trời quạnh hiu (Un seul être vous manque et tout est dépleuplé!)

Sau buổi trình diễn được coi là thành công lớn cho toàn tỉnh, thầy Tư Hón đề nghị tiếp tục chương trình lưu diễn gây Quỹ Văn Nghệ cho trường. Theo thứ tự sắp xếp sơ khởi, tôi sẽ thủ vai Trần Khắc Chung bên cạnh Hảo-Huyền Trân, trong kịch thơ Huyền Trân Công Chúa (Ôi châu Ô Lý bao nhiêu đất, Mà vỡ trong tôi một cõi lòng!) do Lê Thương soạn nhạc đệm. Thứ sẽ được yêu cầu tăng cường, cùng tôi trình diễn một nhạc cảnh do chính thầy Tư Hón biên soạn, với hai bản nhạc nồng cốt Khúc Hát Thương Binh của Hoàng Giác và Thu Chiến Trường của Phạm Duy. Yến sẽ cùng tôi xuất hiện trong nhạc cảnh Thiên Thai (Văn Cao) và Trăng Mờ Bên Suối (Lê Mộng Nguyên). Nhưng vì áp lực nặng nề của dư luận (thuở đó còn khắt khe), mục nam nữ đồng diễn bị bác bỏ.
Ba đêm văn nghệ liên tiếp khiến tôi mệt lử, ngất xỉu ở hậu trường, trên tay của Thứ và Yến. Trong cơn mê thiếp, tôi mơ tưởng Lệ đến bên tôi an ủi vỗ về…Lạ quá làm sao tôi cứ buồn, Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn, Làm sao tôi cứ tương tư mãi, Người đã cùng tôi phụ rất tròn!

Để tưởng thưởng, trường gởi tôi đi tham dự trại hè toàn quốc, dành cho học sinh xuất sắc do các trường trung học tuyển chọn, tổ chức tại Nha Trang. Vé máy bay khứ hồi và mọi phí tổn ăn uống do hãng Hàng Không Cosara của ông Phạm Hòe đài thọ. Sóng nước của “miền quê hương cát trắng” và sinh hoạt vui nhộn của trại hè làm tôi nguôi ngoai phần nào niềm nhung nhớ nàng dai dẳng. Nhưng khi trở về Vĩnh Long, tôi lại giam hãm mình trong bốn bức tường của gác nhỏ, vùi đầu vào kinh sử. Năm tới là năm cuối ở Collège de Vĩnh Long, tôi phải cố gắng tối đa, cố gắng nhiều hơn nữa, chứng tỏ cho nàng thấy “gối rơm” cũng có thể “chồm lên cao” được lắm!

Lễ phát thưởng năm cuối của tôi ở trường đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan niệm tổ chức văn nghệ học sinh. Lần đầu, ở một tỉnh lẻ dư luận chấp nhận cho nam và nữ sinh diễn xuất chung trong một kịch bản: Yến thủ vai Liễu Nhi, hầu thiếp của một tướng Tàu, bên cạnh tôi trong vai Ngô Quyền sa cơ thất thế bị quân Tàu bắt giữ, được nàng âm mưu giải thoát. Hai mầm non văn nghệ Nguyệt VânNguyệt Ánh xuất hiện trong vai tì nữ cho Liễu Nhi. Hai mầm non nầy rất có triển vọng thay chân các bậc đàn chị mình sắp ra đi…Hồng Cúc từ Sài Gòn chuyển về học đệ tam niên vừa đẹp rạng rỡ vừa có tiếng ca ngọt lịm, giọng oanh vàng tương lai cho trường. Yến và Cúc đều có cảm tình đặc biệt với tôi và tôi rất quí mến hai nàng nhưng…hình ảnh Lệ trừng mắt quát tháo tôi lại hiện về “răn đe” tôi chớ nên hăm hở như dạo nào…

Mùa thi năm đó tỉnh Vĩnh Long gởi 50 học sinh qua Mỹ Tho dự thi kỳ đầu. Số học sinh còn lại “rét” quá, chờ chuẩn bị kỹ hơn để dự thi kỳ hai. Mười sáu nam nữ học sinh của trường thi đậu, toàn những khuôn mặt quen thuộc trên sân khấu học đường, trên sân vận động tỉnh lỵ . Phụ huynh học sinh bắt đầu xét lại quan niệm cho rằng ca hát, tập thể dục gây trở ngại cho việc dồi mài kinh sử. Thầy Tư Hón vừa là ông bầu vừa là huấn luyện viên thể dục, càng lúc càng được Ban Giám Đốc, giáo chức, phụ huynh và chính quyền địa phương nể vì, trọng vọng. Riêng đám học sinh chúng tôi, ngay từ đầu đã nhận biết ngay giá trị ưu việt của thầy trong công cuộc đào luyện một lớp trẻ thực sự được giáo dục toàn diện…

Giọng truyền cảm của cô Sương đọc tưởng thưởng lục vang vang qua máy vi âm: “…Phần thưởng Danh Dự toàn trường, do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại và phu nhơn ban tặng cho trò…,học sinh lớp đệ tứ niên A, đứng đầu danh sách các tân khoa của trường trong kỳ thi lấy bằng Thành Chung, khóa thứ nhứt, năm…,hạng nhứt về…, hạng nhứt về…12 lần được xướng danh…” khiến tôi lặng người sung sướng đứng chờ trên sân khấu, với trang phục Ngô Quyền nhưng…Hỡi ôi! Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu, Mà người gieo thảm như hầu không hay!
Tiếp đến là phần thưởng Danh Dự văn nghệ toàn tỉnh, do anh Lợi, người anh thứ ba của tôi, Trưởng Ban nhạc Ly Tao -một ban nhạc thường xuyên yểm trợ cho các buổi văn nghệ học sinh- trao tặng cho tôi (phần thưởng là cây đàn banjo), theo lời yêu cầu đặc biệt của Ban Tổ Chức, làm tôi xúc động đứng chết trân vì bất ngờ, đến nỗi thầy Tư Hón và cô Sương phải “nhắc tuồng” đôi ba lần tôi mới nhớ cúi đầu chào quan khách và khán giả, để màn có thể hạ!..Bản đơn ca Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh đem tôi đến gần hơn nữa những trái tim non trẻ, nhạy cảm, thơ ngây, nhưng tôi giờ đã như chim bị tên thấy ná. Gối rơm…

Tôi chờ hơn ba tháng sau (cho tóc có thì giờ mọc đủ) mới nhận lời mời họp mặt bạn bè ở Vườn Địa Đàng. Cũng những khuôn mặt cũ. Chỉ thiếu Nàng và Phương. Hưởng đãi mấy ông tân “đíp-lôm”. Giữa tiệc, có người nhắc tên nàng. Hết sức thành khẩn, tôi nhờ mọi người chuyển lời tri ơn sâu đậm của tôi đến nàng. Chính nhờ nàng tôi mới có được ngày hôm nay, xuống núi trở lại và có thể ngước mắt nhìn đời. “Gối rơm” là liều thuốc tiên nàng đã ban phát cho tôi.
Oanh rơm rớm nước mắt nhìn tôi và kỷ niệm cuối tôi mang đi từ Vĩnh Long là nụ cười hiền hòa, rạt rào thương cảm cùng ánh mắt ngưỡng mộ chân tình của… Oanh-Thúy Vân!

Năm năm sau, tôi trở lại gác nhỏ thu dọn các thứ cần thiết, chuẩn bị lên Đà Lạt (Giữa niên học, ban Triết trường Đại học Sư phạm Sài Gòn được chuyển lên Đà Lạt). Nhiều bóng dáng yêu kiều khác đã bước vào đời tôi khi tôi rời Vĩnh Long sang Mỹ Tho, qua Cần Thơ, rồi lên Sài Gòn. Nhưng khi nhìn thấy “lưỡng long” chắp vá, di ảnh tơi tả và lá thư tan nát còn nằm yên trên bàn học, dưới một lớp bụi mờ nhẹ phủ tôi không thể quên…
Trời chạng vạng tối. Tôi chống cửa sổ lên cho thoáng khí, bước xuống thang lầu ra phía trước trại mộc ngồi hóng mát, mình trần, mặc quần đùi. Thình lình, trong bóng tối nhá nhem tôi thoáng thấy một tà áo dài đỏ tươi từ bên kia đường thướt tha bước về phía tôi…Tôi bủn rủn tay chân, tháo chạy vào trong nhà. Nhưng tà áo đỏ đã sấn tới nắm tay tôi, giữ lại:
-Anh Lộc! Lệ muốn nói chuyện với anh.
Nàng! Đúng là Nàng đang thỏ thẻ nói và ánh mắt sao như quá dịu dàng! Tôi muốn rút tay lại, nhưng chợt thấy ánh mắt nàng như van lơn tôi bối rối không biết nói gì, làm gì nữa! Tôi như loã thể trước công nương. Đứng đây nghe hay mời nàng vào nhà? Bảy năm rồi gác nhỏ thiếu vắng tiếng cười, sách vở thiếu bàn tay mơn trớn của nàng. Biết nàng có chịu vào nhà không? Trong nhà lại tối thui. Tình cờ hôm nay chỉ có mình tôi ở nhà. Như linh cảm sự ngại ngần của tôi, nàng kéo tay tôi bước hẳn vào bên trong và chúng tôi sờ soạng dắt nhau đi trong bóng tối, cố tránh đụng bàn ghế, giường tủ ngổn ngang trong xưởng mộc.
Tới cầu thang, tôi đỡ tay cho nàng bước lên, quờ quạng đưa nàng tới bàn học, xin lỗi để nàng ngồi một mình trong bóng đêm, chờ tôi xuống nhà dưới tìm ánh sáng. Tôi lần mò xuống bếp tìm hộp quẹt cây, quơ đại bộ đồ của Kiệt vứt trong đóng đồ chờ giặt mặc vội vào…
Khi trở lên, bật diêm đốt cây đèn dầu, tôi đứng chết lặng giây lâu trước một hình ảnh “siêu thoát”: Thiếu nữ mặt trắng, môi son, mày ngài, mắt phượng nổi bật trên màu áo đỏ, như bức vẽ truyền thần…Tự nhiên tôi cảm thấy quên hết hậm hực, nhục nhằn, ưu phiền. Quên hết. Tôi chờ thiếu nữ bước ra từ trong tranh như Liêu Trai! Mắt tôi đổ đom đóm, khi thấy nàng sống động, lúc thấy nàng như bức tranh lung linh theo làn gió từ cửa sổ hắt vào…
-Anh không nhìn ra Lệ sao? Bộ Lệ thay đổi nhiểu lắm hả anh?
-Lệ chỉ thay đổi nhiều về dáng dấp, nhưng nét sắc sảo vẫn như xưa, có phần đậm đà hơn. Bảy năm rồi không gặp Lệ, tôi thấy Lệ không thêm được tuổi nào…
Nàng hỏi tôi về những kỷ vật tan tác, nằm trơ trên bàn học. Tôi trả lời tôi không đành đoạn vứt bỏ chúng. Tôi xin nàng cho tôi giữ lại tấm ảnh với lá thư và xin nàng nhận món quà chưa kịp trao năm xưa. Nàng cúi mặt thở dài, cho biết có nghe Oanh kể lại. Nàng rất xót xa, hối tiếc.
-Hôm nay Lệ đến đây để xin tạ tội cùng anh…
-Tôi nghĩ Lệ nên quên đi chuyện cũ. Thuở ấy chúng ta còn quá non dại. Vả lại, thú thật với Lệ tôi nhận thấy tôi phải cảm ơn Lệ mới đúng. Không có Lệ, tôi không có được ngày hôm nay.
-Anh còn hận Lệ lắm phải không? Sao anh ăn nói mắc mỏ với Lệ dữ vậy? Lệ hiện giờ chẳng còn đứa bạn nào nữa ở Vĩnh Long, sau lần hạ nhục anh.
-Lệ không tin tôi nói thật sao? Tôi không phủ nhận đã hết sức đau đớn đên nỗi muốn tự tử. Và đã có lúc muốn đón đường giết Lệ nữa đó! Nhưng sau một thời gian, tôi nghĩ là Lệ quả có công đầu trong việc thành nhân của tôi. Quan trọng hơn hết là tôi vẫn còn yêu Lệ. Nếu Lệ thuận tình, tôi sẽ thưa lại với ba má tôi xin cầu hôn…
-Thôi anh. Bây giờ đã quá trễ.
-Lệ đã có người yêu? Lệ sắp lấy chồng?
-Không. Không đâu. Có thể anh khó tin, nhưng từ lúc quen anh tới nay, đã có rất nhiều người con trai đi với Lệ một quãng đường chung. Nhưng Lệ chưa hề yêu ai hết. Cũng rất nhiều người ngỏ ý cưới Lệ nhưng Lệ vẫn một mực khước từ.
-Vậy thì có gì trở ngại nếu tôi tiến thêm bước nữa?
-Anh không chịu nhận giờ đây Lệ đã khác, anh đã khác xưa nhiều lắm rồi sao? Lệ chỉ mong được anh tha thứ và coi Lệ như em gái hoặc như một người bạn.
-Lệ nghĩ tôi hẹp hòi, cố chấp chăng? Lệ không ghi nhận hiện giờ trong tôi chỉ có tình yêu Lệ thôi sao?
-Lộc cao cả quá!
Những giọt nước mắt ứa trào theo câu nói xuất phát từ nơi thâm sâu nhất của con tim Lệ thực sự hồi sinh rung cảm xót thương đã mê thiếp từ lâu trong tôi. Nhẹ nâng cây ghi-ta rũ bụi mờ, tôi dạo một đoạn nhạc đưa đường, dẫn lối, khẽ hát: Ngày nào một giấc mơ /đâu những đêm trăng mờ ai ngóng chờ /khi ánh trăng thành thơ nhẹ gió đưa /theo tiếng đàn thuyền mơ tìm bến xưa…
Rồi hết sức cẩn trọng, tôi nhẹ nâng cằm nàng lau nước mắt, vỗ về:
-Đừng khóc nữa Lệ. Tôi lúc nào cũng yêu Lệ, dù chúng ta có hay không có duyên chung sống. Tôi có món quà nầy cho Lệ. Và lần nầy xin Lệ dứt khoát tin tưởng có góp phần lớn lao tạo dựng nó…
Tôi trải tờ điện tín -do Kiệt đánh đi từ Sài Gòn, trước đây mấy tháng, xuống nhiệm sở của tôi, trường Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc- trước mắt Lệ: “Lộc đậu hạng nhứt vào Đại học Sư phạm…”
Lệ xúc động, trang trọng nâng tờ điện tín lên môi đặt một chiếc hôn nồng nàn...
-12 giờ trưa mai, Lệ mời anh tới nhà. Lệ có chuyện rất quan trọng muốn nói. Và sự có mặt của anh tối cần. Lệ chờ. Đừng quên nghe anh!

Lúc tôi đến, mâm cỗ đã dọn sẵn, nhưng chỉ có Lệ đón tôi ở phòng khách. Cả nhà đang lu bu sau bếp, kể cả ba má Lệ và Oanh. Ai nấy đều có vẻ nôn nóng, sốt ruột, trừ Lệ. Tôi hơi lạ. Đúng hơn, từ lâu tôi không quen nhìn Lệ không trang điểm rất kỹ, tóc tai không chải gỡ đúng thời trang. Tôi cảm thấy hình như Lệ vừa qua một cuộc tranh cãi gay gắt với người thân thuộc. Lệ mỉm cười nhưng không che giấu được sự mệt mỏi hiện rõ trên đôi môi nhợt nhạt, trên đôi mắt thất thần.
Lệ cùng tôi ôn lại kỷ niệm lúc hai đứa mới quen nhau, những lần cùng bầy tiên nữ tí hon đạp xe khắp các cầu bao bọc tỉnh lỵ Vĩnh Long, thành-phố-cù-lao. Lệ tỏ ý muốn tiễn tôi đi Đà Lạt để chứng minh Lệ thực sự tin tôi đã quên chuyện cũ nhục nhằn năm xưa. Tôi định hỏi Lệ vì sao hôm nay trong nhà có vẻ lăng xăng vậy thì… đột nhiên có tiếng kèn xe hơi nổi lên inh ỏi từ phía bên kia cầu Cái Cá.
-Nhà Lệ hôm nay có khách, phải không? Tôi xin rút lui nghe.
Tôi dợm đứng lên thì từ bên ghế đối diện Lệ hốt hoảng chạy sang quì bên ghế tôi, giữ tay tôi lại, nói qua hơi thở dồn dập :
-Không! Không! Anh phải ở lại! Anh bỏ đi là chết Lệ! Hôm nay gia đình Hoàng đến xin hỏi cưới Lệ.
Tôi không thể không động tâm, thương xót, nhưng cố gắng bình tĩnh đáp:
-Thêm một lý do vững chắc nữa để tôi biến nhanh đi, càng sớm càng tốt!
Lệ lính quýnh dùng hai bàn tay ấn chặt cánh tay tôi xuống thành ghế, nghẹn ngào lặp lại:
-Không! Không! Anh phải ở lại! Anh bỏ đi là chết Lệ!..
-Tại sao? Tôi gay gắt hỏi.
-Ba má hết lời thuyết phục Lệ sốt đêm qua và nguyên buổi sáng nay. Nhưng Lệ cương quyết cự tuyệt. Lệ không muốn…
Cố gắng đè nén cơn xúc động sắp bùng nổ, nhằm tạo cho mình một bộ mặt đanh đá, tôi trừng nhìn Lệ, cố hết sức bình sinh giữ giọng điệu lạnh lùng, ngắt lời nàng:
-Lệ nghe tôi nói đây. Năm xưa, đã một lần Lệ bốc đồng xô ngã tôi không thương tiếc. Mãi đến đêm qua tôi mới ra khỏi cơn nhức nhối trầm kha. Bây giờ Lệ lại định bốc đồng làm theo sở thích mình một lần nữa chăng? Lệ hãy một lần -một lần thôi- nghĩ tới kẻ khác! Hãy một lần -một lần thôi- nghĩ tới chuyện xoa dịu nỗi thống khổ của ba má bấy lâu nay…Nếu Lệ còn quí trọng tôi, Lệ nên nghe lời cha mẹ lần nầy. Và nên giữ lại con ngựa cuối đã kiên nhẫn vượt qua đoạn đường cam go để lết tới dưới chân Lệ. Vĩnh biệt Lệ!
Chậm rãi gỡ hai bàn tay nàng đang bám víu cánh tay tôi, tôi đứng lên bước nhanh về phía cửa sau nhà. Nàng lướt theo nắm tay tôi lại, nhưng tôi vượt thoát khỏi đôi tay cuống quít của nàng, chạy ra chiếc Vespa, nổ máy phóng đi như gió. Cùng lúc, chiếc xe cầu hôn cũng vừa xịch đỗ trước nhà nàng…

Thôn trang Đổ-lá-đầy-ấp-mơ, mùa lá rụng
-Lê Tấn Lộc-