Thursday, August 28, 2008

Ối Cha hỡi! Ối Thầy ơi!


Phiếm
“loạn”

Ối Cha hỡi!
Ối Thầy ơi!
Ồn ào ít khi làm nên việc tốt,
việc thiện ít khi gây tiếng động”
(Saint-François de Sales)

Mùa hè 2008 thay vì mang nắng ấm cho cây cỏ xanh tươi, trăm hoa đua nở điểm tô sắc thắm cho cuộc đời những người Việt xa xứ và đồng bào nơi quê nhà càng ngày càng xám xịt, lại lôi tới hàng loạt “biến cố” gây xáo trộn dây chuyền cho kiếp sống không lấy gì “hồ hởi” lắm của người dân da vàng mũi tẹt chúng ta! Một mùa hè dồi dào “sự cố”, tuy ruồi bu nhưng cũng không phải là không gây ít nhiều nhức nhối -đúng hơn là phẫn nộ- cho tập thể người Việt hải ngoại và cho ngay cả tập thể người Việt nội địa đang nặng lòng với tự do, nhân quyền… Một mùa hè y như Mùa Hè Đỏ Lửa 1972!
Trước 72, có Mậu Thân 68. Một số “nằm vùng” lòi mặt chuột. Năm 72, Phượng Hoàng lùng diệt hầu hết đám “cơ sở” và vô hiệu phần lớn đám “đâm sau lưng chiến sĩ”. Nhưng vẫn chưa hết. Nên sau 75 mới có nhóm “đặc-công-chỉ-điểm” tác oai tác oái… Và bây giờ, hè 2008 tập đoàn sống sót -lọt lưới Phượng Hoàng- lại tái xuất hiện giở đủ trò chiêu dụ, mua chuộc, lợi dụng uy thế lãnh đạo tinh thần để khuynh đảo con chiên, thiện nam tín nữ nhằm mục tiêu tối hậu: triệt tiêu các Cộng Đoàn Người Việt Tị Nạn Cộng Sản khắp năm châu!
Người viết là một độc giả của nhiều báo in và báo điện tử. Đọc nhiều để cố gắng thu thập tối đa dữ kiện. Dù ý thức khả năng nhận định của mình còn rất hạn chế, người viết nhất định không tán đồng quan điểm nhân danh nầy nọ để áp lực bịt miệng những ai muốn tố giác các điều xằng bậy hay để ém nhẹm sự thật về các hành vi bất xứng của những “đức” được coi như những “đấng” chăn đắt dân Chúa, Phật tử, mưu toan ngăn chận giới truyền thông làm tròn trách nhiệm của mình: phơi bày trước công luận những tệ đoan không thể nào dung dưỡng trong hàng giáo phẩm hay tăng sĩ, đáng lý chỉ bao gồm những bậc chân tu đích thực thánh thiện.
Người viết cũng ý thức rằng đề cập tới vấn đề dễ gây kích xúc (sensible) nầy phải nên cẩn trọng vì những gì liên quan ít nhiều tới tôn giáo đều rất phức tạp, tế nhị -nếu không muốn nói là rất…nguy hiểm. Những cuộc chiến dai dẳng nhất từ xưa tới nay vẫn là… chiến tranh tôn giáo. Cuộc chiến 100 năm (guerre de cent ans) đã xảy ra và lịch sử vẫn còn đó! Thế nhưng chẳng lẽ vì thế mà đành lòng câm miệng đồng loã cho vô hạnh và bất công vĩnh viễn ngự trị trên đầu trên cổ những người có đức tin mạnh mẽ, hằng mơ ước có cuộc sống thanh bình, tự do, an lạc, đạo hạnh.
Xin giới hạn bài viết nầy về các phản ứng liên quan tới hai “hiện tượng”: Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn và Hòa Thượng Thích Phước Huệ.

1. Ối Cha hỡi!
Về Hồng Y, đã có quá nhiều tranh cãi. Tưởng đã chẳng cần dài dòng thêm nữa, vì nghĩ rằng rừng cờ vàng ba sọc đỏ tràn ngập Đại Hội Trẻ Thế Giới tháng 7/2008 vừa qua, tại Úc đã đủ để dập tắt mọi luận chứng gượng gạo chống đỡ cho vị có chức quyền cao trọng trong hàng giáo phẩm tại Việt Nam nầy… Nhưng không. Vẫn còn vài tiếng nói lẻ tẻ, cố gắng hết sức tội nghiệp bào chữa cho “đức” cao trọng nầy:
Gần đây, anh Nguyễn H. -một cựu quân nhân QLVNCH, số quân 68.138867 - “góp ý với Nguyễn Khắp Nơi” lời lẽ rất ôn tồn, rất cảm động: anh cho biết “đã để lại Hạ Lào (Lam Sơn 719) 1 con mắt, 3 ngón tay và 1 bàn chân. Bị bắt làm tù binh vì bảo vệ cờ vàng. Sau ngày đứt phim (…) lê lết làm đủ mọi việc, kể cả ăn xin…”. Anh Nguyễn H. vừa trở về VN sau khi được “một người bạn năm xưa giúp đỡ” -qua mục Tình Thương của Việt Luận- sang Úc “cắt” chân “đến đầu gối”…
Khó cầm được nước mắt! Một Thương Phế Binh bị Bắc Bộ Phủ ruồng bỏ và được đồng đội đưa tay níu nắm trong chuỗi ngày cô đơn tàn phế.Thế nhưng, càng chua xót và thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của anh H. bao nhiêu tôi càng căm phẩn về lời nhắn nhủ dẹp bỏ lá cờ vàng của ngài Hồng Y “có một không hai” của VN trong lần Đại Hội Trẻ Thế Giới vừa qua bấy nhiêu.
Anh thương binh thương quí của tôi ơi! Chẳng lẽ lòng tôn trọng hàng giáo phẩm của anh sâu đậm và cao siêu đến độ anh không cảm thấy bị hạ nhục trước những lời lẽ thoá mạ lá cờ vàng mà hàng triệu bạn bè anh, đồng bào anh và anh đã đổ biết bao xương máu để bảo vệ, gìn giữ, tôn kính nó? Làm sao có thể đồng ý với anh khi anh hỏi anh Nguyễn Khắp Nơi -cũng từng là một chiến hữu đã góp xương máu với anh chống trả quân Bắc xâm ra sức công phá tiền đồn tự do VNCH- rằng “sẽ trả lời ra sao (…) nếu có lời xác minh đó không phải là ý của Hồng Y Phạm Minh Mẫn”? (Việt Luận số 2287, ngày 08.8.2008, trang 32, mục Ý Kiến Độc Giả)
Tôi nghĩ có thể trả lời anh thay cho NKN:
a) Nếu đó không phải là ý của HY thì tại sao Ngài không đưa ra lời đính chính ngay từ đầu, khi khắp nơi phản ứng dữ dội. Giả dụ, anh, NKN hay tôi, hay bất cứ “phó thường dân Nam bộ” nào thảo văn thư mạo danh HY/PMM tung lên Web. thì Ngài lên tiếng phản đối hay im lặng? Nếu quả thực không phải HY viết ra lời khuyến cáo “khuôn vàng thước ngọc” đó thì ai mới đích thực là tác giả bản văn “trứ danh” nầy? Chính quyền đương thời hay Cha nhà nước thừa ủy nhiệm Đảng? Nếu không phải sợ há miệng mắc quai thì không cách chi Ngài giải toả được sự im lặng đồng loã của Ngài trong mưu toan triệt hạ lá cờ vàng tiêu biểu cho lý tưởng tự do của những người tị nạn cộng sản ngay trên phần đất định cư của họ.
Anh H. quí mến ơi! Không thể vịn vào cớ mình là người Công giáo để kiên trì trong luận điệu bằng mọi giá phải bảo vệ các đấng có sứ mệnh thiêng liêng chăn chiên, bất chấp các đấng nầy đúng hay sai, công chính hay bất công, hợp lý hay phi lý. Cần nhắc nhau bác ái phải xây dựng trên nền tảng công bằng và ngược lại chăng? Bởi Công Bằng mà không Bác Ái là… sắt máu! Và Bác Ái mà không Công Bằng là… mù quáng!
b) Nếu giờ đây HY đưa ra lời xác minh bản văn gây sóng gió đó là của kẻ gian có ác tâm mạo danh Ngài tung ra -nhằm gây mâu thuẩn giữa những người Công giáo VN và những người VN theo tôn giáo khác- thì Ngài sẽ phải giải thích rõ rệt vì sao có “sự cố” đút vô rồi lại rút ra các lời khuyến nhũ dẹp lá cờ vàng trên trang Web.
Tôi thì tôi tin chắc việc nầy không thể xảy ra, trừ trường hợp HY can cường chấp nhận tử vì đạo. Đó là chưa kể Ngài làm sao giải thích với giáo dân và đồng bào tại sao Ngài không đến dự ĐHTTG, nếu thực sự Ngài tình ngay lý gian?
Lúc bấy giờ, không riêng gì NKN, các độc giả của Việt Luận mà tất cả những ai đã từng lên tiếng phản đối HY sẽ lại lên tiếng lần nữa tùy theo nội dung “bạch thư” của HY -một hình thức biện giải sau sự việc (justification après coup!).

2. Ối Thầy ơi!
Năm nay Xứ Đại Thử gần như liên tục bị địa chấn! Các quan chức bên Việt Nam tưởng ngon xơi với ĐHTTG, nghĩ bụng Xứ Đại Thử thì tội gì không thử đại chiêu thức dẹp cờ vàng coi chơi. Toan đưa Tsunami cờ đỏ cuống quét rừng cờ vàng ra biển lần nữa, như ngày 30 tháng 4 năm 1975. Không ngờ lá thư thăm dò của HY gây trận địa chấn dưới đáy biển, ngoài khơi Thái Bình Dương, chuyển Tsunami về hướng thềm lục địa chữ S, đổ ập các containers cờ đỏ tràn ngập cả vùng ven biển quê hương.
Trận địa chấn ngoài khơi chưa hoàn toàn lắng động thì một trận động đất trong nội địa Đại Thử cũng kinh thiên động địa không kém. Cũng gây chấn động mãnh liệt, không những trong các Công Đồng Người Việt tại Úc mà còn trong các tập thể Người Việt Hải Ngoại khắp Năm Châu, kể cả trong nội điạ quê nhà.
Vụ xì-căng-đan nầy liên quan tới một tu sĩ có tầm cỡ quốc tế hơn cả HY/PMM: Hòa Thượng Thích Phước Huệ, một khuôn mặt hàng đầu trong giới tăng lữ, đã tạo được nhiều thành tích đáng ca ngợi trong việc phát triển cơ sở hành đạo trên quê hương của Đại Thử.
Công trạng của Hòa Thượng, hầu như không ai trong giới mộ đạo ở Úc không rõ biết. Vả lại rất nhiều báo chí tại Úc cũng như các nơi khác trên thế giới đều ca ngợi. Ngay cả trong loạt bài trình bày vụ xì-căng-đan dính líu tới Hoà Thượng, báo Việt Luận cũng không quên nhắc tới những công đức của Người (VL#2291, ngày 22.8.2008, tr.48).
Khác với vụ Cờ Vàng-Cờ Đỏ, hầu như hoàn toàn có tính cách chính trị, vụ HT/TPH thoạt nhìn chỉ có tính cách cá nhân -dan díu tình cảm giữa một tu sĩ và một tín nữ- nhưng khi tìm hiểu sâu rộng hơn, đàng sau những tiết lộ “động trời” về chuyện ân ái giữa một sư ông và một nữ tín đồ đã có gia đình, một số bài viết trên báo in cũng như báo điện tử phanh phui một số dữ kiện về sự liên hệ giữ HT/TPH và các tổ chức cộng sản hoặc thân cộng. Chẳng hạn như:

a) Trích đoạn sau đây trong bài viết của Đào Nương: ’Thật là buồn khi biết ra rằng sư “nhí” Thích Nhật Từ lại là sư trụ trì một ngôi chùa lớn ở Sài Gòn và được Việt Cộng cử vào chức Tổng Thư Ký của Vesak vừa là giáo sư của trường đào tạo các ni sư ở Sài Gòn (…) Sau đó chúng tôi nhận thấy những website điện tử có tên “đại lão hoà thượng” (Hòa Thượng Thích Phước Huệ) đã bị xóa bỏ. Riêng website phổ biến những bài giảng của ‘đại lão hoà thượng” thì không hiểu sao lại thành ra web của sư ‘nhí’ Thích Nhật Từ’ (Sài Gòn Nhỏ-Montréal, số 55, ngày 22.8.2008, mục Phiếm Dị, trang75 và76)

b) Trích đoạn nầy, trong bài viết của Trương Minh Hoà:
Sau khi vạch trần bộ mặt cán bộ cộng sản của Hoà thượng Thích Thanh Từ (hay Tứ), tác giả tiết lộ nhiều bí mật về hoạt động của HT/Thích Phước Huệ trong khối Ấn Quang thiên cộng. Ông viết:
‘Riêng ở Úc Châu, có Hoà thượng Thích Phước Huệ, được coi là tu sĩ Phật Giáo được nhiều người biết đến, nổi tiếng qua thành tích ‘tu đạo’ rất ư là “chất lượng cao” và từ thiện, được đài phát thanh đánh bóng như là một vị sư có tấm lòng đại bác (đại là lớn, bác là bác ái, chớ không phải là súng Cà Nông). Trước năm 1975, lúc còn là đại đức, pháp danh của tu sĩ là Thích Tắc Phước, tục danh Trần Văn Canh, tự Bảy Canh, thuộc Phật giáo Ấn Quang do Thượng toạ Thích Trí Quang lãnh đạo (ai cũng biết Phạm Văn Bồng tự Kiều Tấn Cương là ai).
Đại đức Thích Tắc Phước là cánh tay đắc lực, giữ chức vụ ‘Trưởng Ban Thông Tin’ khối Ấn Quang, là chức vụ coi như công cụ tuyên truyền (…) Thời gian đó, chủ trương nhà in ấn mang tên “Những cánh sen vàng” là người hoạt động trong nước, còn ở hải ngoại có đại đức Thích Nhất Hạnh là người vận động giới Tây Phương ủng hộ Hồ Chí Minh. Theo quyển Bạch Thư của Hoà thượng Thích Tâm Châu, phát hành tại chùa Phật Quang (Úc Châu) 1994, nói về đại họa Phật Giáo ở Úc Châu, thì vào năm 1965 đại đức Thích Tắc Phước có từng phạm giới, dù không nói rõ phạm giới gì, nhưng giới tăng sĩ thường phạm giới ‘hữu cơ’ với người khác phái, chớ không có giới nào đáng nêu lên.
(…) Hoà thượng Huyền Tôn cho biết là Tắc Phước có quan hệ hữu cơ với ‘Năm Thợ May’ trước đây và kêu gọi Phước Huệ nên sám hối…
(…) Huề thượng Thích Phước Huệ (tức ông Bảy Canh) đặt tên cơ sở in ấn là NHỮNG CÁNH SEN HỒNG cho hợp với ‘tình huống’ tu đạo, tu học ‘hiện đại’… ’ [Trương Minh Hoà,
http://tinparis.net/vn_index.html ,ngày 25.8.2008]

3. Những tiếng nói ‘Nhân danh…’
Những tình tiết còn lại về cuộc sống tình cảm cũng như về quá khứ của ‘đại lão hoà thượng’ không cần phải nêu ra trong bài viết nầy, vì đã có nhiều bài viết khác tường thuật. Tuy nhiên, như phần mở đầu bài viết đã báo động có hiểm họa một số ‘thế lực’ bí ẩn hợp lực mưu toan ém nhẹm vụ xì-căng-đan dưới chiêu bài ‘hấp dẫn’ -nếu không muốn nói là để ‘câu’ khách-bảo toàn ‘thành trì chống cộng vững mạnh’ tại Úc Châu, tôi muốn góp ý về
một bài viết dưới dạng thức Thư gửi độc giả, nhưng phảng phất ít nhiều mùi vị một Thông cáo hay Thông bạch, ký tên:
- Nhất Giang, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nhật báo Chiêu Dương
- Nguyễn Vy Túy, Chủ nhiệm Văn Nghệ Tuần Báo
- Hồ Ông, Chủ Bút Văn Nghệ Tuần Báo
(Chiêu Dương, thứ ba 26.8.2008, trang 3)
Ba vị đứng đầu một nhật báo và một tuần báo đồng ký tên chắc hẳn là ‘ấn tượng’ và ‘hoành tráng’. Tôi cảm thấy hơi ‘nhợn’ đấy!
Nhìn chung, bài viết rất lịch lãm, văn chương bóng bẩy, gọt giũa kỹ càng, vài chỗ và vài chữ quá ‘tinh vi’, dễ đánh động những tâm hồn nhạy cảm thường chủ trương dĩ hòa vi quí, luôn sùng kính những bậc tu hành để tránh mắc tội!
Có điều tôi hơi lấy làm lạ, không hiểu vô tình hay có dụng ý, bài viết tường thuật gần như vanh vách diễn tiến ‘Vụ Hoà Thượng Thích Phước Huệ và người đàn bà tên Diệp Hoàng Nga (tức Diệu Đức)’, chỉ thiếu hình ảnh và bút tích các thư từ trao đổi giữa đôi bên. Để rồi ba vị bèn ‘thành tâm tạ lỗi không thể cam lòng ném đá vào người bị hịch tội’ (sic!): Việc gì ta phải nhọc công ném đá, để việc đó cho đám bần dân nó làm; ta chỉ cần giấu tay là lương tâm yên ổn ngay, tránh gây thù gây oán, lại được tiếng thơm ta cao cả, không đánh hôi, luôn một lòng tôn kính các Thầy, dễ bề “lấy điểm” với các “đấng” và đạo hữu cho các dự tính hậu sự của ta!
Tình thật, tôi xin ngã nón chào thua HT/TPH: thú thật về điểm “tình thư” tôi phải kiến HT làm sư phụ. Kiểm điểm lại mình, suốt đời chẳng hề có căn tu, cũng từng thả lá đề thơ lả lướt múc mùa Lệ Thủy nhưng chưa bao giờ tôi bạo gan viết thư riêng trên giấy có tiêu đề (papier avec entête) của cơ quan mình phục vụ, gọi tình nhân là… Cục Cưng của Anh!
Và tôi thấy tội nghiệp 3 vị ưu tư dễ thương hết sức tìm cách ‘… êm thắm hoá giải để những phần tử vô thần thâm độc (?) không thể thừa cơ khuấy rối thổi phồng, đồng thời tránh cho các phần tử kỳ thị cùng các phương tiện truyền thông mang dã tâm trục lợi nhào vô bêu diếu” (!?!?).
Đọc xong đoạn văn thần sầu quỉ khốc nầy tôi lạnh người: 3 cái mũ tiền chế kèm theo 3 cái khăn bịt mắt và 3 cuộn băng keo bịt miệng!!! Hoá giải (neutraliser) tuyệt chiêu hơn cả Staline!
*Vô thần thâm độc? Ai đây? Nếu ám chỉ CSBV thì… quí vị khỏi lo: ‘người nhà’ với nhau cả mà! ‘Đại lão hòa thượng’ đương sự với họ vốn là chỗ thâm giao. Một trong 3 vị vẫn ‘xoành xoạch’ về giao du với họ như ăn cơm bữa, đúng không? Riêng bọn vô thần không CS thì họ không thâm độc và chẳng mắc mớ gì nhào vô ăn có. Họ đâu có ‘huỡn’ dữ vậy!
*Kỳ thị? Ai thế? ‘Bọn’ Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo ‘phản động’ chăng? Lo sợ thực sự hay muốn chụp mũ loạn? Không tôn giáo nào không là đối tượng cần phải ‘dập’ đối với CS, ngoại trừ ‘Quốc Doanh Giáo’. Các tôn giáo bạn, tôn giáo nào cũng có vấn đề nội bộ phải giải quyết. Đèn nhà ai nấy rạng. Hơi sức đâu mà xen vào chuyện hàng xóm!
*Phương tiện truyền thông nào đây? Trong nước hay hải ngoại? Trục lợi gì? Hai tờ báo mà tôi được biết có đăng bài về vụ xì-căng-đan nầy, một ở Úc, một ở Mỹ, cả hai Chủ nhiệm kiêm Chủ bút đều là Phật tử. Hai tờ báo nầy chỉ làm công việc tường thuật sự việc. Một thân hữu góp ý như sau:
Bài báo của Việt Luận bên Úc vừa rồi rất khách quan, đứng đắn, và cẩn thận, qua nội dung lẫn cách hành văn. Phần mở đầu, “LỜI TÒA SOẠN”, diễn đạt hết sức vô tư, gom trọn ý, để tiếp theo đó đúng nghĩa là một bài tường thuật (không có ý kiến xen vào).
Đăng những tin tức là Job của nhà báo. Xứ Úc là xứ tự do và nhà báo có cái quyền tự do báo chí của họ, hơn nữa bài đó VL viết theo yêu cầu của một độc giả câu chuyện về chính độc giả đó, chớ đâu phải đó là huyền thoại.
Những hù doạ nếu có, chẳng qua vì quyền lợi riêng tư, bè nhóm. Xứ tự do sao lại xảy ra tình trạng bóp nghẹt tiếng nói của báo chí, buồn vậy? Cũng đâu phải chỉ 1 tờ VL đăng thôi, hù dọa VL thì cũng đâu ngăn được SGN tiếp tục, nếu SGN tiếp tục.
Trong tôn giáo, thì v/đ negative cũng nhiều lắm. Đưa ra trên báo biết đâu sẽ có tác dụng giảm bớt được những negative nầy về sau.’ (
TKN-USA, 27.8.2008).
Ba vị thành tâm thiện ý của tôi thấy ưu tư như thế chưa đủ. Bèn, tuyên ngôn:
Quốc có quốc pháp, gia có gia huy, cũng như đạo giáo có giới luật định đoạt nhân quả thiên lương. Giáo Hội nhất định sẽ có phương cách giải quyết ổn việc đạo để không thể vì cá nhân nào làm ảnh hưởng tới uy tín và danh dự sáng ngời của tập thể Phật Giáo, cũng như ổn việc đời để niềm tin của những người Phật tử vào các chùa chiền, các vị tăng sĩ không bị sứt mẻ”.
Nói cho dễ hiểu: cấm đụng tới quí “Thầy” chúng tôi -bên Công Giáo: cấm chạm tới các “Cha” chúng tôi- Để Giáo Hội chúng tôi lo! May mà chưa lập toà án tôn giáo kiểu các đệ tử của các Da-da-tô-la, ai mà đụng chạm hay giễu cợt Prophète là a lê chặt đầu!
Có lẽ 3 vị quá lo con bò trắng răng. Mọi sự rồi cũng chìm trong quên lãng thôi. Không tin, hãy nghe Đào Nương kể: ‘Năm 2003, tape ghi âm lời đối thoại của thượng tọa Thích Pháp Châu, trụ trì chùa Việt Nam ở Orange County cùng với “nữ thí chủ” của thầy được bán ngoài đường Bolsa với giá 1$. Nội dung của tape giọng thầy xưng danh rất rõ, thầy hết đường chối cãi nên thầy gọi đó là… mùa pháp nạn của thầy (…)
Khi chuyện tình ái của thầy vỡ lỡ, Ban Trị Sự đã họp lại yêu cầu thầy “ngưng” làm trị sự để giữ uy tín cho chùa thì thầy Pháp Châu trả lời rằng chùa của thầy, ai muốn tới thì tới, không thì thôi, việc chi mà thầy từ chức. Từ đó đến nay, coi bộ ‘business’ của thầy vẫn sinh hoạt bình thường (…) Thiện nam, tín nữ thời này coi bộ chấp nhận tình trạng: Xưa nay Kiều vẫn là Kiều, Ai tu nấy hưởng là điều tất nhiên…
’ (SGN, đã trích dẫn, tr.3).

Ba vị đã yên lòng chưa? Đã nhưng chưa đủ, phải không? Bởi vì chưa nói ra chiêu bài ruột ‘Nhân danh…’, rất ư ‘ăn khách’ (hay để ‘câu khách’?) hầu dễ ‘xù bài’ mà vẫn được tiếng cổ võ ‘đoàn kết’ (hay ‘câu kết’?). Nghe đây, lời hiệu triệu của tam vị đại nhân: “So với lối sinh hoạt tự phát của các cộng đồng hải ngoại thuộc nhiều quốc gia khác, Cộng đồng Người Việt Úc Châu từ trước tới nay luôn nổi bật là thành trì chống cộng vững mạnh, kiên cường trải qua muôn vàn khó nhọc mới ổn định trên thuận dưới hoà -phần lớn nhờ vào tinh thần đoàn kết keo sơn, luôn đặt an nguy tồn vong của tập thể lên hàng đầu, không thể thiếu cân nhắc nhất thời mà gây ra xáo trộn”.
‘Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau’! Rổn rảng! Lâm ly! Rùng rợn!
Thành trì chống cộng, vững mạnh, kiên trì… Đúng 100%, ngoại trừ thiếu mặt ta vì ta mãi lo ‘xoành xoạch’ về VN giao lưu với Cộng sản!
Muốn hỏi nhỏ vị xoành xoạch nầy thỉnh thoảng có soi gương xem mình đang đội cái mũ gì trước khi lăm le chụp mũ vô thần, kỳ thị, truyền thông trục lợi “bêu diếu” các Thầy, các Cha chẳng còn tư cách lãnh đạo tinh thần, hướng dẫn linh hồn tín đồ, con chiên… chăng?

4. Góp ý
Lời cuối muốn thưa với ba vị đại nhân: Các ngài trong hàng Giáo phẩm, Tăng Sĩ, Tăng Lữ, v.v…dĩ nhiên là những bậc xứng đáng được tôn Kính. Nhưng ngoài nhiệm vụ thiêng liêng đối với đạo họ còn có bổn phận công dân đối với đời. Họ không thể tự tung tự tác ngoài đời, rồi trốn chạy trách nhiệm trả lời về hành vi của họ bằng cách khoát lên chiếc áo tu sĩ, lui về trú ẩn nơi hậu liêu chùa chiền hay sous-sol nhà thờ để mong chờ được bao che.
Các vụ xách nhiễu tình dục trong giới linh mục, có những vụ đã xảy ra vài chục năm, thậm chí hơn trăm năm, vẫn được phanh phui đem ra xét xử. Và đã có nhiều trường hợp bề trên của các linh mục phạm pháp nầy bị bắt buộc từ chức vì đã bao che, ém nhẹm các vụ lạm dụng uy quyền linh mục. Nhiều trường hợp Hội Thánh phải chính thức lên tiếng xin lỗi giáo dân và đền bù xứng đáng cho họ. Công lý Đạo là một lẽ. Công lý Đời lại là một lẽ khác.
Những vị tu hành chưa phải là thánh. Họ còn là người phàm. Họ vấp ngã là chuyện có thể xảy ra lắm. Ăn năn, tốt. Nhưng phải phạt đền nữa chứ!
Một khi đã sa ngã vào vòng tục lụy thì… danh dự cuối cùng của họ là cởi trả áo tu. Không ai nỡ lên án một ông sư dứt khoát hoàn tục hay một linh mục xin trở lại dòng đời. Với điều kiện họ can đảm công bố rõ rệt họ không còn là tu sĩ nữa. Cái không thể chấp nhận hay dung tha là họ mập mờ đánh lận con đen, dối gạt thần thánh, che mắt thế nhân…
Một điều cần lưu ý 3 vị, trước khi kết thúc bài viết, về những phản ứng chắc chắn sẽ xảy ra trước cung cách có vẻ như “kẻ cả” -nếu không muốn nói là “lên lớp”, dạy đời của quí vị đối với các tờ báo -nhất là các tờ báo ở Hoa Kỳ- đã, đang và sẽ cương quyết thực thi quyền tự do hành nghề truyền thông của họ. Tôi vốn cũng có chút ít kinh nghiệm làm báo. Cái tối kỵ là báo nầy muốn chen vào “hướng dẫn, chỉ bảo” báo kia làm theo đường hướng mình muốn. Thực tình mà nói, chẳng lẽ quí vị quên một nguyên tắc hết sức sơ đẳng là mỗi tờ báo đều có chủ trương, đường lối riêng, độc lập. Quí vị lấy quyền gì nói xa nói gần khuyến cáo họ nên đăng cái nầy, không nên đăng cái kia. Ban Biên Tập, Chủ Nhiệm và Chủ Bút của họ chắc phải đủ khả năng và lương tâm chức nghiệp làm công việc chuyên môn của họ chứ, đúng không?
Hãy thử hình dung phản ứng của quí vị, nếu họ đến toà soạn quí vị khuyến cáo nầy nọ! Tự do báo chí có còn chăng nếu không có tự do ngôn luận? Tờ báo đứng đắn là tờ báo chủ trương mở diễn đàn. Tôi đăng bài và sẵn sàng đăng ý kiến phản bác của mọi người. Chưa chi quí vị đã vội vã dán nhãn trục lợi, khai thác đề tài ăn khách trên trán họ, trong khi họ chỉ làm công việc tường thuật nội vụ cho độc giả như một dịch vụ thông tin thường nhật. Nhất là đối tượng của các bài tường thuật lại là một nhân vật của công chúng (personnage public). Vả lại vụ xì-căng-đan nầy đã được phổ biến gần khắp năm Châu, căn cứ trên lời thông báo của bà Diệu Đức sẽ chuyển các tài liệu về vụ “dan díu” nầy làm 3 đợt, mà đợt chót là chuyển cho những chùa còn lại trên khắp thế giới (Mỹ, Âu Châu, Á Châu), sau đợt đầu chuyển cho tất cả Phật tử chùa Phước Huệ, đợt kế cho tất cả các chùa ở Úc và ở Tân Tây Lan. Như vậy vụ dan díu nầy có còn là đề tài ăn khách như quí vị ồn ào tố khổ chăng?


-Lê Tấn Lộc-

Home
geovisit();

geovisit();

Wednesday, August 20, 2008

MỘT LẦN TOAN TÍNH...




Một lần

toan tính…

«Chỉ có mỗi một vấn đề triết học thực sự nghiêm chỉnh: tự tử…»

-(Albert Camus, Huyền thoại về Sisyphe)-

Tôi trút các viên đá trong lon ghi-gô lên tấm bố màu xanh ô liu lấy từ bao đựng cát làm hầm trú ẩn, ở căn cứ hỏa lực Trảng Lớn cũ và bắt đầu đếm: một, hai, ba, bốn…Sáu mươi bảy viên đá cuội (từ lúc vào trại tù, mỗi ngày tôi bỏ vào lon một viên đá): sáu mươi bảy ngày đêm thức trắng dờ con mắt. Sáu mươi bảy ngày đêm đối thoại-độc thoại, lý luận quanh co biện minh cho mỗi một bận tâm độc chiếm đầu óc:
chết bằng cách nào đây cho thật chắc ăn.
Tuần lễ đầu trong tù, tôi để ý thấy có rối loạn trong cơ thể mình. Tôi nhớ trước đây, mỗi lần nhận dạy học cho trường nào tôi đều hỏi han kỹ lưỡng về các tiện nghi vệ sinh, bởi tôi có tật rất nhuận trường. Thế mà bảy ngày rồi tôi không bài tiết. Kể từ ngày thứ tám, trong khi anh em bạn tù đi moi mót mọi thứ còn có thể thu nhặt thì tôi đi lượm bao cát tích trữ để mưu toan kết liễu đời mình. Đôi khi tôi phải dùng thuốc lá đổi lấy bao cát bắt đầu khan hiếm vì ai nấy đều lo thu hồi chúng để may quần áo!
Khởi đầu, mỗi sáng tôi tình nguyện nấu nước sôi cho toàn trại trong một cái chảo đụng khổng lồ. Nhờ trước đây có rèn luyện thân thể, công việc tuy khá nặng nhọc nhưng tôi làm nổi: kéo nước từ một cái giếng rất sâu, đổ vào ống sắt đựng đạn 155 ly, rồi vác trên vai mang tới trút vào chảo. Giếng cách bếp khoảng bốn, năm trăm thước. Cứ ba giờ sáng là tôi nhúm bếp. Dưới ánh lửa bập bùng tôi táo gỡ các sôi dây ni-lông từ những bao cát ra để bện dây thừng, nói là để nối sợi dây kéo nước ở giếng. Một tháng sau tôi đã có trong tay một sợi dây lớn bằng ngón tay út, dài khoảng hai sải tay. Bấy giờ tôi mới di chuyển bếp lửa sát chân một tháp điều chỉnh tầm bắn của pháo binh.
Giai đoạn một của toan tính.
Tháng thứ hai, tôi la cà làm quen với một số bác sĩ, dược sĩ, giả vờ có triệu chứng bị bệnh sốt rét để xin họ thuốc chloroquine nhà binh, loại 500 mg. Bình thường lúc rất sung sức, ăn uống đầy đủ, chỉ cần năm viên đã đủ để «thăng», vô phương cứu chữa. Mà tôi đã dư trữ được mười hai viên.
Giai đoạn hai của toan tính.

Sáng nay, như thường lệ tôi nổi lửa và kiểm điểm xem còn quên điều gì khả dĩ cản trở tôi chết không êm xuôi chăng. Dây thừng, chảo nước sôi, mười hai viên chloroquine. Phương tiện tự hủy diệt coi bộ bảo đảm hữu hiệu. Liệu có phương hại đến ai không? Chắc không. Tháng rồi, một dược sĩ chui xuống địa đạo phòng thủ, mở lựu đạn nổ banh xác nhưng miểng văng trúng ba anh khác, một lọt tròng mắt, một lòi ruột, một gẫy ống quyển. Cả ba sau đó cũng chết vì không có thuốc men trị liệu. Một anh kỷ sư tự thiêu bằng bao thuốc bồi của pháo binh thẩy trọn vào bếp lửa. Hai anh bạn nấu bếp kế cận bị phỏng nặng, chết từ từ trong đau đớn khủng khiếp. Bảy người bỏ mạng, hai tự chọn cái chết, năm bị chết lây. Tôi chỉ tiếc sao lúc đó mình không lởn vởn gần anh dược sĩ hay anh kỹ sư cho đỡ mất công lo nghĩ, toan tính. Sáu mươi bảy ngày đêm vật lộn với ý thức, sáng suốt đến độ tàn nhẫn với chính mình…
Tôi ôn lại trong đầu diễn tiến các động tác phải làm lát nữa đây: ba giờ sáng, nhúm lửa; bốn giờ, nước sôi sùng sục; bốn giờ mười lăm, uống mười hai viên chloroquine; bốn giờ bốn mươi lăm, leo lên tháp canh; bốn giờ năm mươi, cột một đầu dây vào nóc chòi canh, đầu kia thắt thòng lòng tròng vào cổ, chờ cho thuốc ngấm; năm giờ, nhảy xuống như nhảy dù. Nếu dây đứt bất tử, đã có chảo nước sôi bên dưới hứng đón. Nếu nước sôi không luộc tôi đủ chữ thì đã có mười hai viên chloroquine phụ lực đưa tôi an toàn sang bên kia thế giới. Chu đáo quá! Chắc ăn hơn nữa là giờ nầy, trừ mấy tên quỷ sứ đỏ gác ngoài vòng rào chỉ có tôi còn thức toan tính tự hủy diệt. Nếu lũ quỷ vô thường nghi ngờ tôi âm mưu chuyện gì mờ ám thì chúng sẽ nổ súng vào tôi. Thêm một bảo đảm nữa cho cái mưu toan chấm dứt đời mình, vốn đã quá chắc ăn rồi.

Tại sao tôi thèm chết một một cách quá hắc ám đến thế? Tôi điên? Chắc vậy. Mà cái gì làm tôi điên? Từ trước đến nay tôi vẫn tự hào rất vững tinh thần trong mọi cảnh ngộ, chẳng lẽ tôi cam chịu chết chìm ở một lỗ chân trâu sau khi đã đi sông đi biển mà không chết? Tôi không tìm được câu trả lời nào thích đáng. Nhưng điều đó không ngăn cấm tôi thèm chết. Trong đời tôi có hai lần tôi cứu hụt hai người đàn bà tự sát vì tình duyên trắc trở. Người thứ nhất thắt cổ ở một khách sạn. Tôi để ý thấy có mấy tờ báo bị xé vụn thả đầy dưới chân giường. Người thứ hai nhảy xuống sông Tiền Giang Mỹ Tho trầm mình. Tôi cũng để ý thấy cỏ mọc ven sông bị cào cấu nát bấy bỏ thành đống. Họ chắc đã suy nghĩ rất nhiều và tâm can chắc cũng bị cắn xé tan tành như giấy báo và cỏ cây mà họ đã giầy vò cấu xé tơi tả…

Tự tử là một hành vi can đảm hay hèn nhát? Ai dám bảo có câu giải đáp dứt khoát? Kẻ lý luận đời mình không ngừng dự phóng thì cho tự tử là một thất bại, bởi vì với cái chết mọi dự phóng đều bị hư vô hóa. Với người cho rằng đời chỉ đáng sống khi còn có ý nghĩa thì tự tử là một hành vi hợp lý. Nếu có lý do tôn giáo chen vào thì càng rắc rối thêm: Tự tử là thách thức Thượng Đế; tự tử không giải quyết được gì hết vì vòng luân hồi vẫn chưa được giải. Đằng nào người tự tử cũng vẫn phải đơn độc lấy quyết định…
Quyết định vị kỷ? Chỉ có người đã tự tử mới trả lời được. Mà cũng chỉ có cỏ cây, giun dế mới nghe câu trả lời được thôi. Bí mật vẫn bao trùm: có người tự tử hụt thì từ đó được miễn nhiểm, nghĩa là tởn tới già. Có người lại tiếp tục tìm cách tư sát nữa, cho tới khi đạt mục tiêu vĩnh viễn ra đi. Ai đúng? Ai sai? Vấn đề không còn là đúng hay sai nữa, mà là làm hay không làm. Mà làm hay không cũng chỉ do mình quyết định, bởi thế mới gọi là tự tử !

Hôm nay, tôi hết còn nhu cầu quanh co. Làm. Nước đã sôi lâu rồi. Tôi đếm lại các viên chloroquine trước khi tống chúng vào miệng. Một ý nghĩ đã dằn vặt tôi bấy lâu nay lại muộn màng chợt thoáng qua đầu tôi: Tội cho vợ con tôi quá! Tôi ngừng tay trong gang tấc…
Cái gì đã giữ tay tôi lại sau sáu mươi bảy ngày đêm ròng rã toan tính không ngưng nghỉ? Ngay bây giờ -giây phút tôi viết tới đây- nếu ai hỏi tôi có lẽ tôi sẽ thao thao bất tuyệt giải thích, trong trạng thái bình tâm, kiểu như người vừa thoát chết sau một cơn bạo bịnh hay một tai nạn hiểm nghèo bình tĩnh kể lại…Nhưng trong cơn mê điên lúc bấy giờ, tôi chỉ thấy mình vừa vụt thoát khỏi vùng u tối ghê rợn. Cùng lúc, từ xa văng vẳng tiếng chuông rộn rã hòa điệu với bản thánh ca: «Cuộc sống con người như cỏ hoa. Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi. Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích…».

Hôm nay, lẽ ra từ năm giờ sáng trở đi tôi đã là một sự có mặt vĩnh viễn bị bôi xóa. Nhưng cả trại tù đã thức giấc, mặt trời cũng đã mọc, tôi vẫn còn ngồi bất động bên cạnh hàng rào kẽm gai, mắt mờ lệ hướng nhìn ngôi giáo đường ẩn hiện lờ mờ trong sương sớm, bên ngoài vòng rào, nghe tâm hồn bình lặng theo tiếng chuông ngân nga. «Còn khóc được là còn hạnh phúc», tôi thầm nghĩ…Ai có niềm tin thì cho rằng đã có một phép lạ. Ai không tin hoặc chưa tin thì nghĩ tiếng chuông là một âm thanh tình cờ đánh thức tôi, như người đang thiếp ngủ trên tay lái chợt tỉnh đạp thắng kịp khi xe mình sắp lao xuống vực sâu.

Ngày thứ sáu mươi tám, thật lạ lùng: Tôi đột ngột ra khỏi cơn ghiền chết. Nhưng không có nghĩa là tôi ham sống trở lại. Tôi hết còn toan tính tự sát nhưng vẫn còn thích chết. Đúng hơn, tôi thụ động chờ chết: Lúc kho đạn cũ của Sư đoàn 18 Bộ Binh ở Xuân Lộc phát nổ, một số đông bạn tù của tôi bỏ mạng. Nhằm lúc tôi đang nấu bếp. Ai nấy lo tìm chỗ trú ẩn, chỉ có tôi đứng sừng sững như chờ đạn pháo rớt trúng mình cho xong chuyện. Đêm đó, nằm trong mùng tôi ước ao mùng biến thành hòm bó xác tôi luôn cho tiện!
Đến tháng thứ sáu trong tù, nhân vụ phụ tay khiêng xác một dược sĩ tự tử (lại thêm một dược sĩ đi tìm cái chết!), tôi sống lại hoài niệm thương động ngày thứ sáu mươi bảy ở Trảng Lớn. Anh dược sĩ nầy chắc cũng đã chuẩn bị cái chết của mình rất lâu và rất chu đáo như tôi. Anh nuốt trọn một tuýp Valium 10 trước khi dùng dây kẽm treo cổ trên sà nhà rất thấp. Anh vận nội công nhấc bổng hai chân lên (anh vốn là huyền đai đệ tam đẳng Thái Cực Đạo) và chết trong tư thế ngồi xếp bằng, thi thể lủng lẳng là đà mặt đất…
Từ đó, tự nhiên tôi bắt đầu chợp mắt được đôi chút và bắt đầu thấy có bổn phận trường tồn. Nếu quả thật «Vanitas vanitatum et omnia vanitas» (Phù du trong những phù du và tất cả đều phù du) thì tôi chỉ còn có mỗi một việc phải làm trước mắt: sống! Bởi chỉ có một thứ còn trong vòng tay tôi: cuộc đời tôi. Từ bụi tro đến thì tôi cũng sẽ trở về tro bụi, nhưng cứ để theo tiến trình tự nhiên. Thản nhiên sống, thản nhiên chết. Đừng có bày đặt rắc rối lôi thôi!
Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ tại sao mình đã thèm chết đến thế: Xảo thuật tẩy não của loài quỉ đỏ thật tinh vi. Chúng không đầy đọa anh liền tức khắc khi anh bước vô vòng kẽm gai. Nhưng chúng chặt đứt mọi liên lạc của anh với thế giới bên ngoài cho anh chới với, để rồi anh thường xuyên sống cảnh chờ đợi cây gươm Damoclès rớt xuống đầu anh. Nếu trước đây anh có cuộc sống náo động thì sự bất động miễn cưỡng giờ đây làm cho anh mau sa sút về mọi mặt, như chiếc xe hơi đang chạy hết tốc lực đột ngột khựng lại vì bị đứng máy. Độc hại hơn hết là anh chẳng bao giờ có cơ hội ngang nhiên nổi máu anh hùng: Không còn ai biết đến anh nữa (anh có cảm tưởng như vậy), và anh sẽ mòn mỏi chết như một con chó hoang ở một xó xỉnh nào đó. Riêng tôi, nhìn lại tiến trình «thèm chết» tôi nghiệm thấy nó như một nhu cầu chấm dứt sự chờ đợi căng thăng thường xuyên đang tàn phá kinh khiếp tim óc mình.

Từ đó, tôi nghĩ trước sau gì cũng chết, tội gì phải gấp gáp. Hãy sống cái đã! Mà muốn ham sống, phải có một động lực nào mạnh ngang hoặc hơn bản năng sinh tồn: Niềm Tin và Tình Yêu. Cảm xúc và đam mê còn là sự sống còn vươn lên được. Trước mắt là gắn bó với anh em đồng cảnh ngộ, gắn bó với anh em khác cảnh ngộ nhưng cùng một chiến tuyến. Tôi nhập cuộc trở lại với anh em bằng cách mà bọn hung thần không thể nào kiểm soát: tâm tưởng. Gặp nhau trong lời nguyện cầu, niềm hi vọng thầm kín trong đầu. Ánh mắt diễn đạt đã đủ để chuyển thông điệp. Cộng thêm những nhạc khúc cố tình đánh lạc nhịp nhưng âm điệu vốn đã quen nghe, những bài thơ đọc hoặc viết ngược, v.v…Có một điều bọn quỷ dữ vẫn biết mà không sao ngăn cản được là cứ tới ngày Phật Đản hay Giáng Sinh, anh em tù ra sân chơi, đứng lặng yên cúi mặt hay ngước nhìn trời cao, thay vì cười nói huyên thiên. Và sư tôn kính dành cho quì vị tu sĩ cùng ngồi tù vẫn nguyên vẹn, có phần tăng trưởng.

Riêng tôi, nhờ bọn ác quỷ tôi tìm lại được TÌNH YÊU tưởng đã chai lì theo ngày tháng, thói quen và NIỀM TIN tưởng đã vĩnh viễn mất với cuộc sống đua đòi trước đây.
Tình Yêu thêm sức cho thiện ý nẩy nở vượt bực nơi tôi, khiến tôi chỉ còn muốn thấy và giữ những gì tốt đẹp ở anh em, nhằm tạo một sinh lực dư thừa khả năng xô ngã bức tường tù túng của những tị hiềm nhỏ nhoi còn ngăn trở anh em chúng ta nắm tay nhau thực hiện

Một niềm tin, một niềm tin sắt đá:
Sẽ có ngày bạo lực tàn hơi…

Đổ-Lá-Đầy-Ấp-Mơ, Xứ Tuyết
-Lê Tấn Lộc-

Thursday, July 31, 2008

Từ Kỳ đà Kỳ cục sang Kỳ khôi tới Kỳ…nhông!




Nhân đọc một bài phóng sự

Từ Kỳ đà Kỳ cục sang Kỳ khôi tới Kỳ…nhông!

Mọi việc khởi từ một buổi sáng mát trời, có chút nắng le lói:
Một điện thư bất chợt đáp xuống mail-box của tôi với cái tít gồ ghề “Tôi về Việt Nam để biết rằng mình có một quê hương”! Tưởng đâu bảng tuyên ngôn “kiếu nước” của đám chí (sỉ) đỏ -chớ có nói lái- đao to búa nhớn hô hào về Việt Nam hùn hạp kiếm ăn, dưới chiêu bài dỏm “hoà hạp hoà rải rân tộc” đang ngo ngoe dựng cờ khởi nghĩa như “thành fần thứ ba tái bản”, dưới trướng của Ô-Trọc-Sư VÔ HẠNH hoàn tục, một Lỗ Trí Thâm tái sinh và còm-pa-nhi! Ngờ đâu lại là chuyện “pi-lót-thót” (pillow talk) -thì thầm bên gối chiếc- của chị đờn bà số 2 cũ, người vợ thứ 2 cũ của ông tướng cũng số 2 cũ của VNCH trước đây, ông tướng “Thích-Mắm-Tôm-tử-thủ-bố-láo”, tiên chạy làng, hậu quay về quì mọp Bắc Bộ Phủ xin tạ tội… đã bỏ lại hũ mắm tôm chưa kịp xơi, trong lúc vội vã bỏ chạy sau khi hô hào đồng bào “bám trụ” quê hương đến hơi thở cuối cùng!
Xem ra bà phó-tồng-ngồng cũng ghiền mùi mắm tôm dữ đa! Chả nhẽ phòng trà Văn(g) Nghệ (14 Lam Sơn, Phú Nhuận) dưới chế độ XHCN được xông hương…mắm tôm ư?


Thiên hạ đồn rằng -nhưng cũng có “cơ sở” lắm- bà “đệ nhị” mắc “chứng động cởn” (nymphomanie), ưa thích “quăng bắt” tình nhân thuở còn xuân sắc. Tới lứa tuổi trổ đồi mồi vẫn còn ham săn mồi, nên nàng mang hổn danh “phó tòng-Tống” -Ó đen Ó đỏ Ó biển gì đó- săn luôn cả Ó Phi-líp-pin, Ó đơ-dèm-cùi-bắp-giao-chỉ-bay-đêm!
Thiên hạ cũng đồn rằng -cũng có cơ sở đấy- bà chẳng có tú tài tú tiết tây ta chi cả, đỏ đen hà rầm, quyên tiền mần việc thiện bị thiên hạ lánh mặt từ chối, sợ bị quyên luôn thứ khác, vân vân và v.v…Nhưng đây là chuyện riêng -chuyện bí mật phòng the- của bà phó-phô-trương, đờn ông như tôi không tiện chỏ mũi vào, tránh rủi ro mùi mắm tôm bám vào quần áo, ngầy ngật khẩy đờn lạc điệu, thân bại danh liệt! Vả lại đờn ông con trai hành sử như thế chẳng hào hiệp chút nào. Dù rằng vụ thiên hạ đồn rằng nầy, tôi có tài liệu mang chữ ký của một số người cầm bút có tên tuổi, do các thân hữu chuyển cho tôi…
Xin cho tôi miễn đi sâu vào “chuyện dài nhân dân tự vệ” nầy, để chỉ tập trung vào ghi lại các góp ý của văn, thân hữu về chuyện nữ (la) sĩ về chiều Đặng Tuyết Mai đang chực chờ le lói…

Sau khi đọc bài viết vừa bản tin, vừa phóng sự, vừa phỏng vấn, tôi chuyển cho một số thân hữu và cho toà soạn các báo tôi đang cộng tác. Không phải đợi lâu, cả một trận mưa mail tràn ngập PC tôi. Ý kiến phản ứng mãnh liệt dồn dập. Một vài mail chỉ dẫn tôi vào một số website tham khảo nhiều tiết lộ rất ly kỳ về “đấng” ca sĩ cận kề “thất thập cổ lai hi”…Chắc chắn bài viết nầy của tôi sẽ sanh sau đẻ muộn: có lẽ vô số bài viết đã lên mặt báo hoặc được tung lên Net khi ngòi bút tôi chạy tới đây. Nhưng tôi không còn sự chọn lựa nào khác ngoài việc tiếp tục viết. Bởi lẽ tôi cảm thấy có nhu cầu chia sẻ niềm uất nghẹn của một số anh em chiến hữu năm xưa và bây giờ.
Lẽ ra tôi không nên “đụng” tới một người dẫu sao cũng đã có thời cùng chiến tuyến với mình, lại là người nữ phái nữa. Nhưng sức chịu đựng của con người trần tục không thể không có giới hạn. Tuy nhiên, tôi sẽ không đi sâu vào tình tiết bài viết của Quỳnh Lệ. Các phát biểu hổ lốn của bà Phó Kỳ sẽ được nhiều cây viết khác có tầm cỡ hơn tôi mổ xẻ, như Đào Nương, Nguyễn Đạt Thịnh, Văn Quang v.v…Trừ trường hợp không thể tránh tôi mới “chạm” tới vài việc quá lố của mỹ nhơn thôi. Kỳ dư, tôi muốn nhân cơ hội nầy tổng hợp vài trao đổi quan điểm giữa những anh em đã hết sức phẫn nộ trước những biểu lộ bất xứng của bà cựu Phó…

Trước đây, tôi có viết một bài mà không báo nào dám đăng vì sợ “bể nồi cơm”. Bài viết tựa đề Hát hỏng hụt hơi hỗn hễn hò hét, có đoạn tôi viết:
“ Anh thử nghĩ, nếu ở Việt Nam, cách đây 40 năm, lúc anh và tôi trên dưới 20 tuổi, chúng ta thấy ông bà nội, ông bà ngoại mình nhai trầu bõm bẽm, thượng đài ca múa thì anh và tôi có muốn độn thổ chăng?...
Bây giờ cũng vậy thôi, con cháu anh và tôi thấy chúng ta leo lên sân khấu trổ tài ca hát, liệu chúng có tránh khỏi bị lợm giọng, nổi da gà chăng? Nói chi tới chúng chứng kiến ông bà cố, ông bà sơ chúng bon chen nhảy lên sân khấu, lấn lướt, xô đẩy, giành giựt nhau cái microphone quái ác để hát hò cho bằng được, giễu dở cho bằng được! Có bao giờ anh nghĩ chúng có thể tự hỏi ông bà, cha mẹ ta đã bị con gì cắn chăng?”
Không ngờ hôm nay có người một thời là mệnh phụ phu nhân “nhung gấm lụa là”, nay đã “tan tác như hoa giữa đường” nhưng vẫn còn được chút vinh hạnh làm bà nội bà ngoại, lại cả gan lôi cái thân xác mang nhiều dấu vết tàn phá của thời gian không thể nào chối cãi được nữa -dù vẫn thường xuyên tu sửa nơi các thẩm mỹ viện- lên bục trình diễn múa may quay cuồng, lả lơi buông lời ca tình tứ kích xúc trẻ con và bô lão tận quê nhà!

Người đầu tiên phản ứng mạnh là một chiến hữu trẻ tuổi đang chăm sóc một tờ báo và một trang Web cho Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hamburg.
Anh viết:


Thân gửi anh Lộc,
Kính gửi quý anh chị trong e.mail được anh Lộc gửi kèm theo mail nầy,

Như tôi đã có lần " tâm sự " cùng anh Lộc, tôi là một hậu bối, sanh sau đẻ muộn.Thật ra, tôi không có mối thù riêng với CSVN. Nhưng vẫn có mối thù chung như tất cả quý vị. Cũng như bà Đặng Tuyết Mai. Ngày tôi vượt biên (một mình), tôi còn " bé tí´", chưa biết thù hận, mặc dù tôi cảm nhận được hình ảnh 30. 04. 75 .Khi được định cư tại đệ tam quốc gia và tới khi " trí thông minh " phát triển, đồng thời tham gia các công việc xã hội của các Hội đoàn địa phương tôi mới thực sự tìm thấy "mối thù không đội chung trời" với CSVN trong tôi. Và 28 năm nay tôi chưa về Việt Nam 1 lần. Tại sao?
Những Ông Bà tai to mặt bự khi xưa, nay lại đùng đùng đổ nhau về Việt Nam. Lắm người chỉ muốn về thăm nhà. Về Việt Nam 4 tuần, thăm nhà đượcc 2 hay 3 ngày ?Tôi không hiểu nổi, những thành phần được gọi là Trí Thức trước 75 đã bỏ quên Lương Tâm của họ đâu rồi? Tôi -một hậu sanh tiểu bối- tôi hiểu được, khi tôi trốn khỏi Việt Nam là: TÔI KHÔNG CHẤP NHẬN CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐẢNG TRỊ CỘNG SẢN VIỆT NAM.
Và khi nào cái đảng nầy còn cầm quyền tại Việt Nam, tôi nhất định không trở về Việt Nam. Không thể hy sinh một chút xíu về mình (về VN chơi), thì làm sao có thể hy sinh cho Chính Nghĩa và Đại Cuộc ???Bà ĐTM nói: "Tôi về Việt Nam để biết rằng mình có một quê hương "…Tôi không về và còn hàng triệu người không về....những người nầy không biết mình đang có một quê hương hay sao?
Tôi cảm thấy xấu hổ với Cha Ông , với Tiền Nhân đã dày công dựng nước và giữ nước... các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã trả nợ non sông bằng tính mạng và ngay cả gia đình của mình....

Kính
Lê Ngọc Tùng
Hamburg, Germany


Vừa xúc động, vừa “xấu hổ” trước nghĩa khí của người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, tôi vội vã trả lời:

Anh Ngọc Tùng thân mến,
Nếu anh theo dõi lộ trình các thân hữu chuyển bài viết kiểu ngồi lê đôi mách, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sô-ốp 100% của một giai nhân ở buổi hoàng hôn của cuộc đời, đã có thời trao duyên nhằm tướng cướp hạng cá kèo, xuất thân đứng bến xe hơi, nhờ thời cuộc và vận may có dịp bay bổng trên mây xanh với bộ đồ bay nặng mùi cải lương "Đàn chim sắt" của ông Bảy Cao, chủ gánh hát Hoa Sen năm nào...để rồi sẵn trớn "trai vô lại, gái lẵng lơ" choàng vai nhau vất vưởng nhào lên ngôi nhân vật số 2 của VNCH thì... chắc anh phải rõ những thân hữu chuyển cho chúng ta bài viết "thiếu trưởng thành trí tuệ, thiếu chính chắn lương tri" (vừa có tính cách "đánh bóng" vừa tạo cơ hội cho "đệ nhị phu nhân đã quá date" bộc lộ những "khắn khít" nặng phần trình diễn với "một quê hương") đã phải từng phen lợm giọng thế nào!
Và tôi nghĩ rằng tôi đã đạt mục tiêu gây phẫn nộ nơi anh, một sự phẫn nộ phải có đối với người liêm sĩ, biết tự trọng -một sự phẫn nộ mà tôi không ngần ngại cho là "thánh thiện" (une sainte colère)!
Tôi cũng chắc chắn là những thân hữu có tên trong điện thư tôi chuyển cùng lúc với anh sẽ phản ứng.
Có lẽ anh cũng rõ là những người nầy thuộc giới truyền thông (Việt Luận-Úc, SàiGòn Nhỏ-Hoa Kỳ, Blog LTL-KT) và họ là những người chẳng thể nào ngửi được chế độ Bắc Bộ Phủ Việt-Hoa nói riêng và mọi chế độ CS trên thế giới nói chung.
Nồi nào úp vung ấy, ngưu tìm ngưu mã tìm mã, chàng vô loại -"Kỳ...nhông" thì nàng không thể nào không đổi màu da xoành xoạch được, phải không?
Nếu anh đọc lại lần nữa các bài phù phiếm luận 1,2,3 thì anh rõ lập trường không bao giờ thỏa hiệp với CS của tôi. Và đó cũng là lập trường chung của nhóm thân hữu chúng tôi, trong đó có anh, Lê Ngọc Tùng
Vì anh cho biết lúc xảy ra đại họa 30.4.75 anh còn bé tí, tôi xin cho anh rõ điều nầy -mà tôi nghĩ có thể anh cũng dư biết -sau 75, những tai to mặt bự, những tên hưởng nhiều đặc ân, đặc quyền, đặc lợi nhất của VNCH là những tên nham nhở hâm hở trở cờ nhanh nhất. Và cũng là những tên làm ăng-ten đắc lực nhất cho bọn cai tù VC trong các trại "cải tạo" cũng như ở phường khóm.
Đáng kể hơn hết là những tên trí thức khoa bảng "đặc-công-nằm-vùng-điềm-chỉ-viên", điển hình là nhóm 3X (Xạo-Xảo-Xỏ Lá) Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lữ Phương, Lý Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, ế-xết-tê-ra... còn nhiều nữa không kề hết ra...Nổi bật nhất hiện nay là "đôi trái tai gai sắc" Mai-Kỳ-Nhông...Mốt-Kỳ-Đà!

Lần nầy thì d ứt khoát tôi phổ biến rộng rãi toàn bộ điện thư nầy cho các thân hữu của chúng ta. Tôi sẽ đề nghị Việt Luận đưa nội vụ lên trang báo. Tôi tin chắc Đào Nương sẽ lên tiếng trên SàiGòn Nhỏ. Và tôi sẽ tung lên blog LTL cho đám cựu môn sinh của tôi tại quê nhà có thể xem.
Tôi cũng lấy làm tiếc bài "Một sỉ nhục cho ai?", "Vô tình sai sót hay cố ý bóp méo?", "Nghĩ mệt nghỉ trong mùa hè" chưa được xuất hiện trên trang Web của Dân Việt để đồng bào bên Đức có dịp nhận diện một số khuôn mặt "trí-thức-mộng-du-theo-voi ăn bã-mía".
Nói như nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Mai-Kỳ-Nhông, chẳng qua thuộc loại "động đậy cho người ta khỏi quên thế thôi"!
Thân ái chào chiến hữu trẻ tuổi nhưng cương nghị,
-LTL-

Người chiến hữu trẻ cũng nhanh chóng trả lời:

Thân gửi anh Lộc,
Rất cám ơn anh đã bỏ thời gian viết lời tâm tình. Nếu anh có thời gian (hay các quý vị trong Mail được kèm theo đây ) viết mộtt bài " đục " Bà ĐTM thì hay quá.
Quan điểm của tôi là lấy Tình Thương làm căn bản để mở rối các vấn đề, nhưng nó vẫn có giới hạn. Đối với những " loại " không thành thật như Bà ĐTM (cũng như Việt gian NCK v.v...) chúng ta không thể dùng tình thương mà đối xử. " Đục được cứ đục . Đục cho đến khi nào không ngẩng mặt lên được ....vẫn đục tiếp.
Trong tất cả các tội lỗi, có tội đáng được và có tội không đáng được tha. Tội bán đứng anh em mình và tội quên mình là con dân VNCH là những tội không đáng được tha thứ.
Cuộc chiến nào cũng có sự hy sinh. Nếu cần -nói nghe rất vô nhân đạo và tàn nhẫn- (theo ý riêng của tôi) chúng ta phải cắn răng mà hy sinh 1 hay 2 thế hệ (tại VN) để rút ngắn con đường tiêu diệt Giặc Cộng. Sự cắn răng hy sinh mà tôi muốn nói là : KHÔNG GỬI TIỀN VỀ VIỆT NAM VÀ KHÔNG GIÚP ĐỠ MỘT ĐỒNG MỘT CẮC NÀO CẢ VÀ KHÔNG DU LỊCH VỀ VIỆT NAM .
Tiếc rằng đây chỉ là điều không tưởng !!!(?).

Thân kính
Lê Ngọc Tùng


Rất “ấm lòng chiến sĩ”, tôi viết ngay cho người bạn trẻ chưa một lần giáp mặt:

Anh Ngọc Tùng thân,
Rất cảm động trước những lời khí khái của anh. Đáng làm gương cho một số đông các niên trưởng hiện nay đang chao đảo, mất hết hào khí của bậc nam nhi chi chí.
Những người nghĩ như chúng ta càng lúc càng ít. Nhưng vẫn còn đấy anh. Và những chiến hữu nầy của chúng ta chắc chắn khi đọc những giòng chữ nầy của anh cũng thấy ấm lòng chiến sĩ đôi chút...
Đồng ý với anh về khoản ĐỤC đối với đám người không thể dùng tình thương mà đối xử, nhất là cái đám luôn chực chờ xin làm con nuôi của Bắc Bộ Phủ Việt-Hoa ĐỎ...
Cũng tán đồng với anh về mục BA KHÔNG.
Anh yên chí, trong nhóm chúng ta sẽ có người viết về quái nữ ĐTM...
Xin ghi lại đề nghị của một văn hữu gửi cho tôi:
«Tôi nghĩ anh nên viết một bài về mụ ĐTM nầy. Nhất là câu nói “Tôi về VN để biết mình có một quê hương”! Vậy thì ai đã làm chúng ta mất quê hương? Cả hai vợ chồng “hết ý kiến” Mai-Kỳ-Nhông nầy, ngày nào còn lãnh đạo và làm mất nước -không biết nhục- bây giờ sang đây chỉ vì một chút bã danh lợi đã làm mất hết danh dự của người lính» -A.D.-
Thân mến,
LT L

Và việc trao đổi quan điểm tiếp tiếp tục:

-Cám ơn anh Lộc đã quá coi trọng em. Em nghĩ rằng sự suy nghĩ của em và việc làm hiện tại, sự dấn thân phục vụ Cộng Ðồng là một sự hết sức bình thường cho một con người Lưu Vong.
Khi nghĩ đến những chiến sĩ đã hy sinh, những Thương Phế Binh giờ đây còn không bằng phó thường dân tại quê nhà. Chúng ta, những người may mắn còn sống và còn được vô cùng sung sướng bên gia đình, hạnh phúc, bình an và nhất là cái hạnh phúc được hít thở không khí thật sự tự do, dân chủ trong khi hơn 80 triệu người dân đang lầm than (dĩ nhiên không nói đến những thành phần con ông cháu cha và những người nhờ trời đổi gió giờ có chút may mắn v.v..) ..sáng cháo…chiều chưa biết lấy gì để no bụng và sống trong sự tối tăm không hy vọng.

- Càng lúc tôi càng thấy gần người bạn vong niên Tùng, dù chúng ta người bên nầy Đại Tây Dương, người bên kia...Ngày xưa, Rodrigue, một nhân vật trong bi kịch Le Cid của Corneille đã trả lời thái độ khinh khỉnh ,kẻ cả của đại lão công thần Le Comte, đối thủ của Don Diègue, cha mình bằng câu nói để đời: "Je suis jeune, il est vrai...Mais la valeur n'attend point le nombre des années!" (Tạm phỏng dịch: Tôi còn trẻ , đúng vậy...Nhưng giá trị chằng hề chờ số tuổi chất chồng cao!"...Và tôi thành thật nghĩ rằng câu xác quyết nầy ứng dụng hoàn toàn với Ngọc Tùng.
Tôi kể chuyện thật 100% sau đây cho Ngọc Tùng suy gẫm: Sau khi bài viết QHRB của tôi lên mặt báo, một cựu nữ sinh trường trung học Trịnh Hoài Đức (Bình Dương) nhờ toà soạn tờ SàiGòn Nhỏ giúp liên lạc với tôi để xin tôi nghĩ cách đem thanh gươm của cố SVSQ/VBQG từ VN sang Hoa Kỳ, để Hội AH/VBQG/ĐL (Đa Hiệu) vinh danh người quá cố. Công việc đang được kín đáo xúc tiến. Trong câu chuyện trao đổi, người cựu nữ sinh, vợ một cựu VBQG, tiết lộ đã phản ứng mãnh liệt trước thái độ của một số cựu VBQG "xuống cấp, ăn chơi phè phỡn", nếu không nghi ngờ thì cũng thờ ơ châm biếm về câu chuyện tôi kể trong QHRB liên quan tới thanh gươm nầy. Cô nói:
"Tôi thực sự muốn nôn mửa trước thái độ thiếu nghiêm túc của các anh, những người chọn binh nghiệp làm lý tưởng sống. Liên tiếp nhiều lần, các anh đang tâm vác cái thân xác tật nguyền, què quặt , đầy thương tích lãnh nhận từ những chiến công hiển hách chống Việt Cộng về quê nhà ăn chơi, du hí từ Nam chí Bắc...Rồi về lại nơi định cư tung những hình ảnh ăn chơi trụy lạc tục tiểu lên internet phô trương thành tích chơi bời của mình...Bây giờ, tôi đang cùng một số người có tâm huyết lo việc đem một di tích đề cao truyền thống con nhà võ thì các anh, các cựu sĩ quan hiện dịch QLVNCH kiêu hùng, các anh lại...xấc láo dè biễu! Khó tin nhưng có thật!!!"
Anh Ngọc Tùng thấy chưa. Tôi chỉ là một cựu sĩ quan trừ bị...

Rồi người bạn vong niên Lê Ngọc Tùng chuyển cho tôi những nhận định sau đây:

Nghĩ tới câu nói của bà Đặng Tuyết Mai : "Tôi về Việt Nam để biết rằng mình có một quê hương…" là thấy người nóng lên.
Anh Lộc cùng các anh chị thân mến,Có phải bản ngã người Việt Nam chúng ta là:
1-Dễ thờ ơ lại hay im lặng
Có những chuyện nghe (xảy ra) động trời; ấy vậy mà chỉ một vài người lên tiếng…rồi hôm sau cũng là chuyện đã qua.
Ai cũng thấy, ai cũng biết những điếu sai trái trong gia đình, trong xã hội, trong đời sống -nói riêng- và trong bối cảnh lịch sử của chúng ta hiện tại -nói chung.
Thấy mà không dám lên tiếng vì sợ mang họa vào thân. Cho em xin 2 chữ bình an…Im lặng là vàng…
2- Dễ tha thứ
Chuyện động trời như chuyện bán đứng anh em mình đã một thời cùng sát cánh chiến đấu bên nhau. Nặng tội hơn nữa là bán đứng QLVNCH . Ví dụ Nguyễn Cao Kỳ.
Tại sao mấy chú, mấy anh cựu quân nhân bên Mỹ không trùm mền đập cho cha nội này què cả 2 giò (đừng đập chết) để không còn tự do đi đứng nữa. Ðập què giò xong, cắt luôn cái lưỡi để không còn “sủa “ bậy.
….. Thôi, làm ác thì sẽ gặp ác báo…chúng ta, ai cũng nghĩ vậy. Cứ kệ đi. Thế nào trời cũng phạt.
Chúng ta nhẹ dạ, dễ trốn trách nhiệm và hay sợ luỵ vào thân… mọi chuyện cứ giao cho ông trời…để được yên thân.
3-Dễ quên
Hầu như phần đông đã quên mình là người Tỵ Nạn. Và vẫn luôn là người Tỵ Nạn …dù cho mình đã có thẻ xanh, thẻ vàng, thẻ đỏ hay thẻ đen v.v… Tất cả đều nhanh chóng chấp nhận quê hương thứ 2 thành “Ðất nước” của mình khi chăn êm nệm ấm , nhà cao, cửa rộng …Và như vậy, họ đã chấp nhận bỏ rơi 80 triệu dân VN bên kia Thái Bình Dương để sống cuộc đời ích kỷ cho riêng mình.
Các thành phần trí thức cùng các cựu Quân nhân! Một số đã “tình nguyện” về thăm quê hương. Quên đi mình đã là ai. Quên đi những ngày tháng bị giặc cộng dày vò, hành hạ, mắng nặng, sỉ nhục trong trại tù cải tạo. Và họ đã quên họ là CHIẾN SĨ của QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA !!!
Quê hương đang chờ họ. Nếu những thành phần trí thức, những Sĩ Quan và Chiến Sĩ của QLVNCH không là những thành phần nồng cốt để dạy dỗ , huấn luyện, nung nấu tinh thần , làm gương cho thế sau -thế hệ thứ 2 và thứ 3- thì còn ai sẽ lãnh trách nhiệm này đây? Họ quá mau quên, họ đã một thời hưởng ân, ăn cơm của Việt Nam Cộng Hòa…

Ðể vấn đề được giải quyết nhanh chóng, để rút ngắn thời gian đấu tranh tiêu diệt Giặc Cộng, để ngày chúng ta cùng kéo nhau trở về xây dựng một VN Ðệ Tam Cộng Hòa, chúng ta cần siết chặt hàng ngũ, đoàn kết, can đảm hơn nhiều nữa. Và nhất là đừng quá mau quên, dễ quên mối thù mất nước.
Ðấu tranh rõ ràng (nếu cần thiết cũng được phép xử dụng biện pháp mạnh) thì bọn Việt Gian, Việt Cộng nằm vùng và những kẻ đang có ý gian manh trong đầu mới “Tè” chúng ta.
Nếu chúng ta, những Người Việt Quốc Gia, không tự giúp và tự giải quyết chuyện của mình được thì sẽ không ai giúp mình. Và cũng đừng mong chờ ai giúp mình.

Sau những trao đổi, góp ý trên đây, chúng tôi nhận thấy quả thực câu chuyện phản lão hoàn đồng ỏng ẹo nhạt phèo giúp vui của bà cựu Phó Tổng Thống VNCH đã v ượt quá khung cảnh tranh luận “văn nghệ” thông thường. Nó chỉ là chất xúc tác cho mọi uất ức, bất mãn bùng nổ dữ dội hơn trước hiện tượng “xuống cấp” thê thảm của một số quan chức VNCH cũ đã nhục nhã quỳ lụy CSVN để “kiếm chút cháo” hoặc để được thoải mái du hí du thực vô tội vạ trên một đất nước mà biết bao sinh linh của chiến hữu và đồng bào của họ đã hy sinh xương máu của mình để bảo vệ nó suốt mấy mươi năm chinh chiến ác liệt.
Nước mất nhà tan trong tay ai giờ đây, hỡi ông tướng xuội râu Nguyễn Cao Kỳ-Nhông đang liếm tay lũ cộng phỉ, bà xồn xồn Đặng Tuyết Mai-Săn-Mồi ôm mộng ca kỷ “phục vụ” triều đình Mã Tấu Bắc Phương Hoa-Việt?

Xưa kia ông tướng đích thân lái máy bay hô hào “Bắc phạt”. Phải chăng theo luật ơn đền oán trả, ngày nay ông cúi đầu cho Bắc nó phạt ông? Bà tướng cũng không kém “khí thế” trong bộ đồ bay, suýt chút đã leo lên chiến đấu cơ cùng ông tướng tàu bay “Bắc phạt” luôn đấy. Giờ đây bà tướng trút bỏ xiêm y kiêu hùng ngày xưa, mưu toan vừa ca vừa vũ… “xách-xi” cho nó thêm ph ần “khí thế” hơn xưa trước lũ người suýt bị bà “Bắc phạt” hụt ngày trước. Phải chăng, cũng theo luật oán trả ơn đền như đức lang quân của bà, bây giờ Bắc nó phạt bà làm trò “xách-xi-sô” cho chúng nó rửa mắt?
Ông “Kỳ-Nhông” và bà “Săn-Mồi” có ý thức mình đã đi từ Kỳ đà hơi Kỳ cục, quá Kỳ khôi tới Kỳ…nhông ch ăng?
Để tạm kết thúc, xin chuyển một nhận định duy nhất của tôi liên quan tới “văn nghệ” trong bài viết nầy, làm quà tặng mỹ-nhơn-xế-chiều đang tập tành làm ca-vũ-sĩ: «L’on est né artiste. Rarement et péniblement, on le devient. Mais l’on ne s’improvise artiste que ridiculement». Xin phỏng dịch: Ta vốn sinh ra là nghệ sĩ. Rất hiếm hoi và khó khăn lắm, ta mới trở thành nghệ sĩ. Nhưng muốn tùy hứng (cương đại) làm nghệ sĩ, ta chỉ tổ khiến mình lố bịch).

Thôn trang Rêu-Phông, mùa hè 2008
-Lê Tấn Lộc-

Tuesday, July 22, 2008

Anh em nhà họ Lê


Hình chụp đêm Giao thừa Tết Mậu Thân trên sân thượng nhà Kiệt Tấn (đường Bạch Đằng- Hàng Xanh-Gia Định):
Từ trái sang phải: anh hai Lê Tấn Phát; anh ba Lê Tấn Lợi (nhà thơ Lam Sơn); Ba Lê Minh Châu; năm Lộc -Lê Tấn Lộc-; sáu Kiệt-Lê Tấn Kiệt-Kiệt Tấn.
(chỉ thiếu chị Tư Lê Thị Trinh, một trong những nhân vật chính trong Việt Nam Thương Khúc và Má, Nguyễn Thị Diệu, nhân vật chính tro
ng Nụ Cười Tre Trúc)

Tuesday, July 15, 2008

Tản mạn về Collège de Vinhlong


Mở Đầu:

Đọc “Đặc San Giáp Thân 2004-Mái Trường Xưa” do Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp ấn hành, tôi hết sức vui mừng thấy đôi bạn đồng nghiệp Đào Khánh Thọ-Võ thị Ngọc Dung cuối cùng thực hiện được hoài bão của chính mình, của nhiều thế hệ cựu giáo sư, cựu học sinh, cựu nhân viên của trường.
Đó cũng là niềm ước vọng từ lâu của nhóm cựu học sinh khóa đầu tiên chúng tôi qua nhiều buổi họp mặt trước năm 1975 tại Sài Gòn, và gần đây, năm 1994 tại Lake Forest, California. Nhưng cho tới nay chúng tôi vẫn chỉ là nhóm vận động và chỉ làm được công việc tương thân tương trợ quí thầy cô và các bạn đồng khóa, hoặc bằng hiện kim hoặc bằng quà cáp nhân dịp Tết. Có lẽ vì chúng tôi ở quá rải rác khắp năm châu, quá già yếu, lại thiếu phương tiện tối tân liên lạc nhanh chóng.
Đồng thời, tôi cũng thấy phần nào buồn tủi: Collège de Vinhlong, nếu được nhắc tới cũng chỉ còn là một thứ bóng mờ vất vưởng bên lề như “Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than...” Điều đó cũng dễ hiểu thôi, vì các cựu học sinh Collège de Vinh Long phần lớn đã “lụm cụm.” Vả lại họ chỉ là một nhóm nhỏ so với tập thể vô cùng to lớn cựu học sinh Nguyễn Thông-Tống Phước Hiệp, mà đại đa số hầu như còn rất “mạnh giỏi.”
Điều thiếu sót vô tình của chúng tôi là không có cơ hội góp mặt, góp tiếng nói thân tình với các anh em cựu học sinh các lớp sau, để phần nào bổ túc, điều chỉnh một vài sai sót vô ý của các anh em. Chẳng hạn như:
Cho rằng: “Trung tuần tháng 10 năm 1955, nếp sinh hoạt của hai lớp Cinquième Moderne A và B (tương đương với lớp đệ ngũ sau này) sôi động lên...” là không đúng. Collège de Vinhlong (năm 1951, đổi tên Việt: Trường Cao Tiểu Vĩnh Long, năm 1954 đổi tên lần nữa: Nguyễn Thông) không hề có chương trình Enseignement Moderne. Cho tới năm 1955, trường vẫn chỉ áp dụng độc nhứt chương trình Bốn Năm (đệ nhứt niên, đệ nhị niên, đệ tam niên, đệ tứ niên: 1 ère, 2 è, 3 è, 4 è Année). Chuẩn bị cho học sinh thi lấy bằng D.E.P.S.I (Diplôme d’Études Primaires Supérieurs Indochinoises), gọi nôm na là bằng Đíp-Lôm hay bằng Thành Chung. Chương trình Moderne chỉ được giảng dạy ở các Lycée Chasseloup-Laubat, Pétrus Ký, nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản. Lớp 5 è: Moderne tương đương với lớp đệ lục chương trình Việt lúc đó. Năm 1956 trường Nguyễn Thông mở hai lớp đệ tam mới, đón nhận hai lớp đệ tứ niên cũ vừa mới mãn học trình bốn năm. Sau đó, các học sinh này phải sang trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho tiếp tục học lớp đệ nhị.
Dưới tên tác giả Bào Mỹ Nguyễn văn Kính mà phụ chú: “Nguyễn văn Kính, hiệu trưởng lâu năm nhứt của trường Trung Học Nguyễn Thông-Tống Phước Hiệp” là không đúng hẳn, vì theo thứ tự thời gian, cần phải nêu thật rõ như sau mới trung thực: Nguyễn văn Kính, le Premier Directeur du Collège de Vinhlong (1949-1951), Hiệu Trưởng trường Cao Tiểu Vĩnh Long (1951-1953), Hiệu Trưởng trường Trung Học Nguyễn Thông (1953-1956). Thầy Nguyễn văn Kính không thể nào làm Hiệu Trưởng trường Tống Phước Hiệp vì thầy đã rời Vĩnh Long năm 1956 và năm 1957 thầy đã là Hiệu Trưởng trường Pétrus Ký.

Vào Truyện:

*Thầy Tư “Hón”

Người đàn bà luống tuổi vẫn còn giữ được phong cách nhanh nhẹn của một vị cao niên mà sức khỏe vẫn còn tốt, ánh mắt đã bớt long lanh, đã có phần “hom hem” nhưng vẫn không sút giảm nét linh động, nụ cười vẫn tươi tắn... đã không nhận ra tôi lúc tôi cúi đầu chào: “Thưa chị Tư...” Năm mươi năm rồi không gặp. Nửa thế kỷ! Không nhìn ra nhau cũng là lẽ đương nhiên. Tôi ước đoán ít nhứt chị cũng hơn tôi mười tuổi. Mà lúc đó tôi đã tròm trèm “thất thập cổ lai hi”!
-Lộc-Nguyễn Trãi đây mà chị Tư!
Người đàn bà trọng tuổi lộ vẻ bối rối không bắt được mạch hoài niệm. Cũng dễ hiểu. Làm sao chị còn nhớ được cậu bé con non choẹt chưa bể tiếng, lớp đệ nhứt niên bậc Thành Chung của Collège de Vinhlong, đã cất tiếng hát thảnh thót: “Chim kêu não nùng trên non bao la...” trong vở kịch dã sử ‘Hận Nam Quan’, do chính Thầy Tư Hón, người chồng lỗi lạc của chị biên soạn năm mươi ba năm về trước? Làm sao chị còn nhớ nổi chàng thiếu niên bắt đầu bể tiếng, đã hùng hồn, tha thiết trỗi giọng rền vang trong nhạc cảnh “Khúc hát sông Thao,” cũng do chính thầy Tư dàn dựng hai năm sau đó?
Văn Chinh, đứa em họ của tôi nhắc khéo: “Thưa cô, anh năm Lộc của em từ nước ngoài trở về thăm quê hương sau hai mươi ba năm biệt xứ, anh vẫn còn nhớ đường qua cầu Thiềng Đức và nhớ căn nhà của thầy cô, nên nhờ em đèo Honda đến tìm gặp ‘anh Tư Hón yêu dấu của mình.’ Anh Lộc đã từng là ‘kép chánh của trường Cao Tiểu Vĩnh Long’ suốt bốn niên khóa, và là ‘đệ tử ruột của thầy Tư’...”
Người đàn bà tuổi đã xế chiều, nhan sắc vẫn còn phảng phất nét kiều diễm vẫn chưa đánh thức được hồi ức, mời chúng tôi ngồi đợi trên bộ salon gỗ cổ kính bằng gõ đỏ...
Tôi nghẹn lời, ứa nước mắt ôm chằm lấy người đàn ông già yếu đang được “chị Tư” dìu từ trong buồng bước ra chậm rãi từng bước một, mà tôi chỉ còn nhìn ra được nụ cười thoảng nhẹ trên môi, tóc đã thưa thớt gần hói trọc, mắt đã thờ thẫn nhìn lơ đãng, nhưng nét cường tráng một thời vẫn còn ẩn hiện sau bộ đồ ngủ.
-Anh Tư! Em đây! Lộc-Nguyễn Trải, Lộc-Lê Lai, Lộc-Ngô Quyền đây, anh Tư!
Người đàn ông già nua vẫn không chút xao động. Ký ức người đã rong chơi xa rồi! Anh Tư “Hón” yêu dấu muôn thuở của tôi, người thầy khả kính luôn luôn cận kề học trò mình ở nhiều thế hệ mà tôi và các bạn đồng liêu, niên khóa đầu tiên của Collège de Vinhlong (1949-1950) đã được may mắn thụ huấn, anh Tư (biệt hiệu “Hón”, vì thuở còn học trường Taberd có tính hay phá phách, nên các sư huynh gán cho biệt hiệu là “Diable Hun”), anh Tư Hón thần tượng thuở niên thiếu của tôi đã hoàn toàn lạc thực vì chứng bệnh Alzheimer...
Bốn bức tường của căn nhà mà năm mươi năm qua bạn bè và tôi không có dịp bước đến vui họp đoàn với gia đình thầy cô (đúng hơn, gia đình anh chị Tư: Thầy Tư yêu cầu và chỉ cho phép nhóm văn nghệ lớp tôi gọi thầy cô bằng “anh chị” cho thân mật), treo đầy ảnh sinh hoạt văn nghệ, thể thao của trường, sưốt thời gian anh Tư phục vụ.
Tôi huyên thuyên nhắc nhở kỷ niệm, kể cả kỷ niệm đau thương, lần chỉ có mình tôi có mặt khi anh chị mất đứa con trai thứ hai. Chị Tư chăm chú nghe, khi nhớ khi không. Lúc tôi hỏi thăm Tùng, đứa con trai đầu lòng của anh chị, cả một vùng kỷ niệm như chợt hồi sinh với chị Tư. Còn anh Tư thì tuyệt nhiên vẫn lơ lửng. Nhưng khi tôi vói tay cầm cây mandoline “khẩy” bản “Tuổi Thơ”, mắt anh hình như có ngấn lệ. Và khi tôi đánh guitare bản “Thu Quyến Rũ”, đôi mắt lạc thần đó dường như có dấu hiệu tập trung và đôi môi anh hình như mấp máy... Nước mắt tôi thực sự tuôn trào...
Hai năm đã trôi qua, từ lúc tôi gặp lại anh chị Tư Hón. Đầu óc tôi chật cứng hoài niệm thân thương về ngôi trường thuở mới lớn, biết mơ mộng, biết tương tư, biết vỡ mộng, thuở mới chập chửng bước lên sân khấu học trò và...vướng vào nghiệp chướng văn nghệ.
Cơ duyên nào đưa đẩy tôi gặp được Thầy Tư Hón? Tôi nghĩ phần lớn có lẽ vì thuở còn lỏi tì (lớp tư, lớp ba), các thầy đã “khám phá” chất văn nghệ nơi tôi. Suốt ba năm tản cư vì chiến cuộc, tôi và thằng em út tôi (Kiệt Tấn sau nầy) đã ca múa “Mừng Xuân”, “Mắng Lê Tắc” vân vân để vận động đồng bào nuôi kháng chiến quân chống thực dân Pháp. “Mầm non văn nghệ” nầy được quí thầy lớp nhì, lớp nhứt nuôi dưỡng trong các kỳ văn nghệ phát thưởng cuối năm.
Rời Bạc Liêu lên Vĩnh Long học, lúc mới vào lớp 1 ère anneé, trong giờ huấn luyện thể dục, tôi vô ý đánh rơi trên sân vận động bài thơ học trò và thầy Tư tình cờ lượm được: Đời tôi là cả một bài thơ, Cả một bài thơ rũ bụi mờ, Cả một bài thơ không đầy ý, Là đời nghệ sĩ sống vì mơ...
Thêm vào đó, không rõ ngẫu nhiên hay tiền định, hai nơi tôi cư trú ở Vĩnh Long, một bên kia, một bên nầy cầu Lộ đều gần rạp hát. Hằng ngày máy phóng thanh cứ ra rả hết cải lương tới “nhạc cải cách” (tân nhạc).
Con đường Krautheimer (sau là Võ Tánh), trước rạp hát Lạc Thanh thường dẫn bước tôi tới góc đường Châu văn Tiếp, cạnh cầu Bà Điều, để tôi đứng lặng yên cho tiếng dương cầm của chị Bé từ một biệt thự réo rắt ru hồn mình.
Cũng trên con đường Võ Tánh nhiều sắc thái văn nghệ nầy, hai hình ảnh tuyệt đẹp vẫn còn hiện rõ nét trong ký ức tôi: chàng thanh niên trắng trẻo đẹp trai, gầy gầy, dõng dõng cao, dáng điệu rất thư sinh trong bộ bà ba trắng, thong thả đếm bước, tên Thế (hình như có họ hàng với G.S. Nguyễn văn Trường) và Xuân Lan, cùng lớp tôi, đẹp như tranh, đài các, kiêu sa nhưng vẫn pha lẫn với e dè, thẹn thùng, bẽn lẽn, thướt tha tung tà áo trắng phất phơ trong nắng sớm... Xuân Lan sau nầy có thời là Dân biểu đệ I Cộng Hòa, là thần tượng yêu đương... “Cao nguyên ngực, sóng trùng dương mắt biếc” của cố thi sĩ Tạ Ký, qua tập thơ “Sầu Ở Lại.”
Nghiệp chướng văn nghệ... cho tới nay tôi vẫn còn đa mang! Tôi thường ca đùa với hai đứa bạn cùng lứa, một thời, khi đã ông ông mụ mụ rồi có dịp “mần” văn nghệ chung: “bạn bè mình còn có ba thằng. Đứa đi (Đào Khánh Thọ), đứa ở (Lâm Võ Huỳnh), đứa đang tật nguyền (LTL, tiếp tục lãnh thẹo văn nghệ dài dài...)”.
Điểm trớ trêu của số phận: Đ.K.T. cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) “chăm sóc” Hội AHCHSTống Phước Hiệp (Vĩnh Long). Còn tôi, cựu học sinh Collège de Vinhlong lại “chăm lo” Hội AHCHSTHMT (Mỹ Tho)...

**Thầy Nguyễn Văn Kính

Đêm nay tình cờ xem cuốn video do anh Đ.K.T gởi tặng và chăm chú theo dõi câu chuyện thầy trò Tống Phước Hiệp trao đổi, cũng như đọc qua Đặc San của Hội AHCHSTPH, tôi thấy cả một vùng hoài niệm xanh về ngôi trường thân yêu nói riêng và tỉnh Vĩnh Long hiền hòa nói chung được khơi động dậy. Và thấy cần góp ý kiến bổ túc, bởi vì anh Hội trưởng có đề cập tới ông Nguyễn văn Kính, người thầy mà hầu hết học sinh tỉnh Vĩnh Long, nếu có dịp tiếp xúc đều hết lòng mến mộ và kính phục.
Thầy Nguyễn văn Kính không những là một ông thầy đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh tài danh mà còn có công đầu trong việc phát triển giáo dục bậc trung học tại tỉnh nhà. Thầy còn là một tay đánh quần vợt xuất sắc, với các cú “Xì- mách” (smash) ác liệt và độc đáo. Ngoài công việc của một nhà mô phạm, thầy còn khuyến khích và tham dự các sinh hoạt xã hội và văn hóa trong tỉnh, nên được dân chúng quí trọng như một Nhân Sĩ.
Sau khi ráo riết vận động thân hào, nhân sĩ, các cấp chính quyền từ địa phương tới trung ương, thầy Kính thành công trong việc khai sinh ngôi trường trung học công lập thứ năm cho miến Nam Việt Nam tại tỉnh Vĩnh Long (sau các trường Chasseloup-Laubat, Collège de Mytho, Lyceé Pétrus Ký, Collège de Cantho, Collège Gialong), mang tên Collège de Vinhlong, khai giảng tháng 10 năm 1949 với hai lớp 1 ère anneé A (Nữ) và 1 ère anneé B (Nam), mỗi lớp 55 học sinh, sau kỳ thi tuyển qui tụ học sinh các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc và Trà Vinh.
Trường sử dụng một công ốc vốn là nhà Dưỡng Lão, đối diện với cổng chính dẫn vào Thánh Thất Cao Đài. Con đường trước trường lúc đó vẫn còn trải đá xanh lởm chởm. Từ trong trường nhìn ra, bên phải là Miễu Bà Cố với Cây Da Cửa Hữu (di tích lịch sử), bên trái là Tiểu Chủng Viện (Petit Séminaire) Công giáo.
Năm 1951 và 1952, trường phát triển, cất thêm hai dãy phòng, một song song với Petit Séminaire, một song song với phía sau nhà Dưỡng Lão. Lúc bấy giờ trường có ba cấp lớp, mỗi cấp hai lớp. Trường đổi tên Việt: Trường Cao Đẳng Tiểu Học Vĩnh Long, gọi tắc là trường Cao Tiểu Vĩnh Long.
Năm 1953, với 4 cấp lớp, mỗi cấp 2 lớp, lần đầu tiên trường gởi học sinh 2 lớp 4 è anneé A và B sang Mỹ Tho dự thi lấy bằng “Diplôme”. Kết quả rất khả quan.
Năm 1954, trường đổi tên mới: Trung học Nguyễn Thông. Sau đó Collège de Vinhlong nguyên thủy dời đi địa điểm mới với tên mới: Trung Học Tống Phước Hiệp. Trụ sở cũ được cải biến thành trường Trung học Bán Công Nguyễn Thông.
Một vài nét sinh hoạt của Collège de Vinhlong được tôi ghi lại trong bài “Gối Rơm”, viết năm 1991, kèm theo bài viết nầy.
Kỷ niệm học trò nói bao giờ cho hết. Tôi chỉ xin nêu ra đây vài sự việc mà tôi nghĩ có thể còn trong trí nhớ của một số học sinh thời đó:
Từ năm 1949 tới năm 1953, Ban Giám Đốc gồm có các thầy: Nguyễn văn Kính (Hiệu trưởng), Nguyễn văn Kỷ Mậu (Tổng Giám thị). Ban Giảng Huấn gồm các thầy cô: Phạm văn Thàn (Toán, Lý Hóa), Nguyễn thị Sương (Pháp và Anh văn), Dương văn Tường, bút hiệu Dương Bích Thủy (Việt văn), Phạm văn Tệt (Pháp văn), Thầy Bảo (Vạn vật, Hán văn), Lê văn Sĩ (Hội họa), Nguyễn văn Tư, tự Hón (Thể dục và Âm nhạc), thầy Bá (Việt văn), Phạm hữu Thiết (Pháp văn và Sử Địa), thầy Khiêm (Toán, Lý Hóa), Vũ đức Chang (Toán và Anh văn), thầy Trương (Vạn vật và Sử Địa), thầy Chánh (Pháp văn), thầy Sến (Pháp văn), cô Hưng (Nữ công Gia chánh), vân vân. Ban Giám Thị các thầy Mẫn, Còn...
Năm 1952, hai vị Thanh tra Tiểu học, thầy Ân và thầy Quế cùng tài xế bị Việt Minh phục kích giựt mìn sát hại. Cả tỉnh xôn xao, học sinh toàn tỉnh, tiểu và trung học mặc toàn màu tang trắng tham dự lễ tống táng, đã diễn hành trên các đường phố lớn dưới cơn mưa tầm tã.
Cũng năm đó, thầy Kính mất một đứa con trai, té lầu tử nạn. Cả tỉnh một lần nữa, xôn xao, nhứt là giới học đường. Học sinh trung tiểu học cũng diễn hành đưa đám con thầy Kính. Tất cả đều rất xúc động.
Năm 1953, do lệnh tổng động viên, một số các thầy phải lên đường nhập ngũ. Cha sở Joseph Trần văn Thiện (sau này là Cha Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt, Đức Cha Tổng Giám Mục địa phận Mỹ Tho), lúc bấy giờ là Giám đốc Tiểu Chủng Viện cùng một số linh mục được cử sang thay thế các thầy, giảng dạy các môn Toán, Lý Hóa, Pháp văn...
Cũng năm nầy và nhiều năm sau nữa, đã nổ ra một loạt “xì căng đan” mà các nhân vật liên lụy đều có tên bắt đầu bằng chữ T. Thầy Tư “Hón” cũng chữ T, hoàn toàn trắng trong, tác phong đạo đức vẫn gương mẫu.
Điểm đáng nêu ra nơi đây là ở thời điểm đó, dù tình thầy trò còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo, ban Giám Đốc và tuyệt đại đa số các thầy cô đều rất rộng lượng, nhân ái đối với đám môn sinh “quỷ phá nhà chay” chúng tôi!


***Các Sinh Hoạt Khác:

@Thể Thao

Sân vận động (sau nầy được cải biến thành Tòa Hành Chánh và Tiểu Khu Vĩnh Long) là nơi lúc nào cũng đông nghẹt học sinh các trường C.T.V.L., tư thục Long Hồ và Nguyễn Trường Tộ, các nam nữ học sinh tiểu học trong tỉnh. Chạy đua nước rút (sprint), đường trường (marathon), tiếp sức (relais), nhảy cao, nhảy xa, leo dây, barre fixe, anneaux, parallèles, đá banh, bóng chuyền thể dục đồng diện (mouvements d’ensemble), diễn hành với đồng phục đặc biệt (défilé folklorique) là những bộ môn phổ thông nhứt. Một đội bóng chuyền, một đội đá banh của trường Cao Tiểu Vĩnh Long được thành lập, dưới sự huấn luyện và chỉ đạo của thầy Tư Hón, vừa là giáo sư Thể dục vừa là “ông bầu” văn nghệ của trường.
Năm 1951, trường Cao Tiểu Vĩnh Long gởi phái đoàn học sinh tham dự Đại Hội Thanh Niên và Thể Thao toàn quốc, tổ chức tại Sài Gòn. Trường về hạng nhứt về diễn hành, hạng nhì về chạy đua tiếp sức. Đa số các thành viên trong phái đoàn đều là thành phần văn nghệ nòng cốt của trường.
Trường cũng đưa các đội bóng chuyền, bóng đá đi đấu giao hữu với các đội bạn ở Mỹ Tho, Sa Đéc, Cần Thơ, Trà Vinh. Cũng như đã đón tiếp các đội bạn này ở tỉnh nhà. Và hầu như lần nào đội của trường cũng thắng.
Một số không ít các “đệ tử” của thầy Tư Hón nối nghiệp thầy, trong số có chị Liễu, cùng lớp với tôi, nữ huấn luyện viên Thể dục đầu tiên của tỉnh nhà, xuất thân từ trường Cao Tiểu Vĩnh Long.
Một môn đệ khác của thầy Tư, Võ văn Hải, hỗn danh “Hải cử tạ” đã nhiều lần đoạt giải Lực Sĩ Đẹp, thập niên 60. Hai môn đệ khác cũng nổi tiếng “đô con” trong giới thể dục thẩm mỹ: Trang Sĩ Tấn và Hồ Văn Hòa. Tấn có thời “mần” rất “bự” trong ngành phú lít và lính kín. Hòa, nguyên Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 35 Biệt Động Quân, vừa đánh đấm xuất sắc, vừa văn nghệ văn gừng một cây xanh dờn, đã tạo được thành tích đáng kể trên sân khấu học trò với bản đơn ca “Bánh Xe Lãng Tử” năm 1956.

@Văn Nghệ

Thầy Hiệu trưởng Nguyễn văn Kính, còn được thuộc cấp và học sinh thân mật gọi là Mơ xừ Te (thanh tra liên tỉnh: inspecteur interprovincial), ông “Đìa” (Giám đốc trường Directeur du Collège)) trực tiếp và thường xuyên yểm trợ, khuyến khích, đốc thúc sinh hoạt văn nghệ của trường, với sự hỗ trợ tối đa của thầy Tổng giám thị Nguyễn văn Kỷ Mậu. Thầy Tư Hón trực tiếp điều khiển sinh hoạt nầy với sự trợ lực tận tình của Nhóm Văn Nghệ Hướng Dẫn gồm các thầy cô Nguyễn thị Sương, Dương văn Tường, v...v...Sự kiện nầy tạo sự đôi co giữa một vị giáo sư “công thần chủ nghĩa” với Nhóm Văn Nghệ Hướng Dẫn. Thầy T.G.T. Kỷ Mậu “thố lộ” với tôi, trong một buổi họp hội đồng giáo sư bàn cãi trao phần thưởng danh dự toàn trường cho một học sinh “nòng cốt văn nghệ,” thầy T. đã “xỉa xói” “Nhóm V.N.H.D.: “Chỉ có mấy ông bà rung chuông (ám chỉ thầy Kỷ Mậu), kéo màn (ám chỉ thầy Tư Hón), vẽ mặt (ám chỉ cô Nguyễn thị Sương) mới có triển vọng thăng tiến nghề nghiệp (!). Thầy Kính nghiêm khắc cảnh cáo và yêu cầu thầy T. rút lời phát ngôn “bừa bãi”, cùng xin lỗi các đồng nghiệp.
Nhóm V.N.H.D. được sự cộng tác đắc lực của Ban Nhạc “Ly Tao”, gồm có thầy Nh. bên Tiểu học (accordéon), quí thầy công chức và quân nhân: Thầy Ba Ca-Đát (cadastre) guitare, thầy Lợi-Sở Bách Phần (mandoline, banjo), thầy Duy, thầy Vạng (violons), vân vân. Lúc ấy “batterie” chưa thông dụng nên phần nhịp điệu (rythme) được biểu diễn bằng cách “lắc” maracass “gõ” muỗng, “đánh bát” (basse) trên mandoline. banjo và bằng những ắc-co (accords) “giựt” xập xình trên guitare!
Ban Văn Nghệ học trò thời đó gồm các khuôn mặt nòng cốt quen thuộc với phụ huynh học sinh: L.T.L.-Nguyễn Trải, Võ Trung Thứ-Lê Lợi, Nguyễn văn Thục-cha già Phi Khanh, Lê Hoàng Tông-Ba Tàu Tông, Nguyễn văn Giác-Tướng Chệt, Võ ngọc Các “dùi đục văng tục”, Nguyễn thế Hưởng, Nguyễn Phát Phước, Võ minh Kiểng (3 danh hài), Nguyễn Trưởng Nhi-Trầu Cau. Lê thị Lý Lan Anh-“Le Médecin malgrélui”, Lê thị Nguyệt Yến-Liễu Nhi, Nguyễn thị Hảo- Huyền Trân, Võ kim Ngọc Hà-Chế Võ, Duyên-Chế Mân, Hồng Cúc-giọng oanh vàng, thinh sắc vẹn toàn, Phan Nguyệt Vân-“Tuổi Thơ”, Lê thị Nguyệt Ánh-chim sơn ca, Nga-cung phi, Nguyễn Nguyệt Ánh (vợ K.T. sau nầy) trong đoàn vũ nón, lụa và vũ Hận Đồ Bàn, vân vân.
Phần giải trí lành mạnh do thầy Mai bên Tiểu học phụ trách: chiếu bóng cho học sinh toàn tỉnh trong một phòng hội nằm trong khuôn viên trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ. Thuở đó, Tiểu học và Trung học hợp thành một thực thể giáo dục thuần nhất dưới quyền điều khiển của thầy Nguyễn văn Kính.
Trong số các nữ sinh văn nghệ C.T.V.L., tới nay tôi còn giữ một hình ảnh rất cao đẹp, thương tâm, vì đó là một mối tình “câm nín” (Thì thôi người cứ yên tâm nhé, Tôi chẳng bao giờ dám nói đâu) về một người nữ “thinh sắc vẹn toàn, giọng oanh vàng”: Hồng Cúc. Để “tỏ tình” tôi chỉ dám chép thơ Nguyễn Bính gởi cho nàng!
Rồi đây, đi lại trên “con đường xưa em đi” quen thuộc khi xưa ở Vĩnh Long tôi chỉ còn biết thì thầm: Chỉ một lần anh gọi tên em, Một lần môi say rượu đêm rằm, Anh nằm trong khối sầu tưởng nhớ, Phố cũ hè xưa đâu dấu chân? “Xin còn gọi tên nhau” cho tới nay vẫn còn là ca khúc tôi “thấm” nhứt!

@Học Hành và Chọc Phá

Hai học sinh “già” xuất sắc thuở đó, chuyên viên học nhảy... lớp là hai anh Nguyễn văn Vẹn và Lương ngọc Ẩn. Cả hai sau đó trở thành giáo sư Toán và Pháp văn của trường Nguyễn Thông-Tống Phước Hiệp.
Mức độ chăm sóc, khích lệ học sinh được thể hiện qua “dấu ấn” đặc biệt của “ông Đìa”. Mỗi cuối tháng, thầy N.V. Kính, với sự tháp tùng của các thầy cô đến từng lớp một đọc bảng xếp hạng. các học sinh lần lượt xếp hàng theo thứ tự được xướng danh. Sụt hạng hay lên hạng đều được “ông Đìa” hỏi thăm sức khỏe. Học sinh đương sự phải lập lại lời thầy nhận xét: Tôi hạng thứ... Tôi đã đứng hạng thứ... Vậy, tôi lên được mấy hạng... (hoặc) tôi sụt xuống mấy hạng... Lên: ưu hạng (c’est excellent!). Xuống: Thảm hại quá cở (c’est énorme!). Đội sổ: Vậy, tôi cầm đèn đỏ (Donc, je tiens la lanterne rouge!)”. Trò Trọng (lớp tôi) và trò Kiểng (lớp kế) thường là mục tiêu “xạ kích” của thầy Kính. Nhờ đó mà hai “nạn nhân” luôn luôn cố gắng lên hạng!
Một trong những đặc điểm của lớp tôi là châm chọc: sửa tên, ghép tên, kèm danh hiệu cho bạn bè. Chẳng hạn, Trần văn Giêng thành T.V. Điên, Lê an Lòng thành Lê ăn..., Bùi thế Xương thành Bò té Sông, Trần Bá Xử thành Hà Bá Xử, “Các-Thứ-Lòng-Tông-Giáo-Giác”, “Sáu” Trọng, Hưởng-dầu thơm, Phong-chủ Mạnh, Huỳnh quang Nhựt-cá thòi lòi, Nhi-hột mít, Yến-cá bống mú, Ánh-chim chìa vôi (thay vì “con chim sơn ca” do thầy Tư khen tặng giới thiệu trên sân khấu), vân vân.

****Còn Lại Gì...Sáng Mai Đây?..

Lần về thăm lại Vĩnh Long, tháng 3 năm 2003, tôi đã đứng tần ngần rất lâu trước trường Collège de Vinhlong cũ: cửa vào Thánh Thất Cao Đài, Tiểu Chủng Viện vẫn còn, dù chỉ là cái xác không hồn. Miễu Bà Cố vẫn còn đấy, nhưng khung cảnh trang nghiêm, không khí huyền bí đã tan loãng. Cây Da Cửa Hữu có vẻ tiều tụy, mà hẳn nét mầu nhiệm và lôi cuốn thơ mộng, từ muôn thuở vẫn là chứng nhân cho bao cảnh vật đổi sao dời, cho những “cuộc tình không tới”. Cây da trước miễu ai biểu cây da tàn, Bao nhiêu lá rụng anh thương nàng bấy nhiêu. Thương nàng bấy nhiêu hay thương bấy nhiêu nàng?
Đất Vĩnh Long là đất của mỹ nữ, hoa khôi. Xuân Hương, Xuân Đào, Liệt, Oanh và một số người đẹp khác đã về với tro bụi. Những Xuân Lan, những Hồng Cúc, những Hảo-Huyền Trân, những Lucie Minh, những Pauline Nho và biết bao mỹ nhân sắc nước hương trời khác giờ xiêu lạc hà phương? Sóng xô một buổi tan khuê các, Khói dậy vài phen nát liễu bồ...
Chiều hôm đó, sau khi từ giã anh chị Tư Hón trong bịn rịn nắm nuối, một bữa cơm thân mật tại nhà Văn Chinh, gần trường Thủ Khoa Huân cũ, cho tôi cơ hội gặp lại một số cựu học sinh C.T.V.L.-N.T.-T.P.H. Có anh, có chị đã mất liên lạc với tôi từ lúc tôi rời trường năm 1953. trong bàn tiệc, Ban Văn Nghệ học trò khi xưa giờ chỉ còn Trưởng Nhi, Lê thị Lý, Nga... Vắng mặt: Nguyệt Ánh-Sơn Ca, hoàn toàn rơi vào cõi huyễn mộng tâm thần. Danh hài Nguyễn thế Hưởng nghe đâu cũng “lơ lửng” như thầy Tư Hón! Tất cả đều tan tác. Tôi nhắm mắt hồi tưởng.. Hỡi ơi một thoáng dư hương cũ, Bỗng chập chùng xô động tháng ngày!
Lê ăn Lồ…, Bò té Sông, Giác-Tướng Chệt, Sáu Trọng, hiện còn sống ở Việt Nam. Giác Chệt lái xe hơi phóng như điên, hơn cả tài xế taxi Sài Gòn. Ba Tàu Tông, Thứ-Lê Lợi, Thục-Phi Khanh, Hà Bá Xử, Bảy Bùi, Phong-Chủ Mạnh, Thoại-tiệm vàng, Nhựt-thòi lòi, hiện định cư ở California.
Đa số đồng liêu của tôi chọn hai nghề: gõ đầu trẻ và cắc bùm! Những khóa kế tiếp hình như cũng vậy. Ảnh hưởng thời cuộc. Chưa nghe nói có ai đi tu. Theo V.C. thì...có!
Về viết lách, Collège de Vinh Long có hai cây bút đã thành danh: Hồ Trường An (Nguyễn Viết Quâng) và Kiệt Tấn (Lê tấn Kiệt). Viết lai rai, có Lê tấn Lộc… Trường Nguyễn Thông và Tống Phước Hiệp có Viễn Du, Hứa Hoành (đã thành danh và đã qua đời), Võ Trung Hiền (Cao Vỵ Khanh), Võ Minh Thế, Phan Các Chiêu Hằng, Khai Nguyên v.v… Có thể còn nhiều cựu học sinh khác Viễn Du, nữa cầm bút mà tôi chưa được rõ.
Trong nhóm hướng dẫn và bảo trợ văn nghệ học sinh, các thầy N.V. Kính, N.V. Kỷ Mậu, D.V. Tường đã vĩnh viễn ra đi. Cô Nguyễn thị Sương, trước năm 1975 tôi có gặp lại ở trường Gia Long. Sau đó cô sang Pháp đoàn tụ với G.S. Trần văn Khê. Nhưng rồi không rõ vì lý do gì cô trở về V.N. sống với Quang Minh, em của Trần quang Hải, và cô con gái út tại làng Đại Học Thủ Đức cũ. Tới thăm cô, tôi nhận ra ngay người thiếu phụ son sắc, kiều diễm, có học thức, cách đây hơn năm mươi năm đã chăm sóc, hướng dẫn và...”trang điểm” (hóa trang) cho tôi lúc tôi trình diễn văn nghệ phát thưởng cuối năm học tại Miễu Quốc Công, dù cô nay đã 83 tuổi đời...
Một đoạn thơ của Phan Các Chiêu Hằng gây cho tôi nhiều xao xuyến, cơ hồ như nghe chính Phan Nguyệt Vân “tâm sự”: Thôi chào giấc mộng ngày xanh, Vầng trăng buộc cũng hóa thành hư không, Hỡi người xưa chốn nghìn trùng, Còn lên dốc núi bâng khuâng dạo đàn...
Khó khăn lắm tôi mới có thể dừng bút. Chuyện Collège de Vinhlong viết đến bao giờ mới hết, nhứt là Vĩnh Long ngày nay, tuy vẫn còn là “đất lành chim đậu” nhưng giờ đây thì “chim CÚ đậu” (chữ của Đ.K.T.)!
Không hẹn mà gặp, anh Hội trưởng Đ.K.T. và tôi đã vài phen “bước trùng nhau một ngả đường”: anh, Hiệu trưởng trường T.P.H., thối thân của Collège de Vinhlong; tôi, một trong những cựu học sinh đầu tiên của trường. Anh và tôi cũng đã “bước trùng nhau” hai lần khác: hai đứa là cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho và đều đã có lần “trông coi” một khu Học Chánh. Đó là nguyên nhân “thầm kín”, riêng tư thôi thúc tôi cầm bút ghi lại một số chuyện vui buồn về trường Trung Học T.P.H.
Bên ngoài trời đang mưa, những giọt mưa thu đầu mùa, lành lạnh, ray rứt, tức tưởi. Buông bút, nâng ly, tôi xin nhắn gởi người bạn phương xa:

Tiếng mưa có não lòng tri kỷ
Thì xin một chén cũng là say
Bước khẽ cho mùa không trở giấc
Nâng niu cánh mộng kẻo mù bay..


Thôn trang Rêu Phong, Xứ Tuyết, Chớm Thu 2004

Lê Tấn Lộc


Monday, July 14, 2008

Nghĩ mệt nghỉ trong mùa hè


“Tự do!
Nhân danh ngươi thiên hạ gây ra biết bao tội ác”.
( Liberté!
Que de crimes l’on commet en ton nom!)

Dẫn nhập:

Quyết định lôi bài “phù phiếm luận” thứ 3 - viết tay- đã rũ bụi mờ từ ngăn kéo ra gõ lại, tôi chỉ mong manh hy vọng bài viết nầy đến được với người đọc. Bởi lẽ chủ đề có vẻ “lạc lỏng”, quá thời điểm trước cao trào “du lịch-áp phe” của một số khá đông người Việt xa xứ -kể cả cựu Phó Tổng Thống VNCH, Nguyễn Cao Kỳ…Nhông- trước đây xin định cư ở vùng đất tự do với tư cách “tị nạn cộng sản”.

Dù vậy, cũng xin mời quí độc giả đi ngược thời gian, sống lại không khi sôi sục mùa hè 1992, với một số quá đông chính “khứa” đột ngột xuất hiện, đăng đàn ồn ào “quậy” tối đa cho lá bài cũ rích “hoà hợp hoà giải dân tộc”, một lá bài đã khiến phe quốc gia “chết chùm” dưới tay cộng sản…Các chính khứa nầy vẫn chưa tởn chiêu bài phỉnh gạt siêu đẳng của Bắc Bộ Phủ mà chính họ đã, hoặc vô tình hoặc cố ý nối giáo cho giặc thôn tín miền Nam. Để rồi chính họ đã phải vượt biên tìm đất sống! Thế mà, ngựa quen đường cũ, chứng nào tật nấy: lúc nào họ cũng chực chờ “xin làm em nuôi” của đại ca “kách mệnh rải phóng”!

Bài viết cách đây 16 năm của tôi không thấy được ánh sáng mặt trời vì anh chủ báo nhà tôi sợ “đụng chạm” tới ông bạn “đo đỏ” Té-U của anh đang chí choé cổ võ cho lá bài đã một thời đốt cháy thành phần thứ ba -tiếng bình dân gọi là thành phần “chàng hảng”- của các đồng chí “hồng hồng” của ông ta (“chuyên viên” kách-mệnh-miệng), trước 75 đã từng “can cường” an toàn nơi hậu phương, hùng hỗ “dấn thân”(sic!) đả phá một chính thể mà các bạn ông và nhiều anh em khác, bạn tôi, đang xả thân ngoài tiền tuyến để bảo vệ thể chế tự do đó… (xin nhớ lại “Nghĩ trong một xã hội tan rã” của Thế Uyên, xuất bản trước 1975)… Để rồi sau đó cả bọn phải cụp đuôi leo lẻo chối bỏ lý tưởng chính trị cao siêu “đứng trên mọi lập trường” do chính họ chủ xướng, thậm chí còn tố cáo lẫn nhau để lập công, ngõ hầu dễ bề liếm tay những ông chủ mới, xin… chứng chỉ hạnh kiểm tốt với Bắc Bộ Phủ!

Người viết đoán trước sẽ làm phật lòng một số văn và thân hữu khi quyết định cho bài viết xa xưa nầy hồi sinh, nhưng chỉ còn biết tự nhủ mình ở trong thế chẳng đặng đừng: Tức nước vỡ bờ!..
Thôi thì cũng chỉ là…phù phiếm luận!




-LTL-
(Xứ Tuyết, mùa hè 2008)
***

Nghĩ mệt nghỉ trong mùa hè



Gần hai năm nay, trong tình trạng suy thoái toàn cầu, với nền kinh tế càng lúc càng xuống dốc trầm trọng, có một loại bi-zi-nết, chằng những liuôn luôn đứng vững mà càng ngày càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ: ngành sản xuất mũ trong cộng đồng người Việt hài ngoại.
Lý do thành công tương đối dễ dãi của ngành nghề nầy cũng dễ hiểu: Nhân công không cần khả năng chuyên môn nhiều nên lương bổng không thành vấn đề. nguyên liệu cũng không khan hiếm nên giá thành không quá cao. Trở ngại đáng kể nhất trong nghề nầy là không thể làm ăn cá thể và thầy nhiều hơn thợ. Thầy chỉ tốn nước miếng -nhiên liệu dồi dào, bất tận- và mỏi miệng. Thợ, tốn bút mực, giấy và…mỏi tay!
Đặc điểm của kỹ nghệ nắn mũ là nhà sản xuất giao hàng tận nơi -thường thì đội mũ lên đầu khách hàng luôn- hoàn toàn miễn phí; không cần biết khách có đồng ý nhận hay có vừa lòng về món hàng không: Một loại làm ăn mà chủ không thâu tiền, khách khỏi chi tiền thì…đôi bên cùng có lợi chăng?
Không! Bởi mấy cái mũ tặng phờ-ri khiến người nhận chẳng những khó chịi mà đôi khi còn bị u đầu vỡ trán, thân bại danh liệt vì…có thể bị «bề hội đồng». Và dĩ nhiên các «nạn nhân» sẽ trả đũa :
Bên cho cả quyết –và lương tâm rất yên ổn- bên bị cho phải lãnh cái mũ làm sẵn như các giá phải trả cho lối lý luận «chàng hảng», tiền hậu bất nhất của mình, thể hiện qua lượng nước bọt phun ra khi tuyên bố vun vít và lượng bút mực bôi đen hàng tấn giấy in thành sách báo.
Bên bị cho phản pháo bên cho «chụp» mũ mình, có thái độ cả vú lấp miệng em, ỷ chúng hiếp cô bằng những quan đìểm đã lỗi thời, quá bảo thủ, câu nệ, cố chấp…, phản động (réactionnaire), theo nghĩa chống tiến bộ.
Trong thế trận loạn mũ nầy, bên nào cũng tự cho mình nặng lòng với quê hương, dân tộc, đầy thiện chí và thiện ý bảo vệ tiền đồ tổ quốc. Bên thì quả quyết mình nói tiếng nói chính thống của toàn bộ kiều bào đã xa lìa quê cha đất tổ vì cộng sản. Bên lại khẳng định mình phát ngôn trung thực ước vọng thâm sâu của đa số thầm lặng trong tập thể ly hương. Có điều, trong cơn hăng say đấu trí, cả hai bên đều quên mình đều là di dân định cư nơi những miền đất lạ, nghìn trùng xa cách với quê mẹ vẫn còn nằm gọn trong mẻ lưới búa liềm cộng sản, nơi đó người dân đói rách, cơ cực hầu như chẳng hề hay biết -do sự bưng bít của nhà đương cuộc- rằng đang có cuộc chiến nước-bọt-bút-mực giữa những anh chị em thừa cơm ấm áo, mà họ có dịp nhìn qua cung cách «áo gấm về làng» của đoàn Việt kiều du lịch.

Kẻ viết bài nầy tự nhận quê mùa, dốt nát, lại thêm ấu trĩ về chính trị. Nếu không, hắn đã không ngoan ngoản vào ngồi tù cộng sản, đã chẳng lặng lẽ biệt xứ sau khi ra khỏi vòng kẽm gai cải tạo để chợt khám phá mình ra nhà tù nhỏ để bước vào nhà tù lớn nhốt cả một dân tộc. Thế nhưng, đã trót sinh ra da vàng mũi tẹt, dù là dân ngu khu đen, hắn cũng xin mạo muội góp vài ý kiến để thỉnh ý quí tiên sinh cao kiến đang lâm trận và quyết cùng nhau ăn thua đủ, đồng thời nêu lên vài thắc mắc mong quí vị giải đáp.
Trước tiên, hắn xin dành phần nhận định ai đúng ai sai cho toàn thể người Việt lưu vong trên khắp thế giới. Hắn cũng xin miễn đề cẫp tới những tay trốn quân dịch hoặc lính kiểng lính ma, những tay đã trục lợi trong chiến tranh (hầu hết đã bỏ chạy trước ngày 30.4.75 ) và hiện nay thường to mồm nhất, đòi chiến đấu tới cùng với cộng sản, cũng hăng say nhất trong chiến dịch chụp mũ những ai không đồng quan điểm với mình. Cũng miễn nói tới những tên Việt Cộng chính hiệu con nai vàng, trá hình len lỏi vào các tập thể người Việt tị nạn để thực hiện công tác tuyên vận cho CSVN.
Điều kiện tiên quyết đặt xong, hắn xin ngỏ lời với quí vị bên chiến tuyến chống cộng, mà hắn vốn dành rất nhiều thiện cảm, bởi vì hắn cùng cảnh ngộ với họ: cửa nát nhà tan, gia đình ly tán, tủi nhục sống kiếp lưu đày, có thân nhân bè bạn phơi xác trên trận địa. bỏ mình nơi rừng sâu nước độc của các lò cải tạo, rã thây trong lòng biển cả qua những chuyến vượt biển tìm tự do, v.v…Hắn hiểu họ không thể nào chịu nổi những kẻ đã có thời cùng chiến tuyến với họ, đã cùng bỏ nước ra đi vì bạo quyền, nay lại trở cờ, lăm le trích máu ăn thề với bọn người đã cưỡng chiếm quê hương xứ sở họ bằng chiêu bài xoá bỏ hận thù, xoá bỏ ranh giới quốc cộng, xù bài làm lại từ đầu…Thoạt nhìn, tưởng giải pháp chi mới mẻ, nhưng ngó kỹ lại chẳng qua là lá bài cũ rích «hoà hợp hoà giải dân tộc» lừa bịp mà cộng sản và tay sai đã đem ra «câu» mấy tay nhẹ dạ đứng ra hô hào, cổ võ dân chúng, dối gạt dư luận thế giới để trói tay chân VNCH -được mô tả như bọn diều hâu háo chiến- đem tế thần cho lá cờ đỏ sao vàng qua trung gian của thầy cúng MTGPMN. Hắn cũng thông cảm cơn phẫn nộ của họ và nghĩ rằng phản ứng dữ dội của họ là hợp lý hợp tình.
Tuy nhiên hắn muốn hỏi nhóm chống cộng sát ván nầy vài điều:
-Quí vị có chủ trương chỉ duy nhứt dùng bạo lực để lật đổ chế độ cộng sản hay không? Giả thử câu trả lời là có và quí vị đã thành công trong công cuộc giải thoát đất nước khỏi gông cùm cộng sản, quí vị có tập trung những ai đã từng phục vụ dưới chế độ XHCNVN vào trại cải tạo, như CS đã làm không? Nếu có, quí vị có ý thức CSBV đã cai trị phần đất tự do trước đây của VNCH đã bao nhiêu chục năm rồi chưa? Ai sẽ phải bị đưa đi cải tạo cùng với đám tàn dư CS đây, nếu không là thân nhân của chúng ta đã dây mơ rễ má với chế độ đương thời? Và ai sẽ «thăm nuôi» đám tân cải tạo viên nầy? Cũng lại là thân nhân của thân nhân chúng ta còn kẹt lại ở VN, đúng không? Như vậy, chúng ta sẽ tái diễn cái màn nhà tù nhỏ trong nhà tù lớn? Đó phải chăng là giải pháp hoà bình vĩnh cửu cho VN? Hay lại chế độ nầy lật đổ chế độ khác, chế độ khác lại lật đổ chế độ khác nữa: một chuỗi cải tạo nối liền cải tạo? Cải tạo triền miên cho tới khi tuyệt giống luôn chăng?
-Quí vị có nghĩ chống cộng là phải nhắm mắt nhắm mũi chống, xây pháo đài kiên cố bảo toàn lực lượng, chặc đứt mọi liên lạc với những ai không đồng quan điểm chống cộng triệt để với mình, là không thức thời trước những chuyển biến mới mẻ trên thế giới, kiểu như con đà điểu vùi đầu trong đống cát trốn tránh sự thật, như con ngựa nghe hơi cọp, chúi đầu vào bụi cây phóng hai chân sau đá túi bụi mà không cần biết có đá trúng cọp hay trúng đồng loại chăng?
-Cho tới nay, CSVN vẫn còn bị cô lập vì họ cuồng tín, giáo điều, ngoan cố. Quí vị có nghĩ, với thái độ khép kín, vạch vòng rào chỉ đạo tư tưởng. nhằm «làm sạch» hàng ngũ chống cộng trong tập thể di dân, đẩy các thành phần «lừng khừng», «ba phải» mà quí vị cho là «đoàn tuyên vận» làm lợi cho CS ra khỏi vòng rào phòng thủ, quí vị sẽ dần dần tự cô lập chăng? Đó là chưa kể thái độ bài xích quá quắc của quí vị có thể xô hẳn họ về phía tuyến đối nghịch. Chúng ta đã chửi CS «độc quyền yêu nước», lẽ nào chúng ta lại muốn «độc quyền cứu nước» sao?
Rõ ràng những cuộc đấu khẩu, bút chiến trong tập thể ly hương được CS thứ thiệt vỗ tay khoái trá đốc xúi. Họ thừa dịp chửi quí vị «già nua, lẩm cẩm, sắt máu...»; đồng thời đóng dấu ấn «tiến bộ, yêu nước» trên cái mũ mà quí vị đã chụp lên đầu những người trước đây đã có thời là chiến hữu của quí vị (mà tới nay chưa chắc họ đã rời bỏ hàng ngũ tranh đấu cho tự do). Và cái dấu ấn đó là bản án tử hình cho những người đôi khi chỉ là nạn nhân của những tị hiềm nhỏ nhen, tranh chấp cá nhân, bởi họ quả thực bị kẹt giữa hai lằn đạn không lối thoát: Trở về với cộng đồng người Việt tị nạn thì bị xua đuổi như hủi, ngã theo CS thì cũng sẽ tiêu tùng sau khi bị chúng khai thác. Chụp mũ cho những ai không đồng chính kiến với mình -lắm lúc chỉ đơn giản vì mình không ưa họ thôi- vốn là một hiện tượng quá phổ quát hiện nay, một thứ monnaie courante!
Có bao giờ hai bên chụp và bị chụp nhận ra, trong trận chiến tung mũ nầy cộng sản mới thực sự là tay chủ động và trục lợi tối đa: mượn tay bên bị chụp đánh quí vị và mượn tay quí vị đập những người «lính đặc công tự nguyện» nầy (dưới cái nhìn của CS) để khỏi bận tâm thanh toán họ sau đó. Một viên đạn trúng hai con chim. Kết quả y như CS dự kiến: hàng ngũ chống cộng rối bời, phân hoá…Gà một chuồng bôi mặt đá nhau. Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi!
Để tạm kết phần sơ vấn, xin hỏi quí vị có bao giờ thấy phe CS chụp mũ nhau là «bọn quốc gia» chưa? Có bao giờ họ bôi phân trát trấu nhau kịch liệt như phía VNCH chưa?
*
Đến đây, hắn xin góp ý với phe tự coi là «đứng trên» mọi thù hằn dai dẳng giữa hai bên quốc-cộng. Đồng ý, oán thù nên cởi, không nên buộc. Thế nhưng xin hỏi quí ngài có thử «nhóng ý» CS xem họ đã sẵn sàng hạ bảng XHCN xuống chưa?
Tình thật, hắn không thể nào không nghĩ quí vị đang làm một việc hết sức ngộ nghĩnh và ngây thơ -có thể cũng hết sức«dễ thương»- của đám «đâm sau lưng chiến sĩ» trước đây, khi cuộc chiến đã tới hồi gay go đối với người lính cộng hoà đang khốn đốn vì tiềm năng chiến đấu sút giảm thê thảm (do đồng minh Hoa Kỳ đơn phương hạn chế tiếp vận vũ khí, chiến cụ, đạn dược…) trước hoả lực kinh khiếp của đội quân Bắc phương xâm lược (được đồng minh Liên Xô cùng các chư hầu trang bị càng lúc càng tói tân, hùng hậu) đang tiến như vũ bão, với quyết tâm nuốt trọn miền Nam Việt Nam. Điển hình là nhóm Phật giáo, Công giáo «yêu nước», không ngừng xách động chống phá chính quyền thời đó, đầu độc dư luận trong và ngoài nước. Hắn không thể không nghĩ quí vị là thối thân của bà vải Huỳnh Liên, bà già lẻo mép Ngô Bá Thành, sanh viên Huỳnh Tấn Mẫm, học sanh Lê Văn Nuôi (hai chuyên viên xách động xuống đường), đám chính khứa già hàm Vũ Văn Mẫu, Trần Ngọc Liễng, Lý Quí Chung, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Ngọc Cứ…, đám thầy giáo «chung thân bất mãn» Lý Chánh Trung và đám trí thức làm-dáng-thiên-tả-chuyên-viên-mỵ-dân, Cha «nội» Huỳnh Công Minh -linh mục made in nón cối- người đã ngang nhiên đổi phương châm muôn thuở của người Ki tô hữu «Mến Chúa, Yêu người» thành «kính Chúa, yêu nước»…(XHCN!); và còm-pa-nhi linh-mục-quốc-doanh-chuyên-viên-dối-gạt-lọc-lừa tín hữu. Chưa kể «chất xám» ngoại hạng lãnh đạo công cuộc khuấy phá tinh vi hàng ngũ quốc gia: Siêu-Ngồi-Trên-Thiết-Trí-Quanh…các cuộc «đi đêm» móc nối với các đồng chí đỏ!
Các tiên sanh nầy cũng đã một thời lớn họng kêu gào hoà hợp hoà giải dân tộc, tự phong mình là «thành phần thứ ba». Và câu trả lời đã tức khắc đến với họ ngày 30 tháng 4 năm 1975! Vì tự cho mình đứng trên hai lập trường đối nghịch -thành phần thứ 3 mà!- nên họ không có lập trường khi cuộc chiến ngã ngũ, có kẻ thắng người thua. Thật quá «lô-gích », CS cho họ đứng ngoài cuộc chơi luôn! Và cái mà họ khan cổ la lối -hoà hợp hoà giải dân tộc- đã được kẻ chiến thắng vin vào để buộc tất cả phải hợp tấu tôn vinh XHCX!
Hắn muốn hỏi quí vị, nếu giải pháp «xù bài làm lại từ đầu» có cơ thành tựu -hắn nghi lắm, vì hiệp định Paris đã được các cường quốc hỗ trợ bằng chữ ký bảo đảm của mình, cũng có chủ trương hoà hợp hoà giải dân tộc đó chứ, nhưng vẫn có ngày 30.4.75, với hằng hà sa số trại cải tạo như thường! Đặt giả thuyết CS «ngoan hiền» nhường ngai cho quí vị, phía VNCH cũng «khoan nhượng» để yên cho quí vị cai trị dân, quí vị sẽ dựa vào thế lực nào đây để cầm quyền? Phe CS dĩ nhiên vẫn còn rất đông, rất mạnh. Phía VNCH cũng không phải là một lực lượng không đáng kể. Họ khó có thể dễ dàng quên Hoàng Phủ Ngọc Tường với mồ chôn tập thể ở Huế trong Tết Mậu Thân, nghĩa trang Quân Đội, Mạc Đỉnh Chi và một số nghĩa trang khác bị san bằng…
Liệu quí vị có dám tái lập những kỳ đài ở những nơi đã bị xoá hết dấu vết kể trên, như những di tích lịch sử chăng? Nếu có làm, cũng là lẽ công bằng theo chính sách hoà hợp hoà giải dân tộc của quí vị, bởi vì phía cộng sản đã có và chắc chắn vẫn duy trì các nghĩa trang, các đài «liệt sĩ», lăng Bác, v.v…Hay, nếu đã nhất định xù bài làm lại từ đầu quí vị có dám quyết liệt san bằng hết mọi chứng tích còn mang dấu vết của «cuộc chiến tương tàn» từ 1945 tới nay chăng?
Dựa trên bài học lịch sử hắn nghĩ, khi muốn hoà giải hai phe đối nghịch, nếu là hai nước lâm chiến, nước đứng ra hoà giải phải được cả hai nước liên hệ chấp thuận. Nếu là hai phe lâm chiến trong một nước, người hoà giải cũng phải được hai phe đồng ý ủy nhiệm. Vậy, xin hỏi quí vị đã được cả hai phe quốc-cộng công khai hay bí mật ủy nhiệm chưa? Nếu câu trả lời là không thì hắn lại liên tưởng tới trò hề Dương Văn Minh trước đây : Vị «tổng thống cuối cùng» của VNCH cũng đã có «sáng kiến» đứng trên mọi lập trường đối chọi để kêu gọi hoà giải. Dẫu đang ngồi trong dinh Độc Lập, trên nóc treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, ngài tông thống siêu lập trường rốt cuộc đã cầm cờ trắng nghênh đón phía bên kia! Bởi vậy, hắn e ngại khi thấy trong hàng ngũ quí vị có người chủ trương bôi cả cờ đỏ sao vàng lẫn cờ vàng ba sọc đỏ!
Cờ đỏ sao vàng đang ngang nhiên phất phới ở nội địa và không có dấu hiệu nào khả dĩ cho thấy nó sẽ yên lành được hạ xuống. Dĩ nhiên, quí vị có thể hư vô hoá nó trong tâm tưởng, nhưng muốn thực sự bôi xoá nó, chắc chắn quí vị cũng phải thổ huyết đôi ba chậu, vì còn rất nhiều tay súng bảo vệ nó.
Với cờ vàng ba sọc đỏ, cố nhiên quí vị có thể xoá bỏ trong tâm trí; nhưng cũng rất khó, bởi hầu hết quí vị đã sinh sống ở một môi trường mà nó đã có thời tung bay rạng rỡ. Nhưng muốn cổ súy bôi xoá nó thực sự, quí vị phải tự chế đừng tới tham dự các sinh hoạt cộng đồng của người Việt hải ngoại -nơi nó luôn luôn được trân quí ngước chào nghiêm chỉnh- phải vận dụng tối đa tim óc mình xoá nhòa trí nhớ để tẩy sạch hoài niệm về lá quốc kỳ đã gắn chặt với những nỗi vui buồn của chúng ta, những người đứng bên hàng ngũ bênh vực tự do. CS đã san bằng hay đào mả những tử sĩ thân nhân, bè bạn chúng ta đã vĩnh viễn nằm xuống trên phần đất VNCH trước đây. Lẽ nào quí vị đan tâm lột bỏ lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bó thây hoặc bao phủ quan tài họ, xé cho tan tành để đẹp lòng người anh em phía bên kia, để dọn đường cho một giải pháp hoà giải mà hắn thoáng thấy chung cuộc quí vị sẽ lại cầm cờ trắng đứng bên ngoài chơi như tổng-thống-chợ-chiều DVMinh! Trò chơi có đáng thắp đèn cầy chăng? (Le jeu en vaut-il la chandelle?)

Bởi các lẽ trên, theo ngu ý, trong tuơng lai, nếu có một giải pháp nào cho nước Việt Nam đỡ nghèo khổ, đói rách hơn, giải pháp đó phải thoát thai từ việc hai phía quốc-cộng khởi đầu ngồi lại với nhau trong hai tư thế, với hai lá quốc kỳ tiêu biểu cho lý tưởng mà họ đã theo đuổi và tranh đấu bấy lâu nay.
Từ đó, người hoà giải sẽ đóng vai trò xoa dịu những va chạm chắc chắn sẽ có giữa hai quan điểm giải quyết vấn đề cho một nước Việt Nam dung hoà mọi khuynh hướng chính trị. Cũng từ đó, một quốc dân đại hội mới có đủ thẩm quyền hoá giải hai lá cờ đối nghịch thành một quốc kỳ duy nhất cho một Việt Nam thực sự hoà bình, thịnh vượng, tự do. dân chủ…
Dĩ nhiên, đây chỉ là ước mơ thật bình thường của người viết bài nầy, không nhất thiết «độc đáo, duy nhất đúng» và chắc chắn mang nhiều sắc thái không tưởng (utopique), so với hiện trạng nước nhà.

*

Chót hết, xin nêu hai câu hỏi dưới đây với hai phe đang quần thảo:
1- Quí vị chủ xướng tàn sát tới tên CS cuối cùng? Liệu quí vị có bỏ chạy trước như ngày 30.4.75 nữa chăng? Và quí vị có chuẩn bị vùng đất nào khác để tái định cư những ai, vì theo quí vị, sẽ kẹt lại VN lần nữa chăng?
2- Quí ngài mời gọi mọi người hoà hợp hoà giải với bên kia trong tình anh em cốt nhục, cùng một cội nguồn Cha-Lạc-Long-Quân-Mẹ-Âu-Cơ ? Nếu thất bại lần nầy, lần tới quí ngài định sẽ hô hào một cuộc phiêu lưu chính trị nào nữa đây? Và phiêu lưu trên phần đất nào, quê nhà hay quê người?
Trong khi chờ đợi được giải đáp, hắn hi vọng hai bên sẽ nghĩ đã tới lúc ngồi lại đối thoại với nhau, hơn là chụp mũ loạn xà ngầu, để thông hiểu thêm lập trường của nhau, trước khi nắm tay nhau đến nói chuyện với cộng sản.
Ngoại trừ những tên chống cộng chuyên nghiệp -chống cộng như một loại job- những tên hoạt đầu chính trị (đi hàng hai như một dịch vụ đầu tư), hắn không bao giờ phủ nhận thiện ý của quí vị, quí ngài, vốn tha thiết với quê hương, xã tắc. Thế nhưng, đôi khi hắn tưởng cần nhắc lại câu nói rất thường tình của người xưa để tự cảnh tỉnh: «Địa ngục đầy rẫy ý hướng tốt» (L’enfer est pavé de bonnes intentions!)…

Thôn trang Đổ-Lá-Đầy-Ấp-Mơ, Xứ Tuyết
-Lê Tấn Lộc-