Sunday, March 29, 2009

LỆ ĐÁ XANH


Câu chuyện bên lề:

Lệ đá xanh…

Đ
êm ấy mưa tối trời, mưa dầm dề, mưa thúi đất, mưa ngập đường sá, mưa xối xả trên thành phố Sàigòn khi vũ trường đã tàn cuộc vui cho quên ngày tháng nghiệt ngã, khi hoa đăng đã tắt với giọng hát “vượt không gian và thời gian” cùng lúc với Đêm Màu Hồng vụt tối đen, ẩn hiện dật dờ qua hằng hà sấm chớp lập lòe cuồng nộ …
Hai người đàn ông choàng vai nhau khệnh khạng đi dưới cơn mưa tầm tã, ướt đẫm , vừa bước đi vừa chuyền tay nhau kề miệng tu chai Courvoisier. Người gầy guộc, cao nghệu có vẻ còn đi đứng vững vàng, cố lôi anh bạn thấp bé của mình đã quá “xiêu vẹo” băng qua quãng đường lầy lội, hướng về chiếc Ford Cortina: tôi ngồi sau tay lái… chờ đã khá lâu. Nửa giờ trước đó, nhìn hai bạn tôi quá chén lạc hoan, tôi lặng lẽ rời bàn rượu khi bài ca cuối chuẩn bị kết thúc đêm vũ trường vừa bắt đầu, ra lấy xe đến đón họ cho an toàn: chúng tôi hẹn đến nhà anh bạn nhạc sĩ tiếp tục cuộc vui. Trên đường đi, hai bạn tôi vẫn tiếp tục tu rượu không ngưng nghỉ. Bỗng nhiên, anh bạn thấp bé bá cổ anh bạn cao nghệu líu lưỡi thì thầm:

mưa cuối mùa mùa mưa cuối cuối mùa mưa mưa cưới mùa mùa cưới mưa
nói làm sao đây hỡi chương khi giọt rượu đã ngủ gục trên môi khi ánh sáng không còn là ánh sáng khi tiếng ca không còn là tiếng ca đêm đêm nhìn mặt micro nhổ ra từng mảng phổi
khi đó người con gái lui vào bóng tối ném nụ cười cùng mồ hôi xuống sàn gỗ “tu gagneras ton pain à la sueur de ton front” tiếng vỗ tay đì đẹt đừng ngó nữa nghe chương chúng ta chỉ còn lại chiếc lưỡi tê cứng này với cơn mươi cưới mùa xin lỗi mua cuối mười cươi múa mùa mưa muối cười xin lỗi xin lỗi

mưa cuối mùa mưa cưới mùa
đêm đó băng qua hẻm khuya dầm mưa về

gian nhà tối anh chợt nghĩ nếu tình yêu
không có trong cuộc đời này thì khốn nạn
biết mấy

đêm đêm anh chỉ còn là con hình nộm nổi trôi từ căn nhà đến bục hát từ bục hát đến căn nhà anh thảng thốt mỗi cột đèn mỗi bức vách mỗi cánh cửa mỗi ổ khóa là tiếng nguyền rủa không nguôi

vào một buổi trưa nắng nứt rạn anh nằm một mình thoáng nghe nụ cười suối mát chảy ngoài ngõ anh chợt nhớ bàn tay bàn tay nào bối rối đôi mắt nào thơm ngoan những hồi hộp bé con những lời không dám nói hơi thở không dám gần bấn loạn không dám đưa
anh biết rằng tuổi trẻ mình tự bao giờ đã hết
chương ơi thôi đã hết

Bài thơ Mưa cuối mùa, do Kiệt Tấn cảm hứng ứng khẩu tặng Phạm Đình Chương -danh ca Hoài Bắc trong Ban Hợp Ca Thăng Long trước đây- ra đời như thế đấy. Bài thơ sau đó xuất hiện trên tập thơ đầu tay của Kiệt Tấn, Điệp khúc Tình Yêu và Trái Phá do Sáng Tạo (với sự trợ giúp tận tình của nhà văn Doãn Quốc Sĩ) xuất bản tại Sàigòn, năm 1966. Và mới đây, mùa hè năm 2008, nhà văn Trần Hoài Thư (trong Thư Ấn Quán Hoa Kỳ) đã bỏ nhiều công sức đánh máy lại, giúp tái bản...

Anh bạn nhạc sĩ, dù đã chếnh choáng hơi men vẫn cố gắng tiếp tôi dìu đỡ hai ông bạn đã say khướt vào an tọa nơi phòng khách. Gia chủ ngồi vào dương cầm dạo vài khúc nhạc tạo không khí “văn nghệ”. Hai chàng “ẩm sĩ” gục đầu vào nhau ngủ…ngồi! Chỉ mình tôi còn khả năng trò chuyện với anh chàng nhạc sĩ. Bạn tôi cho biết vừa phổ nhạc xong bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, cũng là chỗ quen biết với nhau cả. Riêng tôi, dù cùng khóa 14 SVSQTB/Thủ Đức, tôi ít có dịp gặp TTT, mà có gặp cũng ít khi trò chuyện. Vả lại lần đầu chạm mặt với anh cũng không được vui vẻ lắm. Lần đó, tôi hơi to tiếng với anh vì một lời nói có vẻ “kẻ cả” của anh trong tiệc rượu mừng tập thơ Điệp khúc Tình Yêu và Trái Phá đã được trình làng, tại nhà KT, đường Bạch Đằng (Gia Định), qui tụ vài văn, thân hữu, trong số có Cung Tiến -người đang ngồi dạo dương cầm trước mặt tôi đây. Vài hôm sau, TTT. tâm sự với CT (mà trước đó tôi chưa biết cũng là cây viết mang bút hiệu Thạch Chương, trong nhóm Sáng Tạo) rằng anh rất tiếc đã lỡ lời trong lúc “rượu vào lời ra”, làm buổi họp mặt thân mật hôm ấy mất vui. Mãi sau nầy, có dịp trao đổi vài câu chuyện tôi mới bắt đầu có cảm tình và quí trọng nhà thơ lúc nào đôi mắt cũng ươn ướt. Và càng mến mộ anh hơn vì, cũng như tôi, anh chọn đơn vị tác chiến khi ra trường để thực sự đối mặt với cuộc chiến, chia sẻ khổ nhọc, hiểm nguy cùng binh sĩ trên trận tuyến hơn là ấm a ấm ớ như đám trí thức “dỏm” tự cho “đứng trên mọi lập trường”, ầm ỉ lên giọng phê phán, chỉ trích những người trong cuộc đang đổ máu trên chiến trường, để rồi phách lối hiu hiu tự đắc coi mình như người ngoài cuộc!

CungTiến dạo nhạc đưa giọng, khe khẽ hát: “Tôi biết những người khóc lẻ loi...”. Rồi ngưng hát, vừa tiếp tục đàn bản nhạc anh đã phổ thơ, vừa đọc tiếp bài thơ Lệ đá xanh của
thanh tâm tuyền

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
Hai ẩm sĩ choàng tỉnh, chăm chú lắng nghe…CT rời dương cầm, rót rượu mời bạn.

Ly rượu trên tay, Phạm Đình Chương thong thả bước tới ngồi vào piano dạo nhạc mở đầu…cất tiếng hát buồn bã:

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa…
Cho tôi về đường cũ nên thơ…
Cho tôi gặp người xưa ước mơ…
(…)
Giọng hát trở nên vô cùng tha thiết, đến đoạn điệp khúc:

Đôi khi anh muốn tin
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người
Ôi những người
Khóc lẻ loi một mình
Khóc… lẻ loi…một…mình……….

PĐC ngồi bất động trước dương cầm. Chúng tôi bồi hồi xúc động… Sáng tác Nửa hồn hương đau của PĐC chào đời như thế đấy, muộn màng về sáng, sau một đêm mưa ồ ạt, dai dẳng…
Mưa mãi mưa hoài mưa chẳng dứt
Đêm dài đằng đẵng đêm bao la…
Đột nhiên, CT, đứng phắt lên phá tan sự im lặng trầm ngâm của anh em, chỉ tay về hướng PĐC gắt gỏng:
-Toa biết cái “đếch” gì về mélodie…!
KT và tôi đứng tim! PĐC không phản ứng, nâng ly chào bóng mình in trên tường, chậm rãi uống nốt những giọt rượu còn lại, lặng lẽ rời chiếc dương cầm…
Bỗng nhiên CT bước nhanh tới choàng ôm PĐC:
-Moa xin lỗi toa, Chương! Moa nói bậy hết sức. Mọi người cũng như toa đều biết moa rất quí toa và ngưỡng mộ tài năng sáng tác nhạc của PĐC mà!
Chúng tôi cũng như PĐC, tuy không nói ra, nhưng ngầm hiểu CT “lỡ lời” (lỡ lời “kẻ cả” như TTT tại nhà KT chăng?).
Có điều KT và tôi rất rõ mà không muốn nói ra là…Có lẽ chỉ vì PĐC đã phổ một đoạn thơ TTT! Một trùng hợp không chủ đích: Tiến và Chương phổ thơ TTT cùng thời điểm một đêm mưa trên đường phố Sàigòn ngập nước!
Tuy nhiên, chúng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên thấy CT “hạ mình” xin lỗi PĐC (chuyện hầu như chưa bao giờ xảy ra với CT!). Cũng như không mấy khi TTT “hạ mình” ngỏ ý “tiếc” đã lỡ lời…với KT trước đây!
-Các toa ngồi yên đấy nhá, CT vỗ vai PĐC nói. Moa lên lầu lấy chai Johnny Walker, Black Label, 15 Years Old …
Chưa đầy 5 phút đã thấy CT khệ nệ cặp nách chai quý tửu từ trên cầu thang tuôn nhanh xuống. Không may, chàng vấp chân ngã nhào, lăn đùng trên sàn gạch, tay vẫn ghì chặt chai rượu quí, “lấy thân che của”! Chàng loạng choạng nhổm dậy, sờ tay vào hàm răng rướm máu, tay trái lấy ra một mảnh răng, tay phải giơ cao chai quí tửu, cười xoà:
-May mà không bể chai Johnny Walker! Chà! Mẻ chiếc răng cửa thế nầy còn làm sao thổi kèn haut-bois được nữa đây!
***
Những năm về sau, từ Tết Mậu Thân trở đi, gần như tôi ít có cơ hội gặp lại PĐC vì không lần nào nữa tôi trở lại Đêm Màu Hồng, từ dạo ngài phó-tông-tông-phi-công-râu- kẽm-nặng-mùi-biểu-diễn-đồ-bay-khăn-tím-choàng-cổ được lũ khỉ đột cận vệ (gorille) bao kín giữ an ninh cho chàng leo lên bục trình diễn độc chiếm micro thao thao “sướng” hát! Tiếc thay, ngày PĐC từ giã cõi đời tại Cali, năm 1991, tôi không đến được để tiễn đưa anh về cõi an nghĩ đời đời…

Với CT, tôi chỉ tình cờ chạm mặt một lần tại Pointe-des-Blagueurs (nhà hàng Ngân Đình), năm 1973, khi KT và tôi ngồi đối ẩm nói chuyện trời trăng mây nước cho qua ngày tháng. Chúng tôi nhận thấy CT thay đổi hơi nhiều, từ ngày chàng ta “làm lớn” ở Bộ Kế Hoạch. Bạn tôi hầu như không còn chút hoài niệm nào về thời điểm rất nguy khổn cho chàng sau khi chàng “ra trường” Bộ Binh Thủ Đức trước khi mãn khóa, khiến tôi đã phải “liều mình” giải cứu chàng ra khỏi Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập Ngũ, nơi chàng nằm chờ ngày bị tống đi Quân khu II! Ra hải ngọai, tôi cũng chẳng có dịp gặp lại chàng, ngoại trừ vài lần nói điện thoại viễn liên. Dẫu sao bạn tôi vẫn còn nhớ đến tôi, gửi cho tôi ít tiền khi tôi vừa đặt chân lên Xứ Tuyết. Lần liên lạc gần nhất, năm 1991, là lúc tôi cộng tác với một nguyệt san ở Toronto, chàng trả lời thư tôi: “…khám phá những hàng chữ ấy, tình cảm luôn luôn đậm đà, thắm thiết của Lộc philosophe, Lộc sentimental và Lộc transparent…”. Sau đó chỉ còn KT thỉnh thoảng liên lạc và sang Minesota chơi với chàng.

Với TTT, dù có một thời gian phục vụ cùng ngành trong quân đội tại Sàigòn, chúng tôi không có duyên gặp nhau trong công việc. Mãi đến cuối tháng 3 năm 1975, lúc tình hình quân sự và chính trị miền Nam vô cùng rối rắm, tôi mới gặp lại anh trong văn phòng trường tư thục Phục Hưng, nơi anh và tôi cùng cộng tác…Lúc bấy giờ thủ đô nhốn nháo với các tin đồn về một vài thành phố lớn ở miền Trung thất thủ hoặc bỏ ngõ. Tôi bán tín bán nghi, nhưng thấy TTT nhìn trần nhà nhả khói thuốc, rồi buồn bã cúi đầu, tôi biết ngay Đà Nẵng đã thực sự rơi vào tay quỉ đỏ! Rồi… “di tản”, rồi “cải tạo”, rồi “vượt biên”, v.v…Bặt tăm nhau luôn từ đó.
Cho đến khi tôi được KT báo CT và nhóm thân hữu cầm bút đã đứng ra bảo lãnh cho TTT sang tiểu bang Minesota, năm 1991, nơi mà sau đó hai nhà thơ Cung Trầm Tưởng và Tô Thùy Yên cũng được nhóm CT bảo trợ đến định cư. Liên lạc được với TTT, quả thật tôi rất đỗi vui mừng: ít ra, cũng như tôi và một số hiếm hoi chiến hữu bị đày đọa chí cốt trong các trại tập trung do Bắc Bộ Phủ chủ xướng, TTT vẫn sống còn…
TTT gửi tặng tôi tập thơ lục bát anh đã sáng tác trong tù, kèm những giòng chữ rất thân thương mà đến nay tôi vẫn còn trân quí: « …Quả là bất ngờ. Cảm ơn tấm lòng vẫn nhớ đến nhau…Năm 82 về đến Sàigòn, được biết anh đã vượt thoát những mừng cho anh. Sang đến bên này hỏi thăm Cung Tiến, nghe anh sau chuyến vượt biển đã trở thành “nhà tu hành” lại cũng mừng cho anh (…), biết anh mặc dầu long đong lận đận nơi Xứ Tuyết mà hồn vẫn còn “thơ thẩn” thong dong ngoài cuộc mưu sinh, lại cũng mừng cho anh nữa... ».

Tôi là người nhận được hung tin trễ nhất TTT trở về với cát bụi. Có lẽ tôi không nằm trong danh sách những cây bút đã “thành danh” chói rạng cần được ưu tiên thông tin…Đọc tin trên internet, tôi vội vã báo tin cho KT. Hình như sau đó Nguyễn Xuân Hoàng có làm một số VĂN đặc biệt về TTT. Tôi tự thấy không có kỷ niệm nào đáng kể về “tình văn” với TTT nên không viết bài gửi cho NXH, dù Hoàng là chỗ rất thân thiết với KT và tôi. Và tôi cũng không thể đến kịp lúc để nhìn lần cuối đôi mắt ươn ướt ân tình của nhà thơ một thời khai phá cõi thơ tự do, trước khi chúng vĩnh viễn khép kín từ biệt thân bằng quyến thuộc, rong chơi cõi vĩnh hằng…

chương ơi thôi đã hết
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, vào Xuân…
Lê Tấn Lộc




Monday, February 9, 2009

Tản mạn về..."ĐỒNG NGHIỆP"


Phiếm “loạn” (IV)

Tản mạn về…
“ĐỒNG NGHIỆP”

Phê bình thì dễ, nhưng nghệ thuật thì khó”
-La critique est aisée, mais l’art est difficile-
(DESTOUCHES, Le glorieux)

Đồng nghiệp” T. thân mến,

Có lẽ T. sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy những giòng chữ nầy xuất hiện trên mặt báo. Chính tôi cũng lấy làm lạ tại sao đã bao phen quyết tâm liệng bút mà giờ đây vẫn còn cầm cây bút trên tay! Thực ra bài viết nầy đáng lý đã hoàn tất trước khi tôi trở lại Montréal, bởi lẽ ý định sơ khởi của tôi là sử dụng đoạn cuối bài viết của T. để kết thúc một bài viết trong thời gian tôi sang chơi với một “đồng nghiệp” khác ở Paris.
Chắc T, phần nào có thắc mắc về cặp râu bao quanh hai chữ đồng nghiệp. Cho tôi được diễn nghĩa: đồng nghiệp viết trong dấu ngoặc kép, có nghĩa là đồng mắc cái nghiệp viết lách. Đôi khi sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa đồng nghiệp và đồng nghề (như T. và tôi, cùng một số cây bút khác) dễ gây hiểu lầm “thấy sang bắt quàng làm họ”. Nhưng đó là chuyện sau, sẽ từ từ đề cập tới. Tạm thời xin T. chấp nhận “đồng nghiệp” theo nghĩa cùng cầm bút góp mặt trong văn giới, những người có thể đồng lòng, đồng tình, đồng điệu, đồng bệnh, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, đồng hành mà không bắt buộc phải là đồng đội, đồng minh, đồng môn, đồng tù, đồng hương, đồng trang lứa, đồng đạo, đồng chí hướng, đồng quan điểm, đồng vợ đồng chồng -có khi lại còn trớ trêu “đồng sàng dị mộng” nữa là khác!- nhưng tuyệt nhiên không thể là đồng bọn, đồng đảng, đồng lõa, đồng mưu, đồng nhất, đồng phục, đồng nghĩa, đồng bạc, đồng cốt và… đồng ấu!
Cách đây hơn 35 năm, lúc ở trại “cải tạo” Long Giao, suy gẫm câu nói của E.Mounier: “Thiếu kinh nghiệm về bệnh tật, tù đày và chết chóc, con người chưa thể thực sự là con người” (Il manque à un homme, pour être vraiment homme, la maladie, la prison et la mort.), tôi viết một truyện dài bằng tiếng Pháp -vì phải tránh né các cần ăng-ten chi chít trong trại giam- mở đầu bằng một nhận định: “Longtemps j’ai vécu, agi, pensé comme si je ne devais jamais vieillir, souffrir, mourir…” (Lâu nay tôi đã sống, hành động, tư duy như tôi sẽ chẳng bao giờ phải già nua, đau đớn, chết đi…) Truyện chấm dứt bằng một nhận định: “Longtemps j’ai vécu dans le mensonge à moi-même et dans l’erreur déjà reconnue…” (Lâu nay tôi đã sống trong sự tự lừa dối và trong sự sai lầm đã được nhận diện...) -Mémoires d’un psychiatre, suivi du Journal d’un schizophrène épileptique-
Ấy vậy mà tới nay tôi vẫn chưa hết lận đận lao đao trước những đột biến của ngoại cảnh, dẫu đã chuẩn bị tinh thần tương đối đầy đủ trước những thăng trầm của cuộc sống!...
Đôi mắt rỗng phải che bằng khói thuốc,
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao…
*
Sao tiếng nói bỗng thẹn thùng bỡ ngỡ,
Gọi tên người nghe cả nắng vàng phai
Tôi đọc thầm hai câu thơ mở đầu bài viết dở dang ở Paris mà tôi có ý định viết dưới dạng thức “Thư cho một đồng nghiệp” nói về T. như trước đây “đồng nghiệp” nầy đã có “Thư cho L.”, khiến tôi phải lặn lội xuống tận Toronto tìm gặp nhà thơ nữ, tác giả hai câu thơ nói trên, dù tôi chưa hề biết diện mạo, cốt cách của “nàng” ra sao!
Một cố nhân, chỉ một lần gặp gỡ trên Xứ Hoa Đào nửa thế kỷ về trước rồi bặt tăm, mới đây, tình cờ đọc bài viết của tôi trên một tạp chí ở Cali, liên lạc với toà soạn để có thể gửi điện thư cho tôi kèm scan một đoạn thủ bút màu mực tím muôn thuở của tuổi học trò :
giữa thế giới văn minh em vẫn ngồi nắn nót
những bức thư tình trau chuốt gửi cho anh
thư tình yêu ai viết bằng điện toán
nét chữ mượt mà mới nói hết tình xanh...
Dưới thủ bút, một chữ ký tuyệt đẹp, cũng “sợ thư tình không hết nghĩa yêu đương (nên) pha mực cho vừa màu áo tím”…
Triết gia Alain trước đây nhìn nhận: “Con người tư duy vì có đôi tay” (L’homme pense parce qu’il a des mains). Tâm cử học (Behaviorisme) cho thấy tâm tính con người phần nào phô diễn qua nét chữ và chữ ký. Rất nhiều người lẫn lộn graphologie, môn học nghiên cứu các dạng chữ (chiết tự học?) với mục bói khoa và coi quẻ (chiromanchie)! Dịp khác tôi sẽ trở lại vấn đề nầy. Trong khi chờ đợi, do thu thập được vài khái niệm về tâm lý học, xin cho tôi được “méo mó nghề nghiệp” đôi chút: Chữ ký nói trên cho thấy người ký vào đời rất “văn nghệ” (phần đầu chữ ký); do va chạm, phần nào có khựng lại, co rút thủ thế (phần giữa) nhưng sau rốt vẫn buông theo cảm tính có chừng mực (phần cuối); gạch dưới chữ ký là dấu hiệu của sự chững chạc.
Đại cương, chữ ký cho thấy một tâm hồn quãng đại, có thủy có chung, tuy nét “buông xuống” khá nhiều (cho thấy có ít nhiều ngán ngẫm) nhưng vẫn không che dấu được “cánh cửa chưa khép kín”. Dạng chữ trong thủ bút cho thấy một trí óc “thông minh” (intelligent), mạch lạc, tuy rạt rào tình cảm vẫn không mất tính logique…Thôi thế cũng đã đâm hơi quá nhiều. Xin lỗi T. về cái méo mó trời đánh! Bây giờ xin trở lại chuyện trần thế, đi trên mây hoài cũng chóng mặt!
Có lẽ T. đã nghe nói, khá lâu rồi tôi đổi điện thoại, địa chỉ, rút êm ẩn dật. Để chắc ăn hơn, tôi rời Montréal, tiếng là đi làm ăn xa. Cũng như T. tôi đã trải qua một chuỗi ngày ê chề với một số… “đồng nghiệp”! Thế nhưng tôi đã trở về chốn cũ “Montréal đất lạnh tình nồng”. Tôi không thể quên lòng ưu ái, sự ân cần, sốt sắng giúp đỡ tôi -để cố giữ tôi lại với anh em- của các “đồng nghiệp” thân thương, đồng nghề cũng như khác nghề…Chắc T. cũng đồng ý trong số “đồng nghiệp” chúng ta vẫn còn nhiều vị xoa dịu những ê chề, đem lại cho chúng ta niềm hứng khởi tiếp tục cầm bút. Montréal đất lành chim đậu! Dĩ nhiên, đôi lúc cũng có mây mù vần vũ vì nhóm “đồng nghiệp-đồng bọn-đồng cốt”, nhưng tựu trung Montréal vẫn là thành phố văn nghệ cởi mở, nhiệt thành đón nhận “đồng nghiệp” nhất ở Châu Mỹ, nếu không muốn nói là trên khắp năm Châu.
Mới đây, có lẽ thấy bên Xứ Đại Thử một ngài hạ sĩ (trước 75) đăng tải chứng chỉ ở tù cộng sản vài chục…ngày để chứng minh mình có 30 năm hành nghề nàm báo cho giới truyền thông khớp vía chơi, một nhóm “đồng nghiệp” bên Xứ Tuyết hồ hởi noi gương thầy cai “chạy nhựt trình, từ trong ra tới ngoài nước” mở tiệc yến linh đình mừng kỷ niệm nàm báo và vẽ tranh! Tôi bèn nghĩ, có lẽ nay mai tôi sẽ mời T. cùng một số “đồng nghiệp” khác đến ăn mừng thất thập tứ chu niên ngày tôi mần báo (vì tôi đã tròn 74 năm báo cha, báo mẹ, báo anh, báo em, báo vợ, báo con, báo cháu) và lục thập cửu chu niên ngày tôi cầm viết, cầm cọ (vì lúc 5 tuổi, tôi đã tập đồ chữ, tô tranh ở lớp mẫu giáo)! Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà…đau cái đầu!
“Nhận báo mà không gửi bài là một mặc cảm nặng nề cho người cầm bút”, cố nhân 50 năm về trước viết cho tôi. Bởi vậy, hôm nay tôi phải viết quảng viết tiều cho vui, chứ chẳng có ý xúc phạm ai hết. Nếu có, chẳng qua là một tai nạn -đôi khi còn là một tai họa cho người viết! Dẫu sao muốn tráng trứng thì không thể không đập trứng. Chắc chắn thế nào tay tôi cũng dính chất nhờn của trứng. Chưa kể chiên xào, dầu mỡ văng vô mặt tôi, rỗ hoa hoè! Tai nạn nghề nghiệp mà, đồng nghiệp T.!
T. và một số đồng nghiệp thân hữu khác gửi sách tặng tôi. Mới nhận báo mà không gửi bài, tôi đã “mặc cảm nặng nề”. Nhận sách mà không tặng sách lại, chắc mặc cảm sẽ đè tôi lún sâu xuống đất!
Mười lăm năm trước, đồng nghiệp-đồng hương ở Troyes có đốc thúc tôi ra sách; đồng nghiệp-đồng môn-đồng nghề (chủ báo) ở Toronto khuyến khích tôi in “tác phẩm”; đồng nghiệp có cái tên rất tượng hình -Thế Nghiệp- mớm ý tôi nên tập trung cái bài viết in thành một cuốn tạp bút. Mới đây thôi, đồng nghiệp-đồng tình (cố nhân) ở Cali hỏi tôi đã “ra” được bao nhiêu sách rồi(!) Tôi trả lời các bạn, tôi chỉ viết để tiêu khiển, chưa có ý định in ấn. Tới nay, tôi vẫn còn lừng khừng...Có lẽ đến lúc nào đó cũng liều nhắm mắt đưa chân , xâm mình chơi dại, thử in một lần xem sao.
Chỉ mới vài năm gần đây tôi mới sử dụng máy điện toán để viết. Trước đây, tôi toàn viết tay. Đôi khi bản thảo gởi bạn bè đọc không ra vì chữ tôi viết như gà cào! Vả lại tôi không có tài hội họa như T. nên rất ngại phải phiền thiên hạ vẽ phụ bản. Ngoài ra, nghĩ tới cảnh một mình dùng hai ngón tay gõ lại số lớn các bài đã viết tay, tôi hơi rủng chí....
Tiện đây, tôi cũng bật mí cho T. là cuối thu nầy tôi sẽ rời Montréal, tái diễn màn ngao du một vòng các đảo thuộc Châu Đại Dương (Océanie), rà lại mớ hiểu biết sở đắc về thái độ tình dục (comportement sexuel) của các bộ lạc còn sống sót trong tình trạng hoang dã, để sau đó viết “truyện đường rừng” cho khỏi ai lời vô tiếng ra mất lòng nhau vô bổ. Điều nầy, tôi có tâm sự với một đồng nghiệp trẻ ở vùng ngoại ô Paris rất yêu thích lịch sử, khảo cổ học và nhân chủng học. Tôi muốn hư cấu hóa thực tại! Rắc rối nhỉ?
Nghĩ cho cùng, in hay không in, đâu có gì quan trọng lắm! Khổ nổi, lý thì vậy mà tình thì không giản dị vậy được. Đồng nghiệp làm bánh cho mình ăn hoài sao? Lâu lâu cũng phải xăn tay áo nhồi bột chớ! Tuy biết vậy, tôi vẫn chưa dám liều lĩnh phiêu lưu vào “chốn ấy hang hùm…”
**
K
hông rõ T. đã “kinh qua” lần nào chưa, chứ kẻ hèn nầy thỉnh thoảng chứng kiến cảnh tượng đau lòng một vài tạp chí, một vài tác phẩm cẩn trọng gửi biếu các đồng nghiệp thân hữu (mà tác giả đã bỏ nhiều công sức, tiền bạc gọi điện thoại viễn liên yêu cầu điều chỉnh từng câu, từng chữ, từng cái dấu, cái phẩy, cái chấm v.v…) bị con cái của những vị được tặng xé ra xếp làm tầu bay! T. thử nghĩ: Mình thức đêm thức hôm viết ròng rã đôi ba tuần mới xong một truyện (viết tay), sụt cân thấy rõ, người đọc bỏ ra khoảng một tiếng, nếu đọc kỹ. Vậy cũng còn được. Đằng nầy…
Tôi kể T. nghe một chuyện vui: Đang đêm, một em văn nghệ khá dư thừa chất protéine gọi điện thoại hỏi tôi làm các nào thu gọn thân hình đẫy đà cho gọn ghẽ dễ coi. Tập thể dục chăng?
-Sáng tác đi! Tôi trả lời. Bảo đảm kết quả thấy rõ!
Tôi chợt nhớ có lần trả lời khi được phỏng vấn, T. nói nếu được đi lại từ đầu T. sẽ không cầm bút. Quá đúng! Nếu được phép “cố vấn”, tôi sẽ khuyến khích T. cầm kim. Tôi nói thật đấy! Mười sáu năm trước, đồng nghiệp-chủ báo ở Toronto của tôi đã cười ngất khi nghe nói tôi gác bút vì bận cầm… kim! Không phải kim ống chích đâu mà là kim…may quần áo: Còn có ra chi cái chữ Tây, Ông nghè ông cống cũng nằm ngây. Chi bằng ta chạy ô-vờ-lốc (máy vắt sổ), Tối đạp ro ro, sáng vác cày!
Chuyện khó tin nhưng có thật: Cầm viết, chẳng thể nào tôi đủ sở hụi đi thăm bạn bè ngoài Xứ Tuyết. Cầm kim tôi lại thừa phương tiện du ngoạn, nghỉ xả hơi và có cơ hội diện kiến một vài hảo hán cầm bút ở trời Âu!
Trong khi đó, không kể các khoản chi tiêu về cà phê, thuốc lá, rượu, giấy mực, photocopie, bao bì, tem thư, xăng nhớt đi gởi bài và sự “hao hụt tinh thần” không tính nổi vì vợ nhà “cằn nhằn”, 3 tuần quên ăn quên ngủ, sụt ký thấy rõ, xuống sắc, viết cho xong một truyện ngắn -tiêu cha nó 3 tuần nghỉ hè- chưa chắc đồng nghiệp-đồng bệnh-đồng ẩm của tôi ở Paris kiếm đủ tiền đãi tôi một chầu rượu chát! Phần tôi, trong hoàn cảnh tương tự, may ra tôi chỉ chi nổi 6 lon bia cho hai thằng nhâm nhỉ đỡ khát! Văn chương phú lục bạc chục la làng… may ra mới có! T. nghĩ tôi có lý chăng khi nhìn “lãnh tụ” vắt sổ của mình, lòng rạt rào cảm kích, tôi cất tiếng rổn rảng hát “suy tôn”: Toàn dân cầm kim nhớ ơn ô-vờ-lốc! Ô-vờ-lốc! Ô-vờ-lốc muôn năm!
Ôi thôi tôi đã đi quá đà! Ai lại xáo trộn văn chương với kim chỉ? Không khéo các “đồng nghiệp” khác lại kết tội tôi phá hoại văn hóa, âm miêu xách động T. đào ngũ khỏi làng văn! Tôi chỉ muốn nói, nếu chúng ta định kiếm tí tiền còm bằng nghề tay trái để rong chơi thoải mái thì…chớ nên kỳ vọng vào số “thu hoạch” từ văn, thi phẩm. Ngày xưa Nguyễn Bính đã khuyến cáo: Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ. Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con! Ngày nay, có khác gì đâu:
Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong…
***
Ý
định của tôi hôm nay, khi cầm viết là muốn trao đổi với T. một số kỷ niệm (hay kinh nghiệm?) để cùng chia sẻ những “vui buồn nghề nghiệp” mà, theo tôi, nghiệp nhiều hơn nghề, bởi vì, với tôi, cầm bút không thể là một cái nghề.
Ở hải ngoại, tôi cầm bút lại trong một dịp rất tình cờ, do lời rủ rê của đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh (thích rượu đỏ và yêu nữ) ở Paris sang Xứ Tuyết nghỉ hè:
-Nếu có huỡn , anh viết báo chơi cho vui. Viết tiểu luận, nhựt ký, tùy bút gì đó cũng được, đâu có gì quan trọng. Cả thơ nữa, cho vui vậy mà!
Cho tới nay, tôi vẫn thấy đó là câu vận động “ nhập nghiệp” lâu dài hiệu quả nhất. Cho tới nay, khi liên lạc, “kêu réo” các đồng nghiệp-đồng bạn đã có ý mai danh ẩn tích tái xuất giang hồ, hoặc động viên các đồng nghiệp-mầm non văn nghệ đang thối chí tiếp tục cầm bút, tôi vẫn thường lập lại:
-Đâu có gì quan trọng! Cho vui vậy mà!
Tái xuất giang hồ lần đầu, tôi bị một đồng nghiệp-đồng nghề-đồng bạn-đồng môn có chức phận trong làng báo ở Cali “ngâm tôm” một bài viết sau khi “người” đã kêu lên trong điện thoại viễn liên:
-Hay quá toa! Moa đâu ngờ toa viết được quá! Moa tưởng toa chỉ lo philô-phôli thôi!
Một loạt bài gửi tiếp: Im lặng vô tuyến hoàn toàn! Đứa bạn thân đồng nghề khi xưa chắc không tiện coi tôi là đồng nghiệp! Sau nầy, đọc được lời nhận xét thần sầu quỉ khóc của hắn về một đồng nghiệp khác mà hắn rất “chịu” vì đồng nghiệp nầy, theo hắn, đã nắm bắt chữ, tôi càng thêm “hãi”: Với trò chơi cút bắt, săn đuổi để nắm bắt chữ nầy, độc giả làm sao không ngất ngư trước những trang giấy lí nhí vết mực, vì chữ đã bị tác giả nắm bắt đi mất tiêu!
Tuy nghe qua đã bủn rủn tay chân, xây xẩm mặt mày, tôi vẫn lo sợ không biết mình đã lọt vào mê hồn trận chưa, nên vội vã biên thư hỏi ý kiến đồng nghiệp-đồng bệnh ở Paris -người nhứt định không sử dụng máy điện toán để viết văn- yêu cầu đan cử một thí dụ về “truyện sốt ruột” (ngụ ý hỏi bạn: Viết mà không nắm bắt chữ đem đi mất có làm độc giả sốt ruột chăng? “Đồng nghiệp” trả lời:
-Anh thiệt có phước lớn! Té ra cho tới bây giờ anh chưa hề đọc loại truyện (ngắn có dài có) mà giở trang nào cũng sốt ruột cầm canh, chờ hoài coi chuyện gì xảy ra, mà tuyệt nhiên không có, chờ coi có diễn biến tâm lý gì thú vị mà cũng tuyệt nhiên không có, rồi xoay qua chờ đợi nó hết mà tuyệt nhiên nó không chịu hết!
Vậy, tôi có thể tạm an lòng. Mười trang sách để tả một trái cà chua hoặc một cái bìa sách, đôi ba trăm trang nữ công gia chánh (rờ-xết nấu ăn), hoặc rượt đuổi nắm bắt “con” chữ, bỏ lại “ảo tưởng về chiều sâu” (illusion de profondeur) cho người đọc là không có tôi!
Chuyện đồng nghề nhưng không “đồng nghiệp”, tình thân hay tình văn trọng giữa đôi bạn rất thân cùng cầm bút, coi như tạm xếp. Có thể một sáng đẹp trời nào đó hắn sẽ nhớ lại lần tôi kể cho hắn sự rạn nứt tình bạn giữa Sartre và Camus. Sartre viết: “Tình bạn chúng ta không phải dễ, nhưng tôi hối tiếc vì nó.” (Notre amitié n’était pas facile, mais je la regrette). Nhưng T. ơi! Cái nghiệp cầm ca đâu phải dễ dứt vậy. Một đồng nghiệp-đồng nghề khác, trách nhiệm một tạp chí có tầm cỡ ở Cali viết cho tôi: “Viết lách đem lại cho ta nhiều người bạn quí, nhưng cũng gánh theo rất nhiều phiền lụy” Tất cả chỉ do nhiều người không chú tâm viết, mà chỉ chú tâm lợi dụng chữ viết. Mọi chuyện rắc rối từ đó mà ra…”. Đúng thay!
****
T
ôi biết giờ đây T. có “vui gì đâu mà tâm sự”, nhưng “buồn làm chi cho bẽ bàng” hở T.? Tôi mến T. ở chỗ chỉ thích viết về tình yêu, đề tài tuy cổ xưa như trái đất mà viết hoài còn hoài. Tôi chia sẻ điều nầy với T. Dù không đủ tài viết truyện tình lôi cuốn, tôi vẫn thích viết về tình yêu hơn viết về hận thù. Tôi thích nói như Stendhal: “Với tôi, chuyện vĩ đại duy nhất là tình yêu” (Pour moi, la seule grande affaire, c’est l’amour). Có lần đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh ở Paris viết: “Hỡi ôi! Khi in những chuyện móc cổ, móc họng, chặt đầu được mọi người coi là tự nhiên, còn in những chuyện vuốt ve, ôm ấp, sờ mó bị coi là đồi trụy thì thử hỏi thế giới nầy sao lại không thô bạo?”. T. nghĩ sao?
Có lần một đồng nghiệp (đồng nghề) ở Toronto thuật lại đã nói với bạn bè về tôi như sau:
-Quí vị thấy, trong lúc thiên hạ đua nhau viết chánh trị, khí thế đấu tranh bừng bừng thì bạn tôi, tuy khốn đốn về cuộc sống, vẫn lo viết chuyện nhậu nhẹt, ái tình vớ vẩn chăng?”. Một bạn đồng nghiệp (đồng ngũ) khác ở Cali “quạt” tôi:
-Tụi bây (ám chỉ đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh ở Paris và tôi) tối ngày chỉ lo viết chuyện dâm dục!
Chuyện dâm dục(!?) Tôi viết hồi nào vậy “đại ca”? Sao tôi chưa phát tài nhỉ? Viết về Tạ Ký, về một lần toan tính tự tử trong tù CS, về chân dung một linh mục ngọai quốc cứu trợ thuyền nhân VN, về những đứa bạn cùng tù cải tạo, “cà răng” mấy tay chụp mũ chuyên nghiệp hay hí hửng bóp méo sự thật để dành chỗ sẵn khi tình thế biến chuyển -cách đây mười mấy năm ở Xứ Cờ Hoa và mới đây ở Xứ Đại Thử- là…viết chuyện dâm dục sao? Loạn chụp mũ chưa dứt thì họa gắn chưn mày thần Bạch Mi lại lăm le hù nhát một số đồng nghiệp viết về tình yêu có cơ thể! Cho tôi ngứa miệng philo-folie tí ti:
Tôi không những chỉ có một thân xác; tôi còn là thân xác tôi nữa. Nói: “Tôi có một cơ thể” (J’ai un corps) hàm chứa ám ảnh cơ thể đó sẽ phơi bày dưới cái nhìn kẻ khác và mặc nhiên coi thân xác mình đối nghịch với mình. Cấm kỵ từ đó mà ra, để kềm giữ nó, trau chuốt nó thành một hình hài khả dĩ “coi được”, cho người chung quanh dễ dàng chấp nhận nó theo những thỏa thuận ngầm do đời sống xã hội đặt ra. “Địa ngục là kẻ khác!”. Thế đấy! Thế đấy!
Nhưng nhìn nhận: “Tôi là thân xác tôi” (Je suis mon corps), thân xác tôi trở nên thân thiện với tôi hơn. Tôi “làm một” với thân xác tôi. Nhị nguyên tính giả tạo giữa thân xác và linh hồn không còn nữa. Nguyên khối “tôi-thân xác” đảm nhiệm thân phận làm người (condition humaine), một con người vừa là hữu thể nhập thể (être incarné), vừa là hữu thể nhập thế (être-dans-le-monde) -được vị trí hóa và thời gian hóa (situé et daté), nghĩa là có lịch sử tính (historicité) trong dòng lịch sử (histoire) chung của loài người- vừa là hữu thể siêu việt (être transcendant) -tuy đang ở đây và bây giờ (ici et maintenant) vẫn có khả năng vượt trên những ràng buộc của hoàn cảnh (situations) hiện tại bằng dự phóng (projet).
Bởi thế, trong lãnh vực y khoa, ngày nay người ta không còn coi bệnh nhân như thuần là một cơ thể bị bịnh, trái lại cần đặt chứng bịnh đó trong toàn thể nhân cách (personnalité) của người bệnh. Y khoa tâm-cơ thể (médecine psychosomatique) hiện nay là một thực thể không chối cãi được.
Từ đó, tôi nghĩ, thay vì la sảng “địa ngục là kẻ khác”, có lẽ chúng ta nên bình tĩnh nhìn nhận: địa ngục (hay thiên đàng) là...chúng ta đây! (L’enfer ou le paradis, c’est...nous autres!)...
Ôi thôi tôi lại bay bổng nữa rồi. Cho tôi trở lại chuyện trần tục cho đỡ lạc đường. Tôi trả lời hai anh bạn khắt khe của tôi, đại để như sau :
-Các bạn trách tôi sao không “dấn thân” viết chuyện dính líu tới xã hội đương thời, chuyện cải tạo, chuyện vượt biên, chuyện chính trị “có lửa” v.v…Hãy thử nghĩ, nếu ai cũng ngần thứ đề tài đó xào đi nấu lại thì văn học nghệ thuật ở hải ngọai sẽ đơn điệu đến độ đồng nhất, đồng hạng, đồng phục cỡ nào! Ngoài yếu tố sở trường và cảm hứng của từng cây viết, tôi thấy sinh họat văn học nghệ thuật tương tợ như sinh hoạt kịch trường: có đứa thủ vai tướng thì phải có đứa đóng vai quân; có người dàn cảnh thì phải có người chạy đề-co, kéo màn, sụp màn. Hãy thử tưởng tượng, trên sân khấu vua gọi quân bây chẳng ai dạ, triệu tướng tướng chẳng xuất hiện, nạt tướng lui tướng lại đứng chần dần, xuống vọng cổ lại rọi đèn pha, quân lâm trận lại phựt đèn màu, đào thương tự tử rồi mà không chịu ngã xuống chết để sập màn, khi đã chịu chết, màn sụp rồi lại kéo lên cho thấy nàng lui cui đứng dậy lui vào hậu trường thì có phải là “chửi cha” khán giả không? Trong sinh hoạt văn học, độc giả là người thưởng ngoạn, mà phán quyết tuy đến chậm nhưng thường có tính cách chung quyết. Họ dễ dàng nhận ra tay nào “hát” hùng hồn thật, tay nào cố “rống gào” giả, tay nào “xuống” vọng cổ mùi mẫn, tay nào “vô” xàng xê đâm hơi. Bởi vậy, theo tôi nghĩ, biết xuất hiện khi cần, biết rút lui khi đến lúc, kéo hay sụp màn đúng thời điểm là nghệ thuật sống của giới văn nghệ sĩ…
Tôi hỏi hai đứa bạn có nhớ thập niên 50 với hoạt cảnh “cao bồi” mang bảng “đồi trụy” đứng sượng trân trên vĩa hè đường Catinat (Tự Do) cho công chúng xem chăng? Thời đó, phe ta chống “ủy mị”, lên án bản nhạc Dư Âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý; phe địch bài xích “ướt át”, kết án vọng cổ “làm mất nước”’ Thập niên kế, hai bên đều xét lại phán quyết võ đoán của mình. Chẳng lẽ bây giờ ra nước ngoài chúng ta cũng muốn “tiêu chuẩn hóa” sinh họat văn học nghệ thuật theo chiều hướng các ông các bà “lành mạnh” của thập niên 50 lần nữa sao? Rồi tôi kết luận:
-Tôi thà cam chịu mang tiếng là tên giúp vui công cộng (amuseur public) còn hơn bị đồng nghiệp chạy làng như thằng gây phiền toái công cộng (emmerdeur public)!
*****
M
ột đồng nghiệp-đồng nghề-đồng nhiệm sở, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghiệp viết lách đưa ra nhận xét rất xây dựng tôi viết có vẻ làm bản tin quá, thiếu mô tả hoa lá cành, -ít chất tiểu thuyết, các thể loại không rõ nét. Nghĩ mình viết tùy hứng để tiêu khiển, nhứt là để ghi lại một số kỷ niệm tươi đẹp và kinh nghiệm thương đau, vì đầu óc càng lúc càng lú lẩn theo tuổi, tôi không lưu tâm lắm về hình thức viết như “đồng nghiệp” đã thực lòng lưu ý nhắc nhở. Cho tới lúc một loạt bài Tại sao tôi viết? Tôi viết để làm gì? Tôi viết cách nào?Truyện ngắn là gì? v.v…trong số đó có bài nói tới nắm bắt chữ (!!!) làm tôi đâm hoảng về cái ngu dốt vô tư của mình! Bèn viết thư hỏi đồng nghiệp-ẩm-bệnh ở Paris. Thư trả lời như sau:
-Khi thấy anh hỏi về định nghĩa các thể truyện, tôi biết anh đã quá lậm vì văn nghệ. Đọc nhiều sách Tây -trong đó có Sartre- anh đã thừa hiểu (?) các định nghĩa. Nếu cần rõ thêm thì nên hỏi các thầy giáo Việt văn…
Thư tiếp:
-Mà thực sự cần thiết chăng? Có định nghĩa rồi ráng viết theo đúng định nghĩa hay tại cảm hứng muốn viết như vậy thì viết như vậy? Vẽ rắn đâu thể gọi là rồng, vẽ chuột đâu thể gọi là thỏ? Ngược lại cũng vậy, đừng có mặc cảm (…) Có người làm thơ mà đọc như văn mắc nghẹn, lại có người viết văn mà đọc như thơ. Đâu là giới hạn?
Vậy là tôi có thể an tâm viết mà không cần có định đề trước. Cho tới khi tôi bị người em văn nghệ nhiều chất protéine “ngoảnh mặt làm ngơ” vì cho rằng “thần tượng sụp đổ” (!?) với bài “lộn sòng, lộn dĩa” của tôi. Lý do: dâm ô đồi trụy (!?). Một lần nữa, tôi vấn kế đồng nghiệp-ẩm-bệnh ở Paris. Và được trả lời:
-Cứ lấy đề tài từ những kỷ niệm và kinh nghiệm sống của anh: thuở học trò, bạn bè, những vui buồn, những lầm lạc, những chỉnh hướng, tình yêu, tình dục đầu đời, đau khổ, khoái lạc, kẻ khác, lịch sử, biến cố, thời sự, huyền thoại, kiêng cấm, ẩn ức, tâm lý (nghề của chàng…) thêm ít nhiều tưởng tượng, hư cấu…Độc giả không màng sự thật 100% đâu. Miễn đừng làm độc giả sốt ruột là được rồi. Hay dở là tùy cảm quan người đọc, chẳng có gì tuyệt đối. Bút pháp và cách dàn dựng truyện là tài riêng của mỗi người.
Tự nhiên tôi cảm thấy sảng khoái vô cùng đã gặp được một tâm hồn đồng điệu.

Đang lúc lòng tôi rào rạt hứng khởi thì, trong một buổi họp mặt thân mật, một đồng nghiệp-Văn Bút “nghiêm chỉnh” dõng dạc tuyên bố, cốt cho tôi nghe :
-Muốn viết cái gì, cứ viết. Nhưng chúng ta có bổn phận phải viết cho thật hay!
Tôi nghĩ thầm: Tài năng là nhân tố quyết định, nhưng thiện chí trau dồi cũng không phải là yếu tố không đáng kể trong sáng tác. Cố gắng viết cho thật hay, có thể hiểu được. Nhưng từ đó bảo rằng “có bổn phận phải viết cho thật hay” thì…nghe sao có vẻ lệnh lạc từ “trên” ban xuống quá! Hay theo cách “trên” muốn chăng? Nhìn bộ điệu quá “nghiêm trọng” của đồng nghiệp nầy, tôi chợt nhớ câu chém ngọt của Sartre: “Thượng đế không phải là nghệ sĩ. Ông Mauriac cũng chẳng phải!” (Dieu n’est pas artiste. Monsieur Mauriac non plus!).
******
L
ần nọ,một đồng nghiệp-chủ báo nói với đồng nghiệp-chủ báo khác và tôi :
-Nơi mọi người VN đều có một ông chủ báo !
Câu nói thâm sâu, dày dặn kinh nghiệm. Nhưng tôi không hiểu thấu, nên nghĩ thầm: “Chủ báo hay báo chủ?”và nói:
-Theo tôi, nếu nói nơi mọi người VN đều có một quản giáo, có lẽ sát thực tế hơn.
Cả ba đều cười, mỗi người nghĩ một cách riêng về hai chữ chủ báo và quản giáo.
Đồng nghiệp-chủ báo thứ hai vỗ vai tôi, nói nhỏ:
-Toa “kê” thằng X. chi vậy? Chỗ bạn bè cả mà! Nó viết gì, thây kệ nó. Toa phải tỏ ra philosophe chút chứ!
Tôi cười xuề xòa gật gù, nghĩ trong bụng: “ Tỏ ra philosophe là để yên cho nó nói bậy, bóp méo lịch sử chăng?”. Mà thôi, tôi dứt thắc mắc: cũng là phù phiếm luận cả!
Trên đường về, tôi nhớ lại bài Nói chuyện với chủ báo của “đồng nghiệp”-đồng ngủ ở Salem đề cập tới những “chức vụ” béo bở, ăn trên ngồi trốc, như Chủ nhiệm, Chủ bút, Tổng thư ký Tòa soạn v.v…mà thấm thía vô cùng, bật cười khan. Vâng, tróc da đầu, sần mình thì có! Không tin giở mũ ra coi, Lác khô ở dưới tóc còi ở trên. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!
T. biết không, tôi mừng hết lớn khi đọc nhận xét của một đồng nghiệp-đồng hương ở Troyes về T. rằng T “không có tham vọng làm mới chữ nghĩa”. May thay! Nếu không, chắc tôi phải tốn hao rất nhiều cho khoản điện thoại viễn liên hỏi T. mỗi khi có điều chi tôi không thấu đáo về vụ “làm mới” nầy!
Nếu làm mới chữ nghĩa bằng cách “chém” câu thơ với một chuỗi cú Xì-Lát /Xì-Lát/Xì-Lát (Slash) hay thay đổi vị trí một cái chấm, một cái phẩy, chắc tôi dư sức qua cầu. Hoặc viết ba bốn chữ dính xà nẹo (kiểu: Kế-thừa và fáthuy truiềnthống…tủinhục với nghèođói và zốtnát...), viết suốt một bài không cần phẩy, chấm, xuống hàng chi cả, chắc tôi cũng không thiếu khả năng. Hay “chế kiểu” như Kách mệnh (khẩn trương, sự cố, fản ánh, giản đơn, hồ hởi, con chữ, ùn tắt, hoành tráng…) chắc cũng không khó lắm. Kể cả chuyện đảo lộn vị trí thông thường của các chữ thông dụng, kiểu: xa xót, thầm thì, mốt mai, v.v…cũng chẳng có chi bí hiểm lắm. Nhưng “làm mới chữ nghĩa” kiểu: chỉ có mình ta nắm bắt được, thảy qua thảy lại trên tay chơi một mình thì…tôi đầu hàng!

*******
T.
thân mến,
Ngay từ khởi điểm, tôi đã sợ lạc đường. Rốt cuộc cũng lạc lối! Mới biết ý thức là một lẽ, giác ngộ là một lẽ khác. Tôi cảm thấy đã lạm dụng câu chuyện nản lòng của T. với một số đồng nghiệp để trút bỏ những ê chề năm xưa của riêng tôi với bạn thân và bạn văn. T. hiểu cho tôi hiện nay đầu óc vẫn còn lơ lửng vì mấy cái truyện cứ lởn vởn trong đầu mà cái tay vẫn xuôi xị! Làm sao ra khỏi cái nghiệp nầy, hỡi “đồng nghiệp” T.? Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa…
Đành rằng, như T, tâm sự: “Cũng nhờ chút đụng chạm nầy T. mới biết ra văn nhân, thi sĩ cũng có nhiều người háo danh. Họ làm đủ mọi chuyện để nổi. Thôi thì mình làm đủ mọi chuyện để được chìm vậy!” Thế nhưng, người đã yêu cầu: thân tôi cứ đóng nghìn đinh nhọn, xin chừa một chỗ trái tim tôi, liệu có thể điềm nhiên tọa thị “thiền” được chăng khi trái tim chưa bị đóng đinh?
Tôi đồng ý T. “lặng lẽ rời mép chiếu văn chương”. Tôi thì đã rời lâu rồi, nghe theo lời tâm tình của “đồng nghiệp” ở Florida (rằng trên chiếu văn chương):
-Nếu nạn khiêu vũ trên những quả trứng vẫn tiếp tục, chắc chắn mình sẽ tìm nơi khác rong chơi…
Và theo lời “đồng nghiệp” ở Paris:
-Anh thấy làm văn nghệ ở xứ người là một màn xê-xê-xê-đê (c.c.c.đ.), lại thêm lắm nỗi bửc mình, nếu có yêu văn nghệ thì hãy đứng xa xa mà ngó, nhào vô sẽ vỡ mộng…
Mình cứ để chiếu văn chương hực nóng bay lướt như thảm bay chở quí tiên ông tiên bà “đồng nghiệp” hả hê hóng gió, ngất ngưởng thù tạc đi T.! Chúng ta tìm một quán cóc lắt lay hay thảm cỏ xanh mượt tươi mát nhâm nhi cốc rượu họp bạn -nếu T. không thuộc nhóm mấy tay “trà đá chanh đường”- coi bộ thoải mái, thú vị hơn nhiều, đỡ đau đầu với “những vấn đề nhớn”, đỡ mỏi miệng vì phải nhe răng cười hoài…
Nhưng tôi không đồng ý T. “từ biệt văn chương mà không dám vẫy tay chào”. Văn chương có tội tình chi mà mình phải “phụ rẫy văn chương”. Mình có thể “thù người phản bạn, hận kẻ bạc tình”, nhưng ai lại nỡ hận thù Tình Yêu? Mình có thể lợm giọng vì ông cố đạo nham nhở, nôn mửa vì một ông thầy chùa sàm sỡ, nhưng ai lại nỡ chà đạp Niềm Tin? Cũng vậy, mình có thể buồn một văn, thi hữu, nản một thân hữu hay một ông chủ báo, một ông chủ nhà xuất bản, chứ sao lại nỡ ruồng rẫy Nàng Văn Chương?
Một đồng nghiệp-báo ở Cali đã viết cho tôi: “Gần như từ lâu, từ 1963 ở Sàigòn, khi báo chí thuộc thế hệ trẻ do Chu Tử dẫn đầu mang không khí Lương Sơn Bạc vào làng báo, người cầm bút Việt Nam dường như không còn thắc mắc là những điều mình viết ra có được nhã không, có được đúng không, có làm phiền lụy tới người khác không?...” Bây giờ cái không khí đó đâu đã tuyệt dứt, T. đừng lấy đó làm phiền. Vả lại “đồng nghiệp” nầy nhìn nhận -nhiều “đồng nghiệp” khác và tôi cũng cùng một nhận xét- vẫn còn có những “đồng nghiệp” xông vào “làng” vẫn còn giữ nguyên lòng trong sáng về chữ nghĩa, chưa trở thành người “cynique”(khuyển nho?), những người hồn nhiên, lãng mạn còn sót lại của một thế hệ “cynique”…

Một cố đồng nghiệp-đồng nghề-đồng bạn-đồng nhiệm sở ở Montréal nhận định:
-Tôi thấy hình như ít ai, nếu không muốn nói là không có ai, khi đã yêu, đã mê “nghiệp” cầm bút rồi lại có ý nghĩ bỏ “nghề”, lại càng không có chuyện đòi hưu non hay hưu già. Họ chỉ ngưng viết khi không còn có thể viết được, mất trí nhớ hay tim ngừng đập.
Một nghìn năm một vạn năm
Con tằm cũng kiếp con tằm nhả tơ

Cuối thư, tôi không còn gì nói thêm, ngoài việc nhìn nhận chính bài viết của T. mà tôi sẽ mang theo trong chuyến rong chơi các hoang đảo sắp tới đã gây hứng khởi cho tôi cầm bút lại. Lần nầy tôi viết trong tâm trạng tương tợ như tâm trạng T. khi viết bài đó. Và tôi mạn phép dùng câu kết luận của T. để kết thúc bài viết hôm nay như chính tay tôi viết:
“Lần đầu tiên tôi muốn viết với tất cả sự bồng bột trong lòng, với những điều mình nghĩ, không cần phải trau chuốc, đắn đo. Từ trước tới nay, tôi chỉ thích viết khi tâm tình mình đã lắng xuống, khi sự bồng bột đã đi qua. Lần nầy thì khác, tôi phải ghi lại những cảm nghĩ nguyên thủy của mình để sau nầy nếu mất đi người bạn (chỉ một lần gặp gỡ trên Xứ Anh Đào hoa mộng xa xưa), tôi vẫn còn chứng cớ rằng tôi đã nghĩ đến bạn bằng tấm lòng chân thật ngay ở buổi đầu...”
Thương mến,

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ tuyết, Mùa đông 2009
-Lê Tấn Lộc-

Saturday, January 10, 2009

CẢI TẠO ĐIÊN








Câu chuyện đầu năm

CẢI TẠO ĐIÊN


Mở truyện:

Vui xuân chớ quên Tết Mậu Thân…”, khẩu hiệu xa xưa, phổ biến rộng rãi khắp nước sau cái Tết máu lửa năm 1968, giờ đây liệu có còn hiệu quả trong các Cộng đồng Người Việt Hải ngoại trước hiểm họa gây rối loạn trong hàng ngũ các Hội đoàn Người Việt Tị Nạn Cộng Sản rải rác khắp nơi trên thế giới chăng? Nói không hay nói có cũng không hoàn toàn đúng. Tuy nhiên không thể phủ nhận hiểm họa mất cảnh giác.
Với tôi, Tết Mậu Thân vẫn còn gợi nhớ cảnh tang tóc Tết 1968. Nhưng giờ đây “Chớ quên Tết Mậu Thân” tác động như lời cảnh tỉnh chớ mải mê “vui xuân” với tiền tài, danh vọng cùng thành quả đã gặt hái được trong xã hội, rồi đâm ra tự mãn, kiêu hãnh, tự tôn tự đại, ỷ y trước hiểm họa vong thân, dẫn tới tình trạng triệt tiêu tiệm tiến tiềm năng xét mình thường xuyên, để điều chỉnh tầm nhìn của mình về bản thân, về tha nhân…Rượu xuân, thịt thà, bánh mức, hoa quả, dù muốn dù không cũng góp phần ru ngủ tôi trong hoan lạc, lửng lơ trong hơi men chếnh choáng…
Cho tới lúc thân bằng quyến thuộc ra về hết, tôi lượt xem các thiệp chúc xuân, tình cờ cảm thấy nhói tim với tấm thiệp ghi hai câu thơ, gửi từ quê nhà, của một bạn đồng tù đã cùng tôi chứng kiến câu chuyện cười ra nước mắt ở trại Z30D, Tết 1977…

Vào truyện:

“trong vòng rào kẽm gai, nó chia cho ta từng hơi thuốc,
từng củ khoai lang, từng cọng rau rừng…”

Bạn thân mến,
Bạn ngạc nhiên lắm không, nếu tôi thú nhận hai câu thơ của bạn đã khơi dậy trong tôi cả một vùng hoài niệm thương động nhưng rạt rào tình người, với những ai đã từng “kinh qua” Đáy Địa Ngục, Đại Học Máu mà, cũng như bạn, tôi muốn gửi bạn bè còn ở lại?
Từng…Từng…Từng…Mỗi chữ là một âm điệu xoáy sâu vào tim tôi, đưa tôi về lại dải đất quê hương tang thương, thuở còn chằng chịt những vòng kẽm gai chạy dài từ Ải Nam Quang tới mũi Cà Mau: Từng khối óc nát ngứu, từng cơ thể tả tơi, từng nấm mồ không tên, hàng hàng lớp lớp…
Bạn hẳn còn nhớ đêm giao thừa Xuân Đinh Tỵ 1977. Đêm ấy, bên chung trà hiếm hoi, qua khói thuốc lào, chúng ta nhắc tới hai người bạn nằm cạnh chúng ta trên chỏng tre ọp ẹp nhun nhúc rệp đã vĩnh viễn ra đi vì bịnh tật không thuốc men chữa trị:
"...
*Đào Thành Tá, Trung úy Trưởng cuộc Cảnh sát, đã có lần cầm chân Việt Cộng trong đợt “tổng công kích” Tết Mậu Thân, ở lô cốt Ngã Ba Hàng Xanh. Với sự trợ lực kịp thời của Biệt Động Quân, Tá đã giữ vững vị trí then chốt nầy và đã đẩy bật nhiều đợt xung phong tràn ngập của địch. Tá hơn tôi gần một con giáp, đã nếm đủ mùi ca ngâm với cộng sản ở miền Bắc và đã trắng tay dìu dắt vợ con vào Nam, theo làn sóng di cư năm 1954.

*Nguyễn Phát Đạt, Trung sĩ Địa Phương Quân -lọai kiểng- thuộc Tiểu khu Gia Định, vốn là tay chơi có tiếng ở miệt Lò Heo Cũ; vì dáng dấp loắc choắc, Đạt mang hỗn danh “thằng lùn mã tử”. Đạt vào đây sau một chuyến vượt biên bất thành, dù trước đó Đạt đã thành công ít nhứt mười vụ đưa người ra đi do Đạt tổ chức. Sau khi hốt khá nhiều “cây”, no nê với nhiều vụ “tống tình”(Đạt không ngần ngại kể đã từng làm “săng-ta” các bà có máu mặt khi xưa, các cô gái nõn nà mơ đến thiên đường nước ngoài), Đạt leo vội lên ghe, làm ăn cú chót…Nào ngờ, lần đó phân nửa khách của Đạt là…công an chìm!
Đạt còn kể, trước Tết Mậu Thân vài tháng, lúc bấy giờ đang trốn quân dịch, Đạt đã mặc quân phục, mang cấp bậc trung úy QLVNCH, làm sự vụ lệnh giả đến trưng dụng một xe Hồng Thập Tự quân đội, nói là đi tản thương, xổ cờ, hú còi inh ỏi, chở đầy thuốc trụ sinh và huyết thanh đánh cắp -hoặc mua lậu qua đường tham nhũng- của quân đội, chạy thẳng vào mật khu bán cho cộng quân đang điều quân gần Hậu Nghĩa. Do dịch vụ nầy, Đạt “đớp” được một nữ huyện ủy. Với sự dan díu đặc biệt nầy, Đạt tái diễn màn Trung úy dỏm xổ cờ dài dài…
Nội vụ đổ bể vì Đạt trót lẹo tẹo với một nữ quân nhân ngành Quân Y. Quá ghen với nữ huyện ủy, nàng mật báo cho An Ninh Quân Đội gài bắt quả tang Đạt đang xổ cờ trao thuốc cho một đơn vị cộng quân…dỏm! Tưởng “hồn cẩm miêu chết tại hộp nầy” nhưng…Đạt tuy ngắn đòn mà tay rất dài…Kết quả: từ trốn quân dịch, Đạt leo lên chức Trung sĩ ĐPQ đặc trách địch vận!
Khi Đạt bước vào trại “cải tạo”, anh em đề nghị trùm poncho “bề hội đồng”, xin hắn tí huyết. Tá, lớn tuổi nhất trong bọn chúng tôi, ôn tồn can gián:
-Nó điếc -điếc thật đấy, tự ý gây thương tật để dễ bề trốn quân dịch mà- không sợ súng. Dĩ nhiên tội nó tày trời. Nhưng xét cho cùng, chính xã hội thời đó đã tạo cho nó có cơ hội làm bậy. Vả lại, các cậu cũng dư biết thân phận của thằng trốn quân dịch mà lại nghèo xơ nghèo xác. Thực tình mà nói, tớ chẳng thấy có cách chi nó không làm bậy để có tiền “chung”(đóng hụi chết!). Thêm vào đó, có thể nó chỉ là con cờ thí trong tay bọn tham nhũng gộc. Các cậu còn lạ gì vụ bà tướng (có khí chính ông tướng) bán gạo thóc, súng đạn (bán cả xe tăng nguyên xi) cho giặc! Thế nên, tớ đề nghị dung nạp Đạt vào hàng ngũ chống “ăng-ten”. Các cậu tin tớ đi! Tớ có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực phản gián…
Quả thật, Tá có lý. Hai tháng sau, bọn “quản giáo”, qua hệ thống “chó săn”thu nạp Đạt làm điềm chỉ viên. Và Đạt đã xuất sắc thành công trong “điệp vụ” khó khăn nầy: gây tin tưởng nơi bọn cai ngục (gài bẫy bọn chó săn làm tiền thân nhân thăm nuôi anh em, rồi tố cáo với quản giáo), đồng thời ngầm báo cho anh em -qua Tá- hệ thống ăng-ten chi chít trong trại giam bằng các thế cờ tướng đấu trí với Tá và tôi, qua hệ thống mật hiệu đã trao đổi với nhau trước.
Kỷ niệm vui buồn giữa Tá, Đạt và chúng tôi kể sao cho xiết. Có điều thái độ của Tá đối với Đạt nhắc nhở anh em chúng tôi: kẻ thù chính là cộng sản chứ không phải anh em chúng ta, cho dù là anh em lạc hướng nhất thời như Đạt, anh em theo thành phần thứ ba thờ ma cộng sản trước đây, hay anh em ăng-ten bị cộng sản dụ dỗ với vài đặc ân nho nhỏ, như cho thăm nuôi lâu hơn tí, thỉnh thoảng cho vợ ở lại ngủ đêm với mình trong “căn nhà hạnh phúc” để cho chúng có cơ hội vạch vách xem trò con heo sống động miễn phí; và dĩ nhiên với lời hứa hẹn cho sớm trở về đoàn tụ với gia đình!
Riêng tôi, trước đó thái độ quân tử Tàu “vuốt râu ải ải” khiến tôi thẳng thừng tuyên bố: “Kẻ thù, tôi tha được. Nhưng bọn chó săn thì tôi không chịu được. Je ne peux pas sentir les mouchards”! Do đó, đã không biết bao nhiêu lần tôi trầy vi tróc vẩy vì những buổi “làm việc” với bọn cai ngục.
Dẫu sao, đêm nay tôi vẫn còn cười được trong đêm xuân khi nhớ lại lần cùng Dê Húc Càn quẫy gánh c…( gánh “vàng” khôn) đi bón rau xanh trong trại tù Long Giao: DHC nổi hứng ca vang “mỗi bước ta đi một hai ba cục c…rớt”-thay vì mỗi bước ta đi, giặc tan bao đồn bót của quân Bắc xâm- với kết quả hai thằng vào năm thui da trong conex kỷ luật! Và chốc nữa đây, tôi lại được dịp cười ra nước mắt…Bởi vì, gần như cách hai đêm là có màn “dạ diễn”:
Quá nửa đêm, khi kẻng báo đổi phiên gác, từ phía trong cùng nhà giam Hà trần truồng la hét, vỗ ngực thình thịch, cười ròn rã thật lâu. Sự kích động kéo dài non một tiếng đồng hồ. Sau đó Hà ngã vật xuống sàn tre, quấn chăn ngủ tiếp như chẳng hề có chuyện gì xảy ra, mồm lải nhải:”Allô, Allô…Phắc!”. Cùng lúc Hải bật dậy, sửa lại áo quần, đứng nghiêm, giơ tay chào kiểu nhà binh, la lớn:
-Báo cáo cán bộ, tôi có đơn khiếu nại xin trình!
Bình tĩnh chờ trận cười chung quanh chấm dứt, hết sức nghiêm chỉnh Hải bỏ tay chào xuống, tự hô “thao diễn nghỉ, nghiêm” rồi bắt đầu “trả bài”:
-Hạ sĩ nhứt Hồ Giang Hải (…) kính gởi Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân QLVNCH (hệ thống quân giai). Trân trọng thỉnh cầu Đô Đốc (…) cho tôi truy lãnh số lương hạ sĩ nhứt mả tôi chưa được lãnh, kể từ 30 tháng 4 năm 1975 vì lý do tôi không rõ biết (…), cứu xét thăng cấp Trung sĩ cho tôi (…). Hết! Thao diễn nghỉ, nghiêm, tan hàng, cố gắng!
Nhà giam rền vang tiếng cười, trong khi Hải hết sức tự nhiên nằm lại chỗ ngủ và gần như liền tức khắc tiếng ngáy đều đều vang lên …
-Toa có biết tại sao Hà rú lên giữa đêm khuya không? Tá hỏi tôi.
-Điên chăng?
-Dĩ nhiên! Tiếng rú mê ly đó là kết quả của cuộc truy hoan với “chị năm” đấy!
-Lạ nhỉ? Tù gái nhốt riêng mà!
-Ậy! Chị năm ngón tay ấy mà…
Rồi Tá kể cho tôi nghe chuyện Hà và Hải:
Hạ sĩ I Vũ Mộng Hà, Truyền tin Không Quân cùng hạ sĩ I Hồ Giang Hải, Truyền Tin Hải Quân được kách mệnh ưu ái giải phóng khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà. Phân Khoa Tâm Trí. Đôi hạ sĩ đội ơn giải cứu, bèn mời một số dép râu đi ăn phở Pasteur. Xong, bộ đội tạ từ nhân dân đi “làm sạch” thành phố. Hai chàng hạ sĩ ngồi lại đấu láo bằng mật mã truyền tin, kiểu ai nói nấy nghe. Thỉnh thoảng chêm vài tiếng có vẻ bí mật, đại khái như: nghe rõ trả lời, allô cô-ca bờ-ra-vô, đại bàng gọi chim sẻ, cắc ké gọi kỳ nhông, cá he gọi nhạn trắng, kỳ lân gọi rồng vàng, v.v…Các ngài cách mạng ba mươi nghe lạ tai, lẻn đi gọi bộ đội…
Khi nón cối cùng đoàn tùy tùng “băng đỏ” tới lại đúng lúc hai chàng hiệp sĩ hạ sĩ tỉnh bơ rời bàn nhậu quên…trả tiền! Thầy chú lục soát, chẳng có hiệp sĩ nào có một teng dính túi, cũng chẳng có giấy “trả về nguyên quán làm ăn lương thiện’ của Ủy Ban Quân Quản, gọi châm chọc theo kiểu Sài Gòn là…
Cái Bang Khuân Sảng!
Bị hốt về đồn công an phường, nhị vị hạ sĩ quên mất cấp bậc khi đối chất với tên ác tăng nằm vùng đặc trách CIA vụ. Trước sự ú a ú ớ của hai cựu nội trú bệnh viện tâm trí, tên trốn lính đội lốt thầy chùa bèn phán: Vũ Mộng Hà thực ra là Đại Tá Quách Huỳnh Hà, nguyên Chánh Văn Phòng Đặc Biệt Phủ Tổng Thống “ngụy”. Và Hồ Giang Hải thực ra là Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Chiến Thuật “ngụy”! Thế là, ngoài tội ăn quịt nhân dân, nhị vị đại tá và phó đề đốc “ngụy” ta thêm tội man khai lý lịch, với ý đồ chống phá cách mạng.
Suốt hai năm biệt giam ở Chí Hoà, hai chàng ngự lâm pháo thủ được cách mạng chiếu cố tận tình qua nhiều cuộc tra vấn, có “chạy điện” trợ lực -có lẽ chưa đúng chữ, hay đã quá chữ, nếu không hai chàng đã tỉnh trí lại rồi… Cũng may nhờ đối chất với các thuộc cấp của đại tá Hà và phó đề đốc Thoại (cùng bị nhốt ở Chí Hoà), hai cu cậu được minh oan tội man khai lý lịch.
Thế nhưng guồng máy điều tra của cách mạng khó mà thông suốt. Hai hạ sĩ I khùng của QLVNCH, trong tình trạng chờ giải ngũ vì lý do sức khỏe, được cách mạng nâng đỡ biến thành hai tay xê-i-a ác ôn, cực kỳ nguy hiểm, “toan giở trò Tôn Tẩn giả điên, âm miêu dùng khổ nhục kế đánh lạc hướng sự cảnh giác của quần chúng hầu xách động nhân dzân phá hoại nhà nước ta…”
-Thế là, Tá kết thúc, Căn Cứ 5 Rừng Lá cũ, bí hiệu
Dzách-ba-mươi-dzê, trại giam những thành phần bị liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm (tình báo, cảnh sát, công an, chiến tranh chính trị, đảng phái “phản động”, các nữ điệp viên Thiên Nga thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, các lực lượng Phục Quốc…) được vinh hạnh đón tiếp hai “giới chức cao cấp” do CIA gài lại: Hải, Hà! Toa tin moa đi, đám thầy giáo biệt phái ngoại ngạch bị nhốt ở đây, đối với chúng nó, chắc chắn là “Xịa”. Bởi moa biết, khi còn ở ngoài Bắc, danh từ biệt phái đối với chúng nó nặng ký lắm: đặc biệt phái nhiệm, nghĩa là sư tổ ngành mật vụ, loại do KGB đào luyện. Rồi toa sẽ thấy: chỗ nầy cũng như nơi khác, chỗ nào có trại giam chính trị của cộng sản, cho dù toa có vô tình đi lạc vào cũng chẳng bao giờ được thả ra, trừ phi…trừ phi…
Tá bỏ lửng câu kết.
-Trừ phi? Tôi gạn hỏi.
-Hãy còn sớm để nói ra điều moa linh cảm. Toa chờ xem. Không lâu đâu. Vài ba lần thăm nuôi nữa, ắt sẽ rõ…
Vậy mà tôi chưa kịp rõ, Tá đã vĩnh viễn nằm xuống cùng Đạt. Vậy mà đêm nay tôi vẫn còn cười được với hoài niệm về Dê Húc Càn, với Hà điên, với Hải khùng, còn mỉm cười rạt rào thương cảm liên tưởng tới những người nữ cùng chung số phận bị nhốt kín trong nhà giam cận kề…
Nhưng ngày mai, đúng kỳ hạn thăm nuôi, tôi sẽ nói gì đây với vợ con Tá, Đạt cùng vợ con tôi ở khu thăm nuôi? Cả ba gia đình thường hẹn nhau cùng đi “bồi dưỡng” cho bọn khốn cùng chúng tôi để chờ… được “phục hồi quyền công dân” (sic!), dù chúng tôi vốn sinh ra trên mảnh đất hình cong chữ S không ngừng bị Tàu với đủ các sắc tộc, Tây cùng đám da đen rạch mặt, Mỹ cùng các đồng minh lông lá và Nga cùng đàn em cái bang thay phiên nhau hiếp dâm, dù ba đời cha ông chúng tôi chưa hề mang dòng máu lai căng!



..."
Bạn thân mến,
Sau cuộc chiến tương tàn mấy mươi năm, đêm đầu xuân nầy, nếu bạn hỏi tôi còn nhớ gì chăng, câu trả lời sẽ võn vẹn : “Vui xuân chớ quên Tết Mậu Thân”!..

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, Xuân 2009
Lê Tân Lộc









Sunday, December 21, 2008

Ối Cha Cha! Thầy ơi là thầy!


Phiếm “loạn”(III)

Ối Cha Cha!
Thầy ơi là Thầy!
“Sàn địa ngục được lát bằng ý hướng tốt”
(L’enfer est pavé de bonnes intentions)

Ai trong chúng ta, ít nhất một lần, đã không nghe lời khuyến nhủ rất “phi-lô-dzóp”(philosophe): «Muốn nói ngoa, làm “Cha” mà nói!»? Tưởng giễu cợt, chọc đời cho vui. Ai ngờ quá chí…ný: càng cao phẩm trật, Cha càng nhiều uy quyền nói ngoa, nói trên đầu cha thiên hạ luôn! Mọi người hẳn còn nhớ vụ cờ vàng cờ đỏ trong kỳ Đại Hội Trẻ Thế Giới tháng 7/2008 vừa qua trên Xứ Đại Thử.
Có lẽ truyền thống Á đông “thượng đội” đã dần dà trở thành luật bất thành văn: vốn thường xuyên là nạn nhân của tập đoàn bề trên chuyên ngồi trên “phát huy óc sáng tạo”, luôn khai thác chiêu bài hấp rẫn “tính độc đáo đầy dzân tộc tính” của nhân rân ta, dân da vàng mũi tẹt chúng ta giờ đây lại “được” thuyết phục kèm lời răn đe rằng:
«Muốn nói bậy, làm “Thầy” mà nói!»

Xin hãy theo dõi -mới đây thôi, còn nóng hổi- vụ “Xì” mà cây bút Thiện An Lạc gọi là “tình pháp duyên tăng”, cũng tại cái Xứ Kangaroo kiều diễm còn lưu nhiều dấu vết thời hoang dã. Và vụ đoàn tùy tùng của “Thần”&“Thánh” & “Công Ty” truyền hịch cho thứ dân hãy khấu đầu tuân thánh chỉ cấm đụng tới “THẦY” (Tăng). Người viết không biết nên thở dài lâm râm than van “Thánh Thần ơi!” hay kêu trời như bộng:“Trời đất quỷ thần ơi!”…

1-Thôi thì đủ thứ thầy, khổng lồ có, nước cơm chắc có. Thầy nói, đệ tử nghe, không nghe cũng không được nói ngược chiều. Đường ta, ta cứ đi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ thị phi của đám “dân ngu khu đen” toan bề “phạm thượng”!
Thầy ngự trên cao (ngồi trên) uy nghi lẫm liệt như CHƯ THẦN; ngay hàng đầu, phủ phục dưới chân Thần, cờ hiệu cấm trên lưng, là ba đệ tử ruột oai phong như TAM THÁNH; phía sau là đám sai nha sì sụp lạy… Kẻ yếu bóng vía trông vào, không khỏi hồn phi phách tán!
Có lẽ từ đó mà cái bịnh “ham” làm thầy rất dễ truyền nhiểm: khi vụ xì-căng-đan “thầy trai-đệ tử gái” nổ ra, tại hạ có góp một bài viết -xin nói rõ một bài viết chứ không phải ý kiến độc giả. Liền tức khắc, trong đám sai nha có ngay một vị hăng tiết vịt nhào lên mạng, thay cho Tam Thánh, dạy đời rằng tại hạ ngông nghênh, không có lòng tự trọng (sic!), vô lễ với ba ông thánh đã “nhân danh nầy nọ” hiệu triệu quốc dân đồng bào “che, ém, xù”, với luận điệu hấp tấp là ba vị kia, nếu không là “thầy” cũng là “đàn anh” của tại hạ!
Ấy! Ấy! Xin cụ chớ có hung hăng con bọ xích, nhỡ hố thì quê một cục đấy nhá! Một bạn đọc “xốn mắt” đã phản bác cụ rồi. Tuy nhiên, cũng xin nhắc lại cụ, tại hạ năm nay 74 tuổi ta, có làm thầy -thầy giáo- chứ chưa dám trèo cao làm thầy tu, dẫu có thời tại hạ đã sống “nửa kiếp thầy tu, nửa kiếp tù” trong trại “cải tạo” CS.
Theo vị độc giả trên, trong Tam Thánh, người cao niên nhất vẫn nhỏ hơn tại hạ 10 tuổi. Chưa kể có vị “thua” kẻ hèn mọn nầy non 20 niên kỷ! Qua cách viết rỗn rãng trên Net , tại hạ đoán cụ chắc còn lâu lắm mới được trợ cấp tiền già. Thế mà chưa chi cụ đã dạy tại hạ kính lão đắc thọ!
Kể ra cụ cũng khôn đấy, biết lựa chỗ mà “thượng đội”. Nhưng tại hạ cũng xin mạn phép lưu ý cụ chớ có thượng ẩu thượng tả, coi chừng thượng…nhầm chỗ phải gió mà tiêu tán đường cụ nhá!
Về điểm nầy, người viết thoáng nhận ra “tâm tính” rất ư là “an-nam ta” của cụ; hể đuối lý là giở giọng lếu láo, dở hơi, kẻ cả với người đối thoại hoặc tranh luận với mình:
-Đằng ấy chỉ đáng là đàn em, là học trò của “đàn anh” của tớ!
Ấy! Ấy! Cụ cho tôi hỏi: Chẳng hay cụ và “Còm-pa-nhi” Tam Thánh của cụ có vị nào:
-đã làm thầy giáo chưa? Nếu có, xin cho tại hạ biết quí vị đã giảng dạy ở trường nào. Để tại hạ tiện bề ra mắt bậc thầy mình cho phải đạo.
-đã xuất thân trường Võ Bị nào trước 1963 và đã ra trận lần nào chưa? Để tại hạ trình diện bậc niên trưởng (“đàn anh”) của mình, cho đúng hệ thống quân giai, cho đúng truyền thống quân đội.
Sẵn dịp, xin cho biết, cụ và 3 ông thánh kia cùng đoàn sai nha tùy tùng nằm trong loại thầy nào, liệt kê sau đây: thầy bói, thầy bùa, thầy cai, thầy cãi, thầy chùa, thầy cúng, thầy dòng, thầy đội, thầy đời, thầy đờn, thầy giáo, thầy gồng, thầy hù, thầy ký, thầy lang, thầy ngãi, thầy pháp, thầy thông, thầy thuốc, thầy tuồng…
Rất tiếc cụ đã không chuyển bài viết “trứ danh” của cụ cho báo Việt Luận (có mở một diễn đàn cho bạn đọc) để bá tánh không có computer có dịp thưởng thức lối suy nghĩ và cách hành sử cường điệu, vô bằng “cao cấp”, cỡ bậc “thầy” (thầy gì nhỉ?) của cụ. Mới hay lắm thầy ít thợ thường hư bột hư đường là thế!

2- Một điều đáng lưu ý: Không thấy Tam thánh và còm-pa-nhi tận tụy cứu giá lên tiếng về bài viết của cây bút Trương Minh Hòa liên quan tới quá trình sinh hoạt chính trị của vị “cao tăng-thần thánh” TPH trong nhóm Ấn Quang thiên cộng của vị “ngồi trên” Thích-Xuống-Đường mà “ngài” là một trong những thành phần nồng cốt; hoặc để phản bác TMH dựng đứng bôi nhọ “tôn sư” của mình thân cộng, hoặc để biện minh cho “ngài”, kiểu “gặp thời thế thế thời phải thế” -thế xu thời nhằm tạo cho mình một thế đứng, một số vốn chính trị hữu dụng sau nầy…Cho nên độc giả mất cơ hội đọc tới đọc lui các luận điệu cố hữu “gây chia rẽ trong Cộng đồng Người Việt Hải ngọai”, “phá hoại Phật giáo”, “bất kính với giới tăng ni”v.v…,vốn là các chiêu bài “ruột” của phe nhóm cứu giá!

3- Một điều nữa cũng đáng lưu tâm mà giới cầm bút nên “rút kinh nghiệm” (nói rập khuôn “quản giáo”) là đụng tới giới tăng lữ thường là đụng tới một vùng cấm kị (tabou) rất nhạy cảm (sensible) đối với những ai thường có khuynh hướng đồng hóa Cha hay Thầy với Chúa và Phật. Cho nên, cho dù chỉ làm công việc thông tin -trung thành với nhiệm vụ truyền thông- nhà báo hay nhà văn vẫn luôn đối diện với nguy cơ bị “trù đập”, đôi khi rất tinh vi, bị “trả đũa” hoặc công khai hoặc ngấm ngầm, tàn độc…Phe “bảo giá” gần như mặc nhiên chủ trương: Cấm “người ngoài cuộc” chỏ mũi vào chuyện “phật sự”, rọi đèn pha vào những góc cạnh u minh trong giới được mệnh danh “lãnh đạo tinh thần” của quần chúng. Hãy để yên cho chúng tôi “gói ghém nội bộ”, kín đáo giải quyết “trong vòng thân mật”. Mọi sự xin phó thác cho Đèn Trời soi sáng những vùng u ám của thế thái nhân tình…
Vả lại, công chúng cũng đã thấy nhan nhản một thực tế không chối cãi được: hai vụ gần đây nhứt được đưa ra ánh sáng -trong vô số vụ còn bị ém nhẹm trong bóng tối- một ở Cali, một mới đây ở Úc, cho dù các báo có phanh phui cách mấy các vụ bê bối trong hàng ngũ tu sĩ -tu hành hay tu xuất- các đương sự vẫn ngang nhiên tiếp tục chễm chệ “ngự” trong các kiểng chùa, như gia chủ đích thực, bất di bất dịch, không mảy may rụng tới một sợi lông…chưn! Nói cách khác, các đương sự khoái trá cười mỉa thách thức công luận. Và công chúng chỉ còn biết ngao ngán lắc đầu: “Quá ồn ào mà chẳng được chi!” (Beaucoup de bruit pour rien!).

5- C
huyện “Xì” tưởng thế đã êm, vì nghe đâu cả hai bên -bên muốn phơi bày sự thật, bên muốn “xù” thỏa thuận tạm ngưng tranh luận. Vả lại thiên hạ sự cũng đã bắt đầu bớt chú ý theo dõi vụ “xì” nầy. Bất ngờ, mới đây, một trong “Tam Thánh” -Nhất Thánh, xin lỗi, Nhất Gian, xin lỗi Nhất Giang- lại hâm nóng chuyện xì, dàn trải nỗi lòng “trăn trở” trên những 8 trang báo (Vụ bà Diệu Đức. Những chi tiết chưa hề được tiết lộ) trên Văn Nghệ, “Giai Phẩm Xuân Kỷ Hợi 2009”!
Thoạt nhìn tựa bài tưởng đâu lại có chuyện gì kinh thiên động địa nữa rồi! Hóa ra chẳng có gì mới lạ dưới ánh mặt trời. Đọc thoáng qua, tưởng đâu “ nhà báo ba chục năm hành nghề” ưu tư cho tiền đồ ngành truyền thông cùa Cộng đồng Người Việt hải ngoại hay quyết liệt xả thân bảo vệ Phật pháp (!?). Không, tuyệt nhiên không. Trái lại là đàng khác!
Lá thư của bà Diệu Đức gửi các báo và các tình tiết về vụ xì-căng-đan cũng như diễn tiến vụ xì nổ chiếm hầu hết các trang “trang trải”. Một phần không kém quan trọng dùng để “quật” bà Diệu Đức (phê bình cách cư xử của bà trong quyết định đưa vụ xì nầy ra ánh sáng), “tấn công” ông Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Việt Luận và một số cộng sự viên của tờ báo. Nhưng đọc kỹ hơn sẽ nhận ra thâm ý của tác giả bài viết: tự quảng cáo, tự đánh bóng, tự cho mình sáng giá, quang minh chính đại, cao cả!

a-Cho dù Nhất Giang có nói gì đi nữa, ông cũng không thể phủ nhận ông thiên vị, nếu không muốn nói là xả thân bênh vực cao tăng TPH, dù ông khẳng định 15 năm rồi không có liên lạc với vị hòa thượng nầy cũng như không lui tới chùa Phước Huệ. Cung cách cũng như những bài viết của ông đã nghiễm nhiên cho thấy như vậy.

b-Ông NG rất hãnh diện là nhà báo với ba chục năm hành nghề. Và tôi đã hết sức ngạc nhiên thấy ông phổ biến giấy chứng nhận đã học tập cải tạo, có dán ảnh, có đóng dấu CHXHCNVN do Cao Đăng Chiếm ký tên. Chả nhẽ ông ấy muốn lòe thiên hạ ta đã ở tù CS cả thảy 31 ngày, ta là hạ sĩ phục vụ tại nhật báo Tiền tuyến của QLVNCH? Chắc chắn ông NG phải biết các nhà văn, nhà thơ gốc Quân đội Phan Lạc Phúc, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Viên Linh v.v…TTT đã yên nghỉ. Có dịp tôi sẽ hỏi ý kiến PLP, TTY, VL…Không giấu ông NG, tôi cũng có một thời gian làm việc ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị…Chả nhẽ gia sản làm báo của ông NG được tóm gọn ở các giấy chứng nhận quái ác đó? Chả nhẽ đó là bằng cấp đã làm báo sao hở ông NG? Ông lại còn gièm xiểm mấy cái vụ “lon lá”, “bằng cấp”. Chi vậy? Bằng cấp không làm nên con người và lon lá không chứng tỏ tư cách của người đeo nó trên cầu vai. Tuy nhiên, vì việc phân công trong xã hội mà các thứ nầy phải có. Ông NG đã là quân nhân, tôi không cần dài dòng, chắc chắn ông đã rõ. Cũng có một điều không sửa chữa được: trước 75, tôi là hạ sĩ thì qua đây tôi không thể “cương” tôi là đại úy và ngược lại. Bằng cấp cũng vậy, trước 75 và sau 75 cũng cần minh bạch.
Chắc ông NG cũng đã nghe qua chuyện nầy: Bên nhà, hắn là trung-sĩ y-tá, sang đây hắn tự xưng là trung-tá y-sĩ! Đó mới là điều đáng nói thôi: nổ sảng, không có căn…
Chuyện hai ông “thánh” còn lại, Hồ Ông và Nguyễn Vy Túy, tôi xin miễn bàn vì không được đọc các bài của các ông ấy viết. Sở dĩ tôi có đề cập tới ba vị là vì quí ngài đã cùng ký tên một thông báo liên quan đến vụ Diệu Đức-Phước Huệ. Cũng như Nhị Giang là ai tôi cũng mù tịt. Cũng chẳng liên quan gì đến vụ DĐ-PH, ông nêu ra chỉ để so sánh tuổi với Dũng-Việt Luận. Chi vậy? Thừa giấy vẽ voi chăng? Hay để thêm nhưn thêm Nhị? Còn danh xưng Ba Ông Thánh không phải do tôi đặt ra, tôi chỉ thấy trên thư độc giả đăng trên Việt Luận.

c- Chuyện “lỗi lầm nghề nghiệp” mà ông NG gán cho “anh em bên Việt Luận” tôi muốn lạm bàn đôi chút. Một nhà báo “lão thành”, với ba chục năm trong nghề:
-đến tòa sọan một tờ báo khác cùng nhận được thư của một độc giả yêu cầu đưa ra ánh sáng một vụ xì căng đan liên quan đến một nhân vật của công chúng (personnage public) như báo của mình, tìm cách “đi đêm” để đưa nội vụ vào bóng tối,
-tiết lộ các câu chuyện trao đổi riêng tư giữa đồng nghiệp liên quan tới sống còn của các báo lien hệ,
-tiết lộ tên thật của một đồng nghiệp, cũng như mình, giữ trách nhiệm điều hành một tờ báo,
v.v…
có phạm lỗi lầm nghề nghiệp chăng? Và tung lên mặt báo những điều trên đây nhà báo “lão thành” nầy có đối xử tử tế, lịch sự với một đồng nghiệp nhỏ tuổi hơn mình mà mình muốn làm đàn anh hay bậc “thầy” chăng?

Một vài góp ý trên đây xin được chia sẻ với bạn đọc Việt Luận để tạm kết thúc chuyện dài nhân dân tự vệ “báo chí Việt ngữ hải ngoại”…

Thôn trang Rêu Phong, Xứ Tuyết, Mùa Giáng Sinh 2009
Lê Tấn Lộc

Về những mùa Giáng Sinh


Tản mạn
Về những mùa Giáng Sinh

*Giáng Sinh trong lao tù.

Người nữ “phạm nhân” bên kia vách conex “kỷ luật” của trại cải tạo Hàm Tân-Z30D cất tiếng hát “Đêm Thánh Vô Cùng” trong đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời với anh chị em đang chịu trăm cay nghìn đắng, khổ nhục đoạ đày trong vòng rào kẻm gai do lũ vô thần tạo dựng khắp nơi khi thành phố Sài Gòn mất tên…Bên nầy vách, tôi tiếp sức giọng ca tuy thánh thót nhưng hầu như hụt hơi vì thiếu dinh dưỡng trầm trọng; cũng trong tình trạng thiếu hơi. Conex kỷ luật được ngăn đôi, nam một bên, nữ một bên. Không thiếu conex, nhưng thiếu tình người: bọn cai ngục muốn giảm thiểu tối đa diện tích chỗ nằm và dung lượng không khí cho những người bị tống vào conex mà chúng gán tội “thiếu tinh thần giác ngộ kách mệnh, thiếu thiện chí học tập”.
Người nữ bên kia vách nghe đâu thuộc lực lượng Phục Quốc, tôi, sĩ quan QLVNCH. Một nam bên nầy, một nữ bên kia, đói, khát, ngày nóng như điên, đêm lạnh như cắt, “độc thân tại chỗ” như mọi quân, cán, chính và thường dân bị cho đi “tập trung cải tạo”, cất tiếng hòa ca đón Đêm Noel 1977 không ánh đèn, không trăng sao, trong một khám tối tí teo nằm trong nhà tù nhỏ đặt trong nhà tù vĩ đại cho cả nước. Conex kỷ luật, phân nửa nằm bền nầy, phân nửa nằm bên kia rào ngăn chia hai khu nam, nữ “phạm nhân”.
Bài thánh ca cùng xướng tạo cơ hội tốt cho chúng tôi đồng cảm thân phận tù đày, xa cách mọi người thân. Chắc hẳn hai đứa đều có tâm sự riêng…Tôi buồn rầu nghĩ tới một người rất xa xưa, chỉ một lần chớp nhoáng xuất hiện trong khuôn viên đại học Xứ Anh Đào năm nào rồi ra đi biền biệt, giờ đây xiêu lạc hà phương -biết đâu chẳng cùng chung số phận tù đày như người nữ bên kia vách- khe khẻ ứng khẩu, ngâm nga:
Thôi em về với chiêm bao
Vầng trăng đơn chiếc dầu hao nửa đèn
Mình tôi vò võ đêm đen
Nằm trên sắt lạnh nghe thèm thịt da

Bất ngờ bên kia vách người nữ, có lẽ cùng tâm trạng, tiếp nối dòng thơ bất chợt:
Thôi em về với xót xa
Tình mươi năm cũ giờ qua mất rồi
Bây giờ mỗi đứa mỗi nơi
Nhớ nhà tê tái vang lời thánh ca

Cảm kích, hứng khởi, tôi cất cao giọng hát:
Ave Maria! (Ave Maria!)
Cầu xin Đức Mẹ (Cầu xin Đức Mẹ) ban cho Ơn Lành…

Cùng lúc chuông nhà thờ ngân nga ngoài vòng kẻm gai của trại tập trung lao động khổ sai, có lẽ từ một giáo đường hoang vắng, cô quạnh vì thời cuộc…
Chuông nhà thờ đổ mệt
Tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian mưa

Hình như, cô nàng “không tên” được ra khỏi conex trước tôi. (Bài thơ ứng khẩu liên hoàn nầy, tôi phổ nhạc sau đó, tựa đề “Đêm nghe Thánh ca”). Chưa kịp hỏi tên nhau cũng như chưa được một lần thấy nhau. Cho nên, với cô nàng tôi cũng là anh chàng “không chân dung”!
Vài tháng sau, toàn bộ nữ “phạm nhân” nầy được chuyển đi nơi khác. Nhìn những nữ chiến hữu nối đuôi leo lên xe tôi nghĩ rằng có lẽ cũng như tôi tự hỏi nàng là ai, nàng cũng sẽ tự hỏi chàng là ai trong đám con trai đứng lố nhố sau vòng kẻm gai chứng kiến nàng và các bạn đồng tù chuyển trại…

**Giáng Sinh trên đất khách.

Đám công nhân thuộc Nghiệp đoàn tài xế bus, métro, Công Quản Chuyên Chở của Thành phố Montréal -thành phần được ưu đãi quá mức- “chung thân bất mãn”, lúc nào cũng chực chờ làm áp lực thường xuyên đòi hỏi tối đa đặc quyền đặc lợi, nhưng lợi dụng giới sử dụng phương tiện chuyên chở công cộng làm con tin để các yêu sách của họ được nhanh chóng thoả mãn. Và họ có thói quen “chiến thuật” là đình công vào…mùa đông băng giá, lúc hàn thử biểu tuột xuống hơn -30 độ C! No bus, no metro giữa mùa tuyết băng thần sầu quỷ khóc, quí vị thử nghĩ!
Năm đầu tiên đặt chân trên vùng đất tạm dung, chân ướt chân ráo, tôi đơn độc lầm lũi mưu sinh, đường sá bình thường đã mù tịt, mùa đông lại càng mù mịt lối đi lối về. Trăm sự chỉ còn biết trông nhờ vào bus, métro. Thế mà mấy ông cố nội “siêu” tài xế lương lậu hậu hỉ lại nỡ nhẫn tâm “chơi khâm” dân ngu khu đen lặn lội trong băng tuyết với đồng lương tối thiểu nuôi sống gia đình trên xứ lạ! Lại còn thêm cái nạn kỳ thị ngấm ngầm của dân bản xứ: lên bus hỏi về các trạm ngừng để dễ tìm đường, hỏi tiếng Pháp, quan tài xế trả lời tiếng Anh và…ngược lại. Ra cái điều bọn immigrants chúng bây không xứng đáng sử dụng ngôn ngữ của Molière, Shakespeare…
Mùa đông năm ấy, 28 năm về trước, nơi tôi tìm được việc làm là vùng nói tiếng Anh. Vào đúng ngày Noel tới phiên tôi trực cơ quan. Và đúng ngày đó có băng giá trơn trợt (verglas) mà không có bus, métro! Ra “đứng đường” giơ ngón tay cái đón xe xin quá giang, dưới cái lạnh nứt đá -32 độ C (-42 độ C với ảnh hưởng gió!) chân tay, mặt mũi tôi không còn cảm giác. Tôi có cảm tưởng sắp thành tượng băng như binh lính của Nã Phá Luân đệ I trong lần lui quân thảm bại từ Nga (Retraite de Russie) năm xưa!...Nhiều xe phớt tỉnh chạy qua. Một số dừng lại, ngôn ngữ bất đồng: Ả rập, Tàu, Khờ-me, Lào, Ấn Độ, Phi Châu, v.v…chỉ thạo tiếng Anh, mà tôi thì bập bẹ Ăng-lê, không đủ chữ diễn tả rõ yêu cầu. Sau cùng một ông da trắng dừng xe, tôi vội vã sấn tới:
-Ông nói tiếng Pháp được không? (Do you speak French?)
-Tôi là người Pháp mà ông! (Mais je suis français, monsieur!)
-!!!

Hết phiên trực, tôi lại cuốc bộ ra đường cái đón xe xin quá giang đi lễ chiều ở nhà thờ Marie-Reine-du-Monde, trung tâm thành phố Montréal. Giáo đường nguy nga, đồ sộ nhưng…trống vắng! Vị chủ tế trấn an giáo dân, vì thời tiết quá khắc nghiệt, ai không đến dự Thánh lễ được sẽ không có tội.
Tan lễ, một lần nữa tôi lại phải “đứng đường” dưới cơn bão tuyết càng lúc càng dữ dội xin quá giang về nhà, ở tận cực bắc thành phố! Lúc di chuyển ra lộ cái, từng cơn giông cực mạnh xô tôi dính cứng vào hàng cây trên lề đường…
May thay, một linh mục từ trong nhà thờ thấy tôi nguy khổn vội chạy ra cùng với hai người giúp lễ kéo lôi tôi vào trong thánh đường…chập chộ cho hoàn hồn với ly cà phê nóng hòa cognac!
Linh mục đưa tôi về tận nhà bằng xe riêng. Ngài mở radio: nhiệt độ tại phi trường Dorval là -38 độ C, nhưng với sức gió, hàn thử biểu đã thực sự tuột xuống mức độ ghê rợn -52 độ C. Xướng ngôn viên nhắc nhở mọi người, nếu đang ở ngoài trời nhất thiết phải cử động, nếu không sẽ…chết cóng tại chỗ!
Tôi lắc đầu ngao ngán thở dài nghĩ tới bài ca mừng Noel: Hoan hô gió! Hoan hô gió! Hoan hô gió…mùa đông! (Vive le vent! Vive le vent! Vive le vent d’hiver!).
Hết ý!

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, Giáng Sinh 2008
-Lê Tấn Lộc_

Thursday, December 4, 2008

Nhìn những mùa xuân đi...

Nhìn những mùa xuân đi...




Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay!


Tân mở quyển nhật ký may mắn thoát khỏi cơn truy lùng tìm diệt “tàn tích đồi trụy của Mỹ Ngụy” do đám công an văn hóa kách mệnh Bắc Bộ Phủ chủ xướng, dưới sự tiếp tay điềm chỉ của bọn trí thức thiên tả dỏm, theo đóm ăn tàn, tục gọi lũ kách miệng ba mươi tháng tư…Tất cả hành trang vượt trùng dương tìm tự do của Tân đã gửi lại trong lòng biển cả, quyển nhật ký là “tàn tích” duy nhất Tân còn giữ được trong tay, sau cơn hồng thủy trên quê hương tan tác và sau những đợt sóng thần đã cuốn phăng hàng muôn vạn sinh linh khốn cùng khỏi những con tàu định mệnh -những con tàu tưởng đã giúp họ thoát được kiếp lưu đày trên chính đất nước của họ- để dìm sâu họ xuống đáy biển ngàn đời u tối, giá băng …
Quyển nhật ký đã theo Tân suốt thời gian nhục nhằn bức bách trong lao tù CS, tiếp tục bầu bạn với Tân ngày Tân rời trại giam nhỏ bước vào nhà tù lớn Xã Hội Chủ Nghĩa, cùng Tân hành trình lướt sóng biển Đông trôi dạt vào đảo Galang “cửa ngõ của Tự Do và Tình Người” trước khi Tân được Xứ Tuyết, vì lòng nhân đạo dang tay đón nhận, cưu mang đùm bọc cùng với hàng hàng lớp lớp thuyền nhân Việt Nam liều chết vượt thoát gông cùm của chính đông bào họ đi tìm đất sống...
-o-o-o-

Thân đất khách một mình xui nhớ
Hương đêm dần dần nở khúc thương…


*Xuân “Cách Mạng” (Ất Dậu 1945)
Những tầm vông vạt nhọn
những bầy chân đi trần
những lỗ mắt ngời ngời
những rừng đèn chai đứng dậy trong đêm khuya
đòi giải phóng
tự do
độc lập

Ngày ấy, tôi và Kiệt -đứa em út kế tôi- chuẩn bị cắp sách đến trường, bỗng dưng nghe tiếng giày đinh nện đều trên mặt lộ Lamothe de Carrier, trước tiệm mộc của gia đình, như ai đang lắc một xô nước đá nghiền nhỏ: rộp! rộp! rộp! rộp!
Từng đoàn người mặc quân phục, mũ lưỡi trai ba mảnh vải buông thõng che tai và ót, đội ngũ chỉnh tề, súng trường cầm tay -lưỡi lê tuốt trần cắm trên đầu súng- chiếm trọn mặt đường, nối đuôi nhau chạy lúp xúp về hướng Toà Bố (Toà Hành Chánh với Dinh Tỉnh Trưởng) và khu Cư Xá của Tây “thực dân”…
Khi đoàn quân “con mặt trời” xâm chiếm Bạc Liêu (là xứ quê mùa, Dưới sông cá chốt trên bờ tiều Châu) khuất dạng trên bến xe đò, cuối đường La-mốt-đờ-ca-ri-dê, một số dân bản xứ túa ra mặt lộ, tranh nhau thu lượm quân trang quân dụng -kể cả súng ngắn- rơi rớt trên đường tiến quân của quân đội Nhật hoàng; những thứ sau nầy được trang bị cho kháng chiến quân chống Pháp. Biến cố “Nhựt Bổn đảo chánh”, ngày 9 tháng 3 năm 1945 khơi mào cho khói lửa nhen nhúm, để rồi không bao lâu lan rộng khắp quê hương tôi…Vài mươi thi thể ông Tây bà Đầm bị cứa cổ nằm rải rác quanh hồ tắm công cộng, máu động vũng tuôn chảy nhuộm đỏ mặt hồ. Người bảo Nhựt giết, kẻ bảo đồng bào ta trả thù đám Tây tà lâu nay hà hiếp dân lành.
Khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt với sự đầu hàng của Nhựt, Pháp trở lại Đông Dương. Họ không quên đồng bào họ bị sát hại, thẳng tay trừng phạt đồng bào ta để báo thù. Có thể đó là một trong những nguyên nhân chính đưa đến “Cách Mạng Mùa Thu, toàn quốc kháng chiến”. Với chủ trương ”vườn không nhà trống”, nhà cầm quyền lúc bấy giờ kêu gọi dân chúng tản cư:
Lệnh truyền kháng chiến vô bưng,
Ruộng vườn triệt phá giặc đừng thu quơ

*Xuân Khói lửa (Bính Tuất 1946)
Kẻ già cõng người bồng con dại
Dân tản cư ùn chạy bỏ thành

Gia đình tôi hưởng ứng lời kêu gọi, tạm lánh nạn về Trà Kha, Trà Khứa, rồi rút xa hơn nữa về Béc-Heng, một vùng đất hoang vu, nơi làng Việt tiếp cận sóc Miên, rất xa Châu thành Bạc Liêu. Hai anh tôi, người cầm súng giết giặc, kẻ xung vào đội Võ Trang Tuyên Truyền, động viên tinh thần đồng bào ủng hộ kháng chiến; chị tôi gia nhập đoàn Nữ Cứu Thương. Tôi và cậu em út xung vào đội văn nghệ lưu động “giúp vui chiến sĩ và đồng bào”, nhân tiện cổ võ họ đóng góp tiền bạc, quần áo, thực phẩm “nuôi quân”. Hai anh em tôi vừa ca vừa múa, quyên tiền như sơn đông mại võ: Mừng xuân ánh sáng bốn phương (ánh sáng bốn phương) tràn lan đất nước (tràn lan đất nước) ánh sáng ngày xuân (ánh sáng ngày xuân) chiếu ngàn năm…Xuân đầu tiên của chúng tôi trong bưng biền tràn ngập khói súng, bom đạn thường xuyên gieo rắc tang tóc, điêu linh…
Thuở ấy đám con nít chúng tôi còn quá non trẻ để thắc mắc vì sao lá cờ vàng ngôi sao đỏ của Thanh Niên Tiền Phong bỗng nhiên một sớm một chiều biến mất và cờ đỏ ngôi sao vàng của Việt Minh rộ nở khắp bưng biền, nơi dân chúng lánh nạn ẩn náu sau khi rời bỏ kinh thành do bộ máy cai trị của thực dân Pháp kiểm soát.
Theo đà truy lùng, càn quét của lính Tây, gia đình tôi chất nhau lên ghe chạy giặc, cùng với đoàn ghe tản cư chèo miết tới Chắc Băng, Cạnh Đền, gần miệt U Minh. Tại đây, một cán bộ Việt Minh đề nghị tôi ca diễn bài hát “Mắng Lê Tắc”. Tôi thích chí “lột hết khả năng diễn xuất” bắt thằng em út tôi quì gối thủ vai Lê Tắc nghe tôi hùng hỗ miệt thị: Mi nghe chăng hỡi ai tham mồi phú quí quên non sông/ Hãy nghe đây lời ta mắng muôn năm/ Sao nỡ đành đem người ngoại quốc ác tâm /xâm chiếm quê hương nhà sát tàn nòi giống?/ Loài bán nước/ loài buôn dân/ loài phản quê hương/ Nguyền rủa tên bọn mi khắp nơi muôn đời…Dân tản cư hoan hô nồng nhiệt, hăng hái ủng hộ quỹ “nuôi quân”.
Sau buổi văn nghệ “lạc quyên”, cán bộ cao cấp kể trên nhiệt liệt khen tặng và thuyết phục (đúng hơn, khuyến dụ) tôi nối chí “thiếu niên anh hùng kháng chiến” Lê Văn Tám tẩm xăng châm lửa, nhào vô kho đạn Thị Nghè cho nổ tung! Tôi đã xiêu lòng muốn nghe theo, chờ “ngài” cán bộ giao công tác “hy sinh cho kách mệnh”. May thay, trước vô số vụ cuồng sát đồng bào tản cư bị tố khổ Việt gian (cho đi mò tôm, mổ bụng dồn trấu, chôn sống, thiêu sống, xử trảm rồi bêu đầu thị uy, đập đầu thả trôi sông v.v…) gia đình tôi kinh hoàng tìm đường hồi cư, chèo ghe về hướng Rạch Giá để tránh bị nghi “trốn về thành”, bỏ lại sau lưng hàng vạn đồng nghiệp, láng giềng cùng đi tản cư trước đây, lớp bị độc đoán hành huyết vô căn cứ, lớp bỏ mình trong các cuộc giao tranh với lính Tây vì cái mà họ tin tưởng là… “lý tưởng cách mạng”. Cũng như tôi đã vội tin vào sự hy sinh cao quí của anh hùng Lê Văn Tám cho “sự nghiệp kách mệnh” mà mãi sau nầy ai ai cũng rõ là một bịa đặt hoàn toàn của đảng Lao Động VN thời đó!


Một mùa xuân đi qua, cuốn theo hàng muôn vạn sinh linh đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi tầng lớp…Xém chút đã lôi theo cậu bé chưa hưởng trọn vẹn 11 mùa xuân, được nhồi nhét chí cốt lý tưởng anh hùng cách mạng…dỏm!

*Xuân kinh hoàng (Mậu Tý 1948)
Tiếng hét thảm thiết chạy dài từ đầu kinh đến cuối kinh trong
đêm bất tận
“aaaaaa!!!Trời ơi đừng giết tôi! aaaaaa!!!...”

Chiếc ghe tam bảng, căn nhà lưu động của gia đình tản cư chúng tôi tròng trành theo lượn sóng nhấp nhô dưới ánh trăng lưỡi liềm nhỏ rít, yếu ớt của đêm mùng ba Tết. Ăn cơm tối xong, cả nhà chuẩn bị lên bờ thăm viếng bà con tản cư thì bỗng nghe tiếng loa kêu gọi đồng bào tập trung trước sân đình làng Hốt Hỏa (địa danh một vùng hẻo lánh thuộc tỉnh Rạch Giá) coi “chặt đầu Việt gian”! Ba tôi vội thổi tắt ngọn đèn dầu leo lét trong khoang ghe, ra dấu cho cả nhà nằm im, như tất cả đều đã ngủ say. Ông không muốn chúng tôi chứng kiến thêm lần nữa cảnh máu đổ, đầu rơi của đồng bào mình dễ dàng bị ghép tội Việt gian, một hiện tượng quá ư thịnh hành trong thời buổi nhiễu nhương, củi quế gạo châu…
Tiếng chân người thình thịch dẫm trên con đường đất ven sông, dẫn tới nơi hành hình vang dội trong đêm thanh vắng. Ánh đèn chai cho thấy 4 người đàn ông bị trói thúc ké, đầu bù tóc rối, mặt mũi sưng húp, tím bầm, khập khễnh lê bước. Theo sau là đoàn người hung hãn, áo quần đen, khăn rằn quấn đầu, dao mác, gậy gộc tua tủa. Tôi thoáng thấy chú Tư Hơn, tay lăm lăm con dao phai, chỉa vào lưng các tử tội, thúc họ bước nhanh. Chắc hẳn chú được chỉ định làm đao phủ thủ. Không thể ngờ con người rất hiền hoà, luôn rộng tay đón nhận, giúp đỡ dân tản cư, sẵn sàng cho họ tá túc trong nhà mình, buổi đầu họ chân ướt chân ráo đến nơi tạm cư lánh nạn, đêm nay lại đằng đằng sát khí đến thế dưới ánh đèn chai bập bùng…
Từ pháp trường vang lên từng chập tiếng la thất thanh chen lẫn tiếng nguyền rủa của một tử tội: “Tổ cha tụi bây! Bây chém tao hơn chục nhát rồi mà đầu tao cũng chưa rơi! Trời ơi là trời!”…
Con dao cùn làm cá chém đến chiếc đầu thứ tư phải cứa
qua cứa lại nhặp nhằn
tiếng hét thảm thương của con heo bị thọc huyết túa ra trên
kinh dài hỗn loạn
họ không có thì giờ để rèn dao giết người

Chợt có tiếng la ó kêu cứu ầm ỉ chen lẫn tiếng vật lộn huỳnh huỵch… Dưới ánh đuốc chai ma quái một cảnh tượng ghê rợn từ nay trở đi sẽ ám ảnh tôi suốt đời: Đao phủ thủ Tư Hơn, mắt đỏ ngầu, sùi bọt mép, quơ con dao cùn vấy máu, hét to: “Chém hết tụi Việt gian! Chém hết tụi Việt Gian!”, rượt chém loạn đả đám đông. Bọn người quấn khăn rằn tức tốc vây chặt tên điên loạn, chỉa súng buộc hắn buông dao, hè nhau đè hắn xuống đất trói gô. Chém xong tử tội thứ tư, chú Tư Hơn, một nông dân xưa nay hiền lành, chất phác, hiếu khách đối với cư dân vùng đất hiền hoà Hốt Hoả, bùi tai vì “sự nghiệp kách mệnh của nhân dzân ta”, phút chốc đã say máu, biến dạng thành một phần tử cuồng tín, khát máu, mù quáng trung kiên với “kách mạng”…
Đêm trở lại yên tĩnh. Một mùa xuân vấy máu vừa lố dạng, hứa hẹn nhiều máu lửa càng lúc càng cuồng nhiệt, ghê rợn. Bốn chiếc đầu lâu mắt trừng, miệng há lăn lốc trên mặt đất loang lổ vết máu khô quánh, chờ được mang đi bêu chốn thị tứ để hù dọa những ai không theo cách mạng. Sân đình làng lẽ ra nồng nàn hương khói lại sặc mùi máu tanh!

*Cuối Xuân Mậu Tý,
hồi cư bàng hoàng …

con chim nhỏ bé dám ca câu sấm thì:
Cuối xuân năm Mậu Tý tướng quân mang kiếm về…

Đêm Giao thừa không tiếng súng. Lác đác vài tiếng pháo nổ đì đẹt, gọi là cho có vẻ giữ lệ tống cựu nghinh tân. Quê hương vẫn còn chìm trong khói lửa ngút ngàn. Bất ngờ… người anh đầu đàn của tôi rón rén xuất hiện giữa lúc gia đình đang quay quần bên mâm cơm đạm bạc chờ đón tân xuân. Mọi người lặng lẽ rơi nước mắt, ôm chầm lấy anh, người anh đầu đàn trở về từ bưng biền, hốc hác, thất thần…Nhắp chung rượu xuân cho cơ thể bớt co thắt, anh tôi cố gắng bình tĩnh kể:
“Thưa ba má! Con bất hiếu mang tấm thân tàn ma dại về đây, sau khi lùng kiếm không kết quả đứa em con thất lạc sau vụ Tây oanh kích vào đội Võ Trang tuyên Truyền của nó, là vì con muốn mọi người trong gia đình biết qua những thử thách đau thương mà con đã trải qua, khiến con không còn lòng dạ nào chiến đấu dưới sự chỉ đạo của nhóm cán bộ khát máu đang tự tung tự tác trong bưng biền…
Đêm mùng ba Tết vừa rồi, tại Chắc Băng, bọn nầy phóng hoả thiêu sống cả ngàn người Việt, Miên cùng toàn bộ gia đình họ, bị dồn nhốt chật cứng một lẫm lúa khổng lồ vì tình nghi họ hợp tác với Tây… Tiếng kêu khóc van xin đinh tai điếc óc, mùi da thịt khét lẹt làm mọi người chứng kiến màn nướng thịt người nghẹt thở, té ho sù sụ! Con và anh em trong đội của con bị bọn chúng tước khí giới trước khi chúng thẳng tay tàn sát đồng bào…
Họ không có thì giờ để cắt cổ từng người một…
Hôm sau, đêm mùng bốn, tại Cạnh Đền, bọn nầy bắt cả đội tụi con áp tải hơn 500 người bị trói thúc ké, bịt mắt, ra bờ sông cho chúng dùng phảng chém đầu, bồi thêm chày vồ… Suốt đêm, con phải sống với tiếng người ơi ới kêu la, chửi bới vì chưa thiệt chết đã bị tống xuống sông cho dòng nước cuốn phăng!... Họ không có thì giờ đào những lỗ huyệt tập thể…
Và mùi máu tanh đã theo con chui vô nóp ngủ, liên tiếp nhiều đêm liền. Con phát điên. Con phải vượt khỏi cõi âm ty do bọn nầy tạo dựng trên làng xóm hiền hoà, nhân ái của chúng ta, nếu con không muốn loạn thần kinh giết hết bọn chúng hoặc bị lây bịnh giết người không gớm tay như chúng!...
Những người mất đầu vì cuốn văn phạm ngoại ngữ
Những người bị mổ bụng vì mặt biên áo trong có in ba màu

Có tiếng kêu mở cửa gấp rút: Hai người mặc đồ đen, một nam, một nữ dìu một bộ xương người còn thoi thóp thở …Đứa em Võ Trang Tuyên Truyền của anh cả tôi cuối cùng còn sống sót tìm về tổ ấm! Cả nhà xúm lại đỡ anh xuống ghế bố. Anh nằm im lìm, không còn hơi sức chào hỏi gia đình. Bịnh kiết lỵ đã tước khả năng đi đứng của anh.
Người con gái vắn tắt cho biết cô đã tháo cũi sổ lồng cho người yêu và ông anh tôi thoát khỏi trại giam tử tội chờ ngày thọ hình. Anh ấy bị kết tội đã lên tiếng phản tuyên truyền chủ trương “tận diệt Việt gian” của kách mệnh, sau khi chứng kiến hàng trăm vụ xỏ xâu đồng bào, kết thành từng bè cho đi “mò tôm”…
Lũ tôm chực sẵn bên bờ sông
Lũ tôm-ăn-thịt-người
Lũ người-ăn-thịt-tôm-ăn-thịt-người
Lũ người-ăn-thịt-người-ăn-thịt-tôm-ăn-thịt-người

Người yêu của cô gái đột nhiên ú ớ bật khóc! Cả gia đình sững sờ nhận ra… chú chín Xuân của chúng tôi, câm điếc từ thuở lọt lòng mẹ. Chú theo kháng chiến giúp khuân vác lương thực, tãi đạn. Một hôm, giữa đêm chú ra bìa rừng hút thuốc giải khuây, đi lạc qua khu vực đóng quân của một đơn vị khác. Lính gác hô to: “Đứng lại! Dơ tay lên!” Chú tỉnh bơ xâm xâm tiến bước…Hỏi mật hiệu, chú vẫn đường ta ta cứ đi… Bị bắt về trạm kiểm soát thẩm vấn, chú chỉ biết cười cười phát âm “ụ à ụ á dễu dễu ”. Tình nghi chú dọ thám cho Tây, họ tra khảo chú chết đi sống lại đôi ba lần…
Người câm bắt buộc phải trả lời
những tội phạm họ không bao giờ đủ khả năng nghĩ tới
Người điếc bị đánh đơ xương sống
vì không nghe được người ta hỏi gì

Một mùa xuân đẫm máu nữa lại vừa âm thầm đi qua, lôi theo sự ê chề, thất vọng của những người tưởng rằng mình tranh đấu vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho giống nòi… Chiêu bài giải phóng đất nước khỏi ách tham tàn của thực dân Pháp do nhóm chỉ đạo đảng Lao Động VN rầm rộ hô hào, thực chất chỉ giản dị là một cuộc đấu tranh giai cấp rập khuôn Mác-Lê, nhằm tiêu diệt mọi giai cấp, chuẩn bị cho giai cấp vô sản độc quyền chuyên chính!

Cuối xuân năm ấy, cả gia đình tôi đau lòng rời bỏ “xứ quê mùa” yêu thương đang chìm đắm trong lửa đạn tơi bời, tái định cư tại Vĩnh Long, một thị trấn bốn bề có sông rạch bao quanh. Cậu bé 11 tuổi, năm xưa suýt trở thành “anh hùng” kiểu Lê Văn Tám…dỏm, ngoan ngoản trở lại băng ghế nhà trường, dốc lòng chăm chỉ học hành. Các hoài niệm thương động thời tản cư dần dà đi vào quên lãng…
Tuổi thơ vẫn sẵn lòng quên những phát súng những mũi
dao của bọn người lớn

Cho tới khi cậu bé chuyển sang trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) tiếp tục học, có dịp chứng kiến các cuộc biểu tình “chống bắt lính” của học sinh, *Xuân Giáp Ngọ (1954). Các hoài niệm đau thương tưởng đã phôi pha theo năm tháng lại chập chờn trong đầu cậu. Xảo thuật kích động học sinh bãi khóa khiến cậu có cảm tưởng “đã thấy qua rồi” (impression du déjà-vu): Trước mắt cậu, nhóm học sinh cầm đầu vào trường xách động các lớp bỏ học , các thầy cô ngưng giảng dạy cho học sinh tham gia biểu tình (thuở ấy chưa có danh từ “xuống đường”) hành sử y như các cán bộ Việt Minh hô hào đình công, bãi thị ở Bạc Liêu, năm nào! Tình cờ cậu khám phá một giáo sư của cậu là linh hồn của cuộc biểu tình chống bắt lính nầy. Ông thầy nầy sau đó đứng hẳn về phía “kách mệnh”, sau vụ Tết Mậu Thân…
*
* *
*Xuân “Thanh Bình” mong manh (Kỷ Hợi 1959)

Ngày xưa em qua đây
Cho tình tôi chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu

Chiếc xe lửa phì phò phun khói đen từng cụm, nặng nhọc bò lên triền núi gần như thẳng đứng trên đường rầy có răng cưa (crémaillère) móc giữ cho khỏi tuột dốc. Chánh phủ tiết kiệm công quỹ, trưng dụng một toa xe đưa 30 sinh viên ban Triết Đại học Sư phạm Sài Gòn, giữa niên khóa, lên Đà Lạt tiếp tục học trình, thay vì cấp kinh phí cho họ đi xe đò, đắc hơn đi tầu hoả. Cảnh trí chung quanh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Hứng chí, tôi cầm guitare đệm nhạc cho cả nhóm hòa ca vang rền… Sau hiệp định đình chiến Genève, ngày 20 tháng 7 năm 1954, miền Nam liên tiếp hưởng được mấy mùa xuân không tiếng súng, an bình, thịnh vượng…
Anh chị em sinh viên chúng tôi vừa ăn Tết xong ở Sài Gòn, một cái Tết rất vui nhộn, có pháo nổ, có lân múa, có mai vàng, dưa hấu, bánh tét, bánh chưng, kẹo mức, hoa quả v.v…Nhộn nhịp vô cùng. Đà Lạt có vẻ quá yên tĩnh đối với chúng tôi. Nhưng thành phố cao nguyên mù sương nầy lại là nơi hẹn hò lý tưởng của những cặp tình nhân lãng mạn, là nơi gặp gỡ tuyệt vời của tao nhân mặc khách…Ôi! Đà Lạt là thơ… Ai lên xứ Hoa Đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi…
Hoàng,
bạn cùng khóa, ban Pháp văn và tôi quyết định rời khu nội trú Viện Đại học Đàlạt, dọn ra thuê chung một gác trọ trên đường Phan Đình Phùng cho được thoải mái hơn. Hoàng thích vẽ, tôi thích nghe nhạc cổ điển Tây phương nên khó tuân giữ giờ giấc qui định trong khu nội trú. Vả lại hai đứa thường lang thang trên đường phố Đàlạt về đêm tìm hứng -Hoàng để vẽ, tôi, để suy gẫm- khi trên đồi thông, lúc bên bờ hồ…Chiếc Vespa tôi chở theo trên xe lửa quá đắc dụng cho những cuộc dạ hành không giờ giấc nầy. Cuộc sống hai gã con trai độc thân bình lặng trôi đều cho đến lúc một giai nhân mà dung nhan và dáng dấp phảng phất ít nhiều phong thái của nữ-bá-tước-chân-trần (la comtesse-aux-pieds-nus) Ava Gardner xuất hiện như giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần, tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ…Than Thở khi mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng…
Tú, tên giai nhân bên bờ hồ, khẽ gật đầu đáp lời chào xã giao của Hoàng, lơ đễnh liếc nhìn tôi tần ngần dựng chiếc Vespa, chưa biết có nên bước tới làm quen với người em sầu mộng hay không. Nhìn tôi bối rối thấy rõ, Hoàng nắm tay tôi kéo tới trước người đẹp giới thiệu:
-Đây là Tú, láng giềng của tao ở Phú Nhuận. Còn thằng thỏ đế nầy là Tân, “triết-gia-phù-thủy-tập-sự”, bạn cùng trọ với tôi. Mầy chào Tú đi chứ! Làm gì đứng chết trân như trời trồng vậy! Bị sét đánh á khẩu hả? Đúng là dân philo-folie! Mời Tú lên ngồi giữa hai thằng tôi. Lâu lâu chở ba giỡn mặt chính quyền chơi. Đèo Tú về nhà thay đồ, mình đi kiếm gì ăn cho vui.
Cố tập trung lái, tôi vẫn không thể không bồn chồn lo lắng hai thằng làm gì có tiền trả bữa ăn với Tú. Tiền trọ vẫn chưa thanh toán, chờ lãnh học bổng hàng tháng. Đã thế Hoàng còn đề nghị rủ nguyên băng Lưu-Quang-Trinh-Tấn-Thu đến nhà hàng Chic Shanghai “chung vui”! (Vui chung rồi mạnh ai nấy trốn chăng?) Đúng là điếc không sợ súng!

Cả bọn, trừ tôi lái xì-cút-tơ, đạp xe tới biệt thự Rosalie, cuối đường Phan đình Phùng. Y như đoàn quân hầu cận chuẩn bị “hộ giá” Công Nương! Tú đứng chờ sẵn trước cổng. Đột nhiên một chiếc Falcon bóng loáng lao thẳng vào chúng tôi, thắng gấp. Một gã đàn ông ăn mặc sang trọng, bước xuống xe, hầm hầm xốc tới kênh kiệu nghinh ngó bọn tôi, đoạn tiến về hướng giai nhân, choàng vai mỹ nhân, định dìu lên “long xa” Cờ Hoa. Tú trừng mắt hất tay gã, bước thẳng về chiếc Vespa, ngồi hẳn lên yên sau. Tôi gấp rút nổ máy phóng đi, đoàn xe đạp nối đuôi như một đám rước! Gã đàn ông sạm mặt, cung tay quơ quả đấm về hướng tôi…
Suốt bữa tiệc, Tú gần như hoàn toàn im lặng, thỉnh thoảng mỉm cười, nụ cười “bí ẩn” của La Joconde, nhưng đôi mắt không cười theo, luôn trầm buồn, xa vắng. Đôi lúc nhìn lén nàng, tôi ngờ ngợ Tú cũng có nhìn trộm tôi! Mắt, môi Tú hình như toát ra “cái gì đó” xoáy sâu tâm can người đối thoại, dù Tú hầu như không bao giờ xen vào câu chuyện trao đổi giữa chúng tôi. Mãi nghĩ vẩn vơ, tôi quên mất bận tâm tiền đâu trả bữa ăn! May thay, hình như tất cả hàng quán trên miền đất lạnh nầy đều được yêu cầu “ghi sổ” mọi chi tiêu của nữ-bá-tước-chân-trần chuyển về biệt thự Rosalie: Tú là người duy nhứt thừa hưởng tài sản kếch sù do ông nội để lại theo di chúc…
Hôm sau, Tú hẹn chúng tôi ở Café Tùng. Không hiểu vì sao chỉ mình tôi đến điểm hẹn. Chúng tôi vừa bước ra cửa quán, gã đàn ông hôm qua sấn tới nắm tay Tú lôi đi. Tú vùng vẫy gỡ tay níu, hắn giận dữ tát tai nàng. Tôi vội vã buông chiếc Vespa ngã lăn bên vệ đường phóng tới. Thấy tôi có thể xông vào can thiệp Tú ra tay trước, giáng cho hắn một cái tát đổ lửa, sẵn trớn xô hắn ngã bật ngửa trên dãy bàn cà phê ngoài hiên quán, cặp kính cận của hắn văng xuống thềm gạch bể nát…
Chẳng rõ vì sao tôi chở Tú thẳng tới Viện Đại học Đà Lạt, đưa nàng vào luôn lớp Triết đang nghỉ giải lao chờ đổi giờ học môn khác. Các bạn đồng liêu áp tới vây khổn Tú, hỏi han về môn nàng theo học ở Đại học Văn khoa Sàigòn (vì tôi trót giới thiệu “sảng” nàng học dư bị văn khoa với tôi, để nàng đỡ ngượng đột ngột xuất hiện cùng tôi giữa đám “thư sinh lều chõng” nghiêm túc như các chủng sinh!) Tú rảo mắt tìm tôi cầu cứu tới giải vây…

Khi nắng vàng bắt đầu mờ nhạt sau lớp sương mù se lạnh, giăng mắc lụa lê thê trên các ngọn thông đong đưa theo làn gió thoảng trong khuôn viên đại học, không hiểu sao tôi đưa Tú về gác trọ Phan Đình Phùng thay vì đưa nàng về biệt thự Rosalie… Và lạ lùng thay, Tú không chút do dự theo tôi bước lên cầu thang rập rình, dốc ngược lên trời, dẫn tới căn gác xép gắn ghép vào vách tường mặt sau căn phố lầu của chủ cho thuê, trông như treo chênh vênh giữa không trung!
Gác trọ tuy chật hẹp nhưng bàn tay nghệ sĩ của Hoàng đã biến thành một căn phòng rất trật tự ngăn nấp, có kệ sách như một mini-thư viện, bàn viết, giá vẽ, máy hát dĩa, bàn cà phê…Hai chiếc ghế bố nhà binh ghép chung, kê sát góc tường làm chỗ nghỉ lưng cho hai chàng trai tơ khá lập dị.
Tú ngồi bất động nơi bàn cà phê, cúi nhìn…sàn gỗ, thỉnh thoảng ngước nhìn chân dung nữ tài tử điện ảnh Ava Gardner do Hoàng phát họa treo gần kệ sách. Đối diện Tú, tôi cũng ngồi im, ngước nhìn…trần nhà! Hai tách trà đã nguội lạnh từ lâu. Chẳng ai nói với ai lời nào. Trên máy hát dĩa, một mẩu giấy con của Hoàng: “Tao đi nghe récital dương cầm của Supitra, rất khuya mới về”.
Sau bữa ăn ở Chic Shanghai, trên đường về Hoàng kể chuyện gã đàn ông đã hung hăng lái xe đâm sầm vào chúng tôi trước nhà Tú: Gã là bác sĩ, đã theo đuổi Tú từ lúc nàng mới lên 16, đang học lớp seconde ở Yersin. Tú mồ côi cha rất sớm, mẹ tục huyền. Dượng ghẻ rất ác cảm với chị em Tú, nhứt là với Tú. Nàng cũng muốn nhận bừa lời cầu hôn của tay đốc-tờ nầy để thoát khỏi không khí ngột ngạt trong gia đình. Nhưng khổ nỗi nàng không ngửi nổi cái kênh kiệu, cái thô tục của hắn. Hắn nghĩ rằng cứ vãi tiền ra là muốn cái gì cũng được. Chưa chi hắn đã muốn xử sự như Tú là vợ của hắn. Cho nên Tú đã cho hắn một bài học thích đáng.

When I fall in love…It will be for ever…So I never fall in love…Giọng ca truyền cảm, đắm đuối của Nat King Cole từ máy hát bay ra trầm buồn. Tú và tôi không một lần nhìn nhau, không một lần nói với nhau bất cứ điều gì, lặng im nghe nhạc cho đến khi đã quá khuya. Chúng tôi lặng lẽ xuống cầu thang, rời căn gác trước đây chưa một lần tiếp đón phái nữ…
Tú hẹn tôi ngày mai sẽ trở lại gác trọ nghe nhạc. Lúc chia tay, có lẽ Tú không khỏi ngạc nhiên nghe tôi “ngập ngừng” thì thầm: Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi đảo một vòng thành phố dầy đặc sương mù, tư bề vắng ngắt, dừng xe giây phút trước khu đại học còn leo lét vài ngọn đèn vàng yếu, lướt qua biệt thự Rosalie kính cổng cao tường lờ mờ trong đêm đen…
Tôi trở về cửa cài then gác xép
Giường chiếu mênh mông sầu khép đôi tay
Đếm tuổi thời gian dưới bóng đèn gầy
Soi cô độc nằm tròn trong đáy mắt…

Tú và tôi không lần nào gặp lại nhau nữa. Chỉ một lần duy nhất mặt đối mặt, thanh trong, huyền ão như…nắng đưa em về bên dòng suối mơ, như…nhẹ vươn theo gió (tôi) xa rời chốn xưa…

Cuối niên học, khi tôi rời Đà Lạt đi Paris, Việt Cộng bắt đầu dấy loạn, công đồn đả viện quân đội VNCH tại Trãng Sụp (Tây Ninh):
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
Trận bày trận thiệt Mặt làm bình phong


Xuân thanh bình qua mau. *Xuân Canh Tý (1960): khói lửa lại kéo tới tái diễn cảnh thịt nát xương tan, đầu rơi máu đổ, tưởng đã vĩnh viễn sang trang.

*Xuân Mậu Thân sắt máu, tang tóc (1968)
Ngoài Hà Nội dân ăn Tết sớm
Hồ Giáp Đồng lận lỡm con đen
Giao thừa vừa độ quá đêm
Nằm vùng ra mặt súng rền miền Nam

Anh chị em chúng tôi và bầu đoàn thê noa đông đủ tề tựu về đón Giao thừa ở nhà đứa em út, đường Bạch Đằng (Hàng Xanh) cùng với ba má từ Vĩnh Long lên ăn Tết với con cháu. Pháo đỏ đầy thềm, rượu đổ tràn ly, tứ sắc, bài cào, xì phé, bầu cua đều chi! Năm nay hầu như mọi nhà đều tưng bừng đón Xuân…Chẳng ai ngờ những tràng pháo đại nổ liên hồi về sáng là đạn pháo VC công phá các công sự phòng thủ Sàigòn, hầu như hoàn toàn “bỏ ngõ” vì đôi bên lâm chiến đều tuyên bố hưu chiến nhân dịp Tết Nguyên Đán!
Đợt I “Tổng công kích” vừa bị đẩy lui, những đám cháy chưa dập tắt hết, hàng núi xác người nhầy nhụa thối rữa chưa kịp vùi lấp hay hỏa táng tập thể thì VC lại tung thêm đợt II, mưu toan san bằng thủ đô Sàigòn đã không hưởng ứng lời kêu gọi “tổng nổi dậy” cùng chúng lật đổ chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa. Cùng lúc chúng tàn sát hàng ngàn quân cán chính cũng như lương dân vô tội tại Huế.
Cố đô Huế nhân dân cửa đóng
Giải phóng quân giải phóng nghìn người
Đập đầu cắt cổ chôn tươi
Oan khiên u uất ngợp trời Cố Đô
Thảm cảnh “tận diệt Việt gian” tái diễn kinh khiếp và nhanh chóng gấp bội lần Xuân kinh hoàng Mậu Tý 1945…
Vừa cởi quân phục chưa đầy 2 năm, tôi lại phải giã từ đám môn sinh, khoác chiến y ra trận, đánh cận chiến, giành từng góc phố, từng con đường như phim “combat” trên truyền hình, trước khi phụ trách cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc tại khu Vườn Lài, “đoàn ngủ hóa sinh viên” trong Liên đoàn sinh viên “phòng vệ” Thủ đô, để rồi sau cùng được trả về làm công tác giáo dục thuần túy.
Trở lại trường cũ ở Bình Dương, tôi bùi ngùi nhìn các lớp đệ nhị cấp trống vắng: một số lớn học sinh ở vùng xôi đậu của trường đã bỏ thây trên các chiếc xe lô do VC trưng dụng tiến đánh Sàigòn bị chận đánh, tiêu diệt toàn bộ ngay ngã tư xa lộ Biên Hoà…
Dụng hưu chiến toan bề tráo trở
Tưởng nhân dân hỗ trợ quân Hồ
Ngỡ dân nổi dậy ô hô
Cán binh Mặt Trận chôn mồ Mậu Thân

*Xuân Ất Mẹo tan tác (1975):

-Nhà tan cửa nát, người người ly tán…
Ba chục Tết tơi bời xương máu
Triệu oan hồn lảo đảo đồi nương
Ba đời gươm súng thê lương
Mẹ cha còn bấy lư hưong đỉnh đồng



Những đứa con chết muộn

Vẹn bực tức gỡ ống nghe khỏi tai, lầu bầu: ”Lệnh lạc khôi hài thật. Chưa đụng đã bảo rút là sao?”. Chàng đau lòng nhìn đám lính địa phương quân đang cố thủ dưới dạ cầu và quanh khu Tân Cảng. Rõ ràng họ chưa biết phải rút. Chính chàng cũng chẳng rõ ai đã ra lệnh kỳ quái vậy. Cấp chỉ huy trực tiếp chỉ nói lệnh từ Mặt Trời. Chắc chắn chàng không thể bỏ đám lính kiên cường nầy bơ vơ. Lại càng không thể khơi khơi bỏ chạy khi nhớ tới người anh cả, đại úy Trung đã tử trận trong lần giải tỏa cố đô Huế, hôm Tết Mậu Thân 1968. Và đại úy Hiếu, đã nằm xuống trong lần tái chiếm cổ thành Quảng Trị, hè đỏ lửa 1972…
Nhưng lệnh là lệnh. Phải tuân hành. Sau khi ra lịnh cho các chiến xa khác tháo lui về hướng Tiểu khu Gia Định, Vẹn yêu cầu số quân nhân trên chiến xa M48 án ngữ bên kia cầu xa lộ sang qua chiếc Jeep chỉ huy đơn vị trực chỉ Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, cầm theo công điện mang tay thông báo đơn vị đã triệt thoái theo yêu cầu, đơn vị trưởng ở lại. Chấm hết.
Nửa giờ sau, chiến xa T54 xuất hiện rầm rộ. Vẹn khai hỏa trước và bắn tới viên đạn cuối cùng rồi nổ súng vào đầu, gục ngã trên pháo tháp, máu nhuộm đỏ ba mai vàng trên ve áo…
Trước khi quyết định ở lại trận tuyến, chắc Vẹn thừa biết Phủ Tổng Thống giờ đã như nồi cháo heo, nói chi tới Bộ Tổng Tham Mưu và cái Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp khốn khổ của chàng. Nhưng Vẹn vẫn chu toàn trách nhiệm trong danh dự, như một kỵ mã thời Nã Phá Luân đệ I, trên con ngựa sắt khổng lồ M48…
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh?...

Cùng lúc, trên chót vót một cao ốc, Tuân hướng ống dòm về phía Tân Cảng rực lửa, ngao ngán lắc đầu, cầm ống liên hợp (combiné) liên lạc với “thẩm quyền”. Im lặng vô tuyến hoàn toàn!
Gọi máy nhiều lần không kết quả, Tuân quyết định chuyển quân qua bên kia cầu Phan Thanh Giản, rải dọc hai bên xa lộ, gần trạm biến điện. Lại được lệnh rút lui về Lăng Ông Bà Chiểu! Tân bấm combiné chuyển lệnh cho đại đội phó thi hành. Tuân, đại đội trưởng ở lại vi trí chiến đấu, đơn độc tiến về hướng Ngã Tư Xa Lộ, lột bỏ nón sắt, đội chiếc mũ đỏ lên đầu, ngạo nghễ đứng sững trên mặt lộ chờ…xe tăng địch. Lúc cây M72 trên tay chàng bắn cháy một T54 cũng là lúc hàng ngàn viên đạn lớn nhỏ đủ cỡ từ các T54 khác tua tủa bay tới xé nát người Tuân, chiếc mũ đỏ bị hất tung, bay lơ lửng trên trời cao trước khi lảo đảo rơi rụng xuống chụp ngay vào họng đại bác một chiếc tăng! Có lẽ Tuân ao ước được tan xác theo quê hương tan tác.
Anh! Hỡi anh ở lại Charlie…

Lúc những mảnh thịt còn lại của Tuân bị xích sắc xe tăng nghiền nát ngoài xa lộ cũng là lúc Toàn đang ấm ức trấn thủ phía sau Dinh Độc Lập. Khi chiếc T54 đầu tiên ủi sập cửa sắt của Dinh, Toàn nổ súng vào đầu…Cũng như Tuân, Toàn không thể sống khi đất nước đã chết…Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây…Bạn bè còn đó anh biết không anh, người tình còn đây anh nhớ không anh…
Mặt trời thật sự đã vụt tắt, dù ngày ấy nắng chói chang, với Vẹn, với Tuân, với Toàn và với nhiều chiến hữu khác của họ, trong ngày cuối của VNCH. Nhưng mặt trời giả hiệu vẫn còn leo lét nhắc nhở, khuyến khích những ai đã từng đâm sau lưng chiến sĩ hãy tiếp tục ngo ngoe kiếm ăn trên xác chết của con em mình. Độc hại nhứt vẫn là thái độ khả ố của cựu đồng minh cờ hoa, cứ thường xuyên trình chiếu những cuốn phim về chiến tranh VN, trong ấy chẳng bao giờ có bóng dáng người chiến binh cộng hoà kiêu hùng, gây ngộ nhận cho dư luận thế giới rằng cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là cuộc đấu súng giữa du kích CS và cao bồi Huê Kỳ!

Trong ba người vĩnh viễn nằm xuống ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ có Toàn tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Điểm đáng nói: Vẹn, 27 tuổi. Toàn, 25. Tuân, 23 là…anh em ruột. Cả ba đều chết cho quê hương ở lứa tuổi dưới 30, ở cấp bậc đại úy.
Hỡi ơi một dải san hà
Lọt tay cộng sản hận loà sử xanh

(Trích “Tạp ghi những điều trông thấy”)
-Tù đày…

Trại cải tạo Z30Z (Hàm Tân, 1977)
Biến đất Việt nhà tù vĩ đại
Khắp nơi nơi dựng trại tập trung.
Học tập cải tạo tàn hung,
Quân nhân công chức trị trừng tội xưa.

Quả thật tôi đang cử động trong bốn bề thời gian đặc cứng trong căn nhà tù do chính tôi cùng một số đông anh chị em “tù cải tạo” chém tre, đẵn gỗ, phá rừng, đắp nền, dựng cột, lợp tranh, chắn song, xích cửa, cài then dựng nên tự nhốt mình rồi…trao chìa khóa cho bọn cai ngục cộng sản. Đúng theo “yêu cầu” của giới tự cho là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”: Các “phạm nhân” -hết rồi mỹ từ “cải tạo viên”, sau hơn 2 năm “học tập” -tự ý trừng phạt, tự ý giam mình. Nói cách khác: tự ý xin được ở tù.
Sự tự nguyện “tự giác” nầy được phát huy đến cao độ khi phạm nhân tự lực cánh sinh và kêu réo gia đình “thăm nuôi”, để đủ sức lao động “vượt chỉ tiêu” cho nhà nước. Trước đây có lũ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, vô tình hay cố ý “đâm sau lưng chiến sĩ”. Bây giờ, cả bọn đâm và bị đâm đều “tự nguyện” vào rọ hết để…ăn cơm tư gia cuốc cày chết cha cho cộng sản!

Đêm đã xuống từ lâu trên Căn Cứ 5 Rừng Lá cũ. Thế nhưng cường độ oi bức, không khí nặng mùi xú uế trong nhà giam không hề lắng dịu…
Vâng, đêm nay tôi đã
dừng lại một bước trên đường dài gian khổ đọa đày, nhục nhằn, bức bách -“con đường đầy máu và nước mắt”- và nói thầm đó là mùa hè…dẫu chẳng còn là mùa hè xa lắc xa lơ năm nào, nơi đó có lời Tây Ban Cầm tự tình bên khung cửa khuất, có chiếc khăn choàng đã bỏ quên trên bãi muộn, không bao giờ tìm thấy nữa…Nhưng vẫn là mùa hè muôn thuở trong tôi, dù giờ đây ngọn đèn pha trại tù chói lòa chiếu rực vào mắt, dù xiềng gông đã thay vòng tay nồng nhiệt yêu đương năm nào đã trói buộc tôi trên làn cát mịn Địa Trung Hải xanh lơ, dù giờ đây tôi đang nằm trơ vơ trên chỏng tre ọp ẹp vấy máu-người-quện-đen-quanh-vô-số-xác-rệp, giữa hai khoảng trống dành cho Tá và Đạt, hai bạn tù đã tắt thở trên tay tôi vì thiếu liều thuốc sinh tử làm hạ cơn suyễn cực nặng. Và tôi đã phải cứa đôi chiếc poncho quấn xác họ, cho cả hai khỏi bị chôn trần. Xưa có “sơ mi gỗ”, trống kèn chen lẫn tiếng khóc kể thảm thiết. Nay, sơ mi cao su hoặc sơ mi chiếu. Cả tiếng nấc, câu kinh cũng bị cấm tuyệt. Tuy thế, tôi cũng thầm thì Amen, A Di Đà Phật khi bọn cai ngục cho mang xác hai bạn tôi đi vùi lấp ở một xó xỉnh nào đó, không lưu vết tích gì hết…

Bất giác tôi thở dài chạnh nghĩ đến những nữ “phạm nhân” rất trẻ, thuộc nhóm kháng chiến Phục Quốc -những người nữ đáng được yêu thương, trân quí- bị nhốt kín trong nhà giam cận kề, không còn tự do tung tăng bay nhảy, một thời đã cùng người yêu rong chơi vui thích, khi trong rừng chồi, trên đồi thông, lúc trên ghềnh đá sóng vỗ bập bùng…
Vói tay mở chiếc ba lô sờn rách đã theo tôi trên khắp nẻo đường hành quân, tôi lôi chiếc khăn choàng cổ màu đỏ, cũng đã bạc màu, bịt mắt để đi vào giấc ngủ chập chờn, mệt lử, trong trạng thái căng thẳng tột cùng: đợi chờ tiếng kẻng inh ỏi báo thức, như những đêm mất ngủ trước đây -lúc còn bên ngoài vòng kẽm gai- thao thức chờ tiếng “bõm” của giọt nước từ rô-bi-nê không khóa chặt, rỉ ra, rơi xuống…
Giờ sẩy vực triền miên địa ngục
Giữa vòng gai nuốt nhục sa cơ
Thân lao lý đến bao giờ
Nước non tàn một cuộc cờ trắng tay

(Trích “Nhật ký của một người lạc thực”)

*Những mùa Xuân sau 30.4.1975
Xưa nay sử Việt chưa từng
Nạn dân bỏ nước ùn ùn ra đi
Dù biết vạn hiểm nguy vẫn trốn
Nộ trùng dương ghê rợn sóng phăng.
Hiếp dâm hải tặc dã man
Cạn lương giữa biển người ăn thịt người…

*Xứ Tuyết, xuân Đinh Hợi 2007


Thảm họa ba mươi tháng tư một chín bảy lăm bất chợt phủ chụp xuống đất nước như một tai nạn lưu thông kinh hồn, vô tiền khoáng hậu, gây thương vong hàng loạt cho hằng muôn vạn sanh linh (hécatombe), đột biến như cơn nước lũ vỡ đê cuốn phăng đi một mảng mặt lộ khổng lồ trên *đại lộ kinh hoàng*, chia cắt đôi bờ *sông Côn mùa lũ*; bên nầy bờ, nhục nhằn đày đọa; bên kia bờ, an lạc, tự do…Đôi bờ càng lúc càng dang xa, càng lúc càng *nghìn trùng xa cách* như bên nầy và bên kia đại dương mông mênh, phong ba bão táp trùng trùng điệp điệp. Một đại-dương-chứng-nhân biết bao thảm kịch vượt ngoài trí tưởng tượng của loài người, một đại dương như bể khổ trầm luân, đã đánh đắm hơn nửa triệu nhân mạng vượt trùng dương mưu tìm đất sống…
Cơn gió thốc từ nhánh sông Saint-Laurent lờ đờ trôi ngang hậu liêu tu viện Dòng Tên Villa Saint-Martin lay động hàng phi lau ven sông. Từng đàn bướm trắng bung lên, chới với vẫy cánh bay lượn la đà mặt sông làm liên tưởng tới những cánh bườm của những chiếc xuồng ba lá tí teo, mong manh như lá liễu trên đại dương bao la sóng gào gió thét, ngày nào đã đưa từng đoàn người không đành lòng rời bỏ quê cha đất tổ vượt biển tìm đất hứa…Phải chăng các cánh bướm kia là những oan hồn vất vưởng của bạn bè thân thương vạn lần ưu tú hơn tôi đã phơi thây trên chiến trận, chôn xác trong rừng sâu nước độc của những trại giam nghiệt ngã, tàn khốc hay vùi thân dưới đáy biển tăm tối thiên thu?
Requescat in pace!
Hỡi ôi! Hí trường hay dở ba canh vãn, Thế sự thăng trầm một kiếp thôi. Chẳng còn được như ngày xưa viếng thăm phần mộ những người đã khuất, cúi đầu lặng yên suy gẫm thế sự thì...Hỡi những anh em đã nằm xuống không một nắm mồ-morts sans sépultures! Xin hãy cho tôi được một lần
Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió
Cho nắm xương tàn được nở hương


*Xuân Mậu Tý (2008):
ngỡ ngàng như giấc chiêm bao…
Người ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Sáu mươi năm đã trôi đi từ độ Xuân kinh hoàng Mậu Tý 1948 ngự trị trên thôn xóm quê hương -với chính sách khủng bố kinh khiếp của Việt Minh do đảng Lao Động VN chuyên quyền áp đặt- tưởng chừng qua như một chớp tắt của sấm sét trên không trung…
Thế sự thăng trầm thì cuộc sống trên đất tạm dung của tôi cũng không tránh khỏi những đổi thay, đôi khi rất đau lòng. Những cảnh “đổi đời” tưởng chỉ xảy ra trên quê nhà lại diễn ra nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng trên xứ người với cộng đồng người Việt xa xứ. Không kể xiết những đảo lộn trong cuộc sống hằng ngày của di dân VN trên đất khách…
Ngoài mọi dự tính, chờ đợi, ước muốn, những tưởng đã đến lúc tự cho phép mình rửa tay gác kiếm hưởng nhàn -ba bốn chục năm bương chải để sinh tồn, còn ức hiếp gì nữa mà không chịu ngưng nghỉ- bỗng dưng tôi đành bỏ hết, làm lại từ đầu khi gần hội đủ điều kiện để an tâm dưỡng lão, dọn ra “căn nhà ngoại ô” nầy, tính ra đã 16 năm qua…
Căn nhà nhỏ trong một chung cư nằm ở đoạn cuối con đường dẫn ra bờ sông. Toàn bộ cao ốc xếp hàng làm một thành lũy bê-tông tiếp cận một khu rừng thưa, lỗ chỗ những đầm lầy ao tù ngập đầy lá cành mục rã. Khung cảnh yên lặng cố hữu của xẻo đất hẻo lánh vùng ngoại ô thành phố Montréal nầy rất thích hợp với cư dân tới hoặc sắp tới tuổi hồi hưu. Khu chung cư hoang vắng như thành phố ma. Họa hoằn lắm mới có một hai bóng người lụ khụ thấp thoáng, chậm chạp di động. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi cô lổ, nhưng được bảo toàn quá kỹ, rề rề lăn bánh chở hai mái đầu bạc phơ, y như một họat cảnh trong phim câm. Sự huyên náo duy nhất đến từ lũ chim bay liệng, ríu rít trửng giỡn…Khu chung cư có vẻ một chợ chim khổng lồ hơn một cư xá cho con người! Mọi tiếng động đều tắt ngấm theo bóng đêm vừa chụp xuống. Tĩnh lặng hoàn toàn. Có lẽ vì lý do an ninh, đèn đường san sát và sáng hơn các nơi khác. Từ các góc tối, nhiều dàn đèn rọi tập trung chiếu vào các kiến trúc, làm khu chung cư nổi bật lên nền trời đen tuyền như một di tích lịch sử!
Cơ thể rủ liệt, thần trí rời rã sau chuyến rong chơi vào miền quá khứ vui buồn lẫn lộn, nhưng giấc ngủ không đến với tôi trong căn nhà ngoại ô tĩnh mịch. Bạn bè tứ tán, cố nhân nếu không bặt tăm thì cũng ơ thờ, tránh mặt… Khi bước chân ta về…Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…

Tình cờ điện thư của một bạn văn báo tin có một bạn đọc muốn nhờ anh giúp liên lạc với tôi. Quả thật hết sức bất ngờ vì chẳng bao giờ tôi chờ đợi hay nghĩ rằng việc ấy có thể xảy ra: Một cố nhân chỉ một lần mặt đối mặt trên Xứ Hoa Đào 49 năm về trước, đang ở bên kia đầu dây, cách tôi ba múi giờ, về hướng Tây Nam, vùng đất được các nhà địa chất học tiên đoán sẽ bị nhận chìm xuống lòng Thái Bình Dương sau một trận động đất khủng khiếp.
-Tân nghe đây!
-Tân-Viện Đại học Đà Lạt, phải không?
-Không sai! Tú-Rosalie, đúng không? Không thể Tú nào khác được!
-Sao chắc dữ vậy?
-Chỉ có Tú-Rosalie mới biết Tân-Phan Đình Phùng, Đà Lạt 1959!
-Còn nhớ năm 1959 nữa cơ à?
-Chẳng lẽ Tú quên gác trọ năm nào...
Hai người bạn non nửa thế kỷ bặt tin, nhờ một bài viết của Tân đăng báo ở Cali, tìm được dấu vết nhau! Họ nói chuyện như mới chia tay ngày hôm qua, coi chuyện xa cách nhau 49 năm qua như một giấc chiêm bao! Bao nhiêu cố nhân nặng tình nặng nghĩa với nhau bên nhà, sang đây, nếu không ngoảnh mặt làm ngơ, cũng chẳng còn chút thân tình nào như trước, dẫu chỉ mới xa nhau năm ba năm! Thế mà Tú đã nhớ và để tâm dò la tung tích anh sinh viên “thỏ đế”, năm nào đã ra đi không một lời giã biệt, 49 năm trước!…Trong bối cảnh thế thái nhân tình ngày nay, phải nhìn nhận một tấm lòng như thế vô cùng hiếm hoi và quả thật đã làm “ấm lòng chiến sĩ” (già nua, thất thế) trên xứ lạ quê người…
Sau tháng Tư đen, hơn cả tôi Tú đã trải qua nhiều gian truân khổ lụy, mẹ góa con côi, đơn thân độc mã gánh gồng mọi nhục nhằn, đương đầu với biết bao thử thách gian nguy. Đau nhứt là đã “cúng” cho CS đứa con trai đầu lòng chết đuối khi bị điều đi làm công tác thủy lợi. Trắng tay sau vụ đánh tư sản, giờ đây mẹ định cư một nơi, các con một ngã, rải rác khắp năm châu. Ít ra tôi may mắn hơn Tú về điểm nầy, tuy tôi cũng tay trắng như Tú khi vượt thoát ngục tù CS…Nữ bá-tước-chân-trần năm xưa giờ đây đành…“tay-trần” !
Đà Lạt, một thuở…Nay còn đâu
Đà Lạt cảnh thơ tình man mác
Vàng lối thu ngơ ngác nai tơ
Đồi thông bụi phấn buông mờ
Xuân Hương hồ biếc phẳng lờ mặt gương


Tú hẹn sẽ ghé thăm căn nhà ngoại ô ven sông vào mùa xuân tới. Có lẽ cho tròn năm (mươi) năm rồi không gặp… chăng?
Chỉ sợ không còn nhìn ra nhau nữa… Tang thương đến cả hoa kia cỏ nầy!
-o-o-o-

Lòng đắng sá chi muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say

Quyển nhật ký vuột khỏi tay Tân, rơi xuống sàn gỗ, mở ra ở trang viết về *Xuân Ất Mẹo (1975), kết thúc bằng bốn câu thơ ghi nguệch ngoạc, có lẽ chép trong cơn say, lúc chạnh nhớ tới chuỗi ngày gian khổ trong ngục tù cộng sản:

Khuya vượn hót chiều tà tu hú
Đại mộng đời thế sự bến mê
Phù vân mây chó trôi về
Ba mươi năm giặc não nề hoa niên

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết,
cuối xuân Mậu Tý (2008)
-Lê Tấn Lộc-

__________________________________________________________________________________
Ghi chú: Trích đoạn thơ văn sử dụng trong bài viết nầy, người viết mượn của các thi sĩ Kiệt Tấn, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Trần Huyền Trân, Tạ Tỵ và đôi khi của chính tác giả.
Lời nhạc mượn của các nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, Ngô Thụy Miên, Hoàng Nguyên, Trần Thiện Thanh, Lê Thương, Trịnh Công Sơn...