Sunday, September 27, 2009

TU ĐÂU CHO BẰNG TU..."CHÙA"


Phiếm“loạn”(IV)
TU ĐÂU CHO BẰNG TU…"CHÙA" !
Phật tức tâm, Phật chứng tại lòng,
Tâm tức Phật, lòng thành có Phật

Sau vụ ‘đấng’ cao tăng ‘Thích… Diệu Nữ gây sóng gió rầm rộ tại Xứ Chuột Lớn, (rồi cũng đâu vào đó, vũ-như-cẫn-vẫn-như-cũ,‘đấng’ nầy tiếp tục ngất ngưởng trên ngai vàng… “chùa”, không rụng tới một sợi lông…chưn, trái lại càng lúc càng tăng cao ‘thu nhập’), khá lâu rồi tôi không có dịp phiếm ‘loạn’ thêm về các ‘đấng’ được bà con mộ đạo, không câu nệ tuổi tác -đôi khi quá chênh lệch giữa bên được ‘tôn vinh’ và bên ‘suy tôn’- một lòng sùng kính như bậc ‘mẫu nghi thiên hạ’, luôn xá lạy xưng ‘con … bạch thầy’ khi thưa chuyện với các ‘đấng’! Lắm lúc quá trớ trêu, quá tréo cẳng ngỗng, vì ‘đấng’ chỉ vừa mới ra khỏi tuổi… vị thành niên! Như câu chuyện có thật 100% diễn ra tại quận Chợ Lách, trước đây thuộc tỉnh Vĩnh long, theo lời kể của một người bạn:

Sau 1975, trong một chuyến về thăm ‘quê hương là chùm khế ngộp’, bạn tôi ‘được’ gia đình yêu cầu đứng ra làm ‘Trần văn CHI’ đài thọ kinh phí để thỉnh một ông sư về tụng kinh cầu siêu cho thân bằng quyến thuộc…Sư đến bằng xe Toyota bóng lộn, tối tân, dĩ nhiên có gắn máy lạnh, do gia (thí) chủ thuê bao. Quí vị có thể tưởng tượng, trời nắng chang chang, bên nầy cầu cả gia tộc, từ các vị bô lão ‘gần đất xa trời’ tới đám trẻ con đầu còn để chõm xếp hàng quì gối, chắp tay cung kính vái lạy nhà sư vừa tròn 21 tuổi, dù lộng che đầu, bên kia cầu ‘thư giản’ đếm từng bước tiến về phía bên nầy cầu, thong dong đi giữa hai hàng ‘thí chủ’ đang rạp mình cúi lạy… chăng?
Tôi chạnh nhớ tới hình ảnh vị hòa thượng “đem thân nương chốn thiền môn trót ba mươi năm có lẽ” -trong vở Hoa Rơi Cửa Phật của cố soạn giả Năm Châu- vội vã đỡ Điệp đứng lên khi Điệp xin quì lạy tạ ơn nhà sư đã “xúc động mối từ tâm” đề nghị Điệp mặc áo cà sa giả dạng hòa thượng đến gặp Lan (cải trang thành chú tiểu Huệ Minh) trong giờ Lan hấp hối:
-Ngài chớ quá nhọc công mà làm cho bần tăng thêm tổn đức. Ngài hãy dành lạy nầy để ngài vào lạy Phật…
Vị chân tu động lòng trắc ẩn nầy chẳng bao giờ dám phạm thượng tự coi mình là Đấng Chí Tôn. Ngược hẳn với thái độ cao ngạo -mập mờ đánh lận con đen- của một số ‘cao tăng’ tăng cao bản ngã đến độ tự phong mình là Phật trước cái nhìn đánh bóng, chạm trổ quá cường điệu của một số sai nha-đệ tử ruột xả thân ‘cúc cung tận tụy’ họ, muốn đồng hóa họ với Đức Phật, muốn bá tánh tôn sùng họ như thánh thần bất khả xâm phạm! Cho nên…mới ra cớ sự ‘chuyện lạ bốn phương’, hầu như chưa bao giờ xảy ra trong giới tu hành người Việt, trong cũng như ngoài nước: Hai ‘đấng’ đạo sĩ ‘Thích’ Mị Tà ‘Thích’ Nhất Hoa lôi một nhà báo và một nhà văn…ra tòa đòi bồi thường thiệt hại -không phải bồi thường Danh Dự lẩm ca lẩm cẩm đâu, nhằm nhò gì mấy cái lẻ tẻ vô bổ đó!- mà là chính thức chường mặt ra mướn một ‘quan trạng sư’ -tiếng tăm “nổ” đã lẫy lừng trong giới thầy cãi- đòi bồi thường cụ thể “MỘT SỐ… TIỀN ($$$) TƯƠNG XỨNG”!!!

Hỡi ôi! Chẳng thể nào tôi hình dung nổi cảnh hai vị ‘cao tăng’ trên đây ‘mặc sắc phục tăng ni’ lẫm liệt bước tới pháp đình -hầu như hai vị quên cổ nhân thường khuyến nhủ ‘vô phúc đáo tụng đình’- kề tai chỉ thị luật sư của mình mặc cả với ba tòa quan lớn về số tiền bồi thường, càng lúc càng tăng cao, cho hai tay ‘Anh Dũng mần nhựt trình và Phùng Nhân viết sách’-vốn đã chật vật trong cuộc sống thường nhựt- tiêu tan sự nghiệp luôn!
Nhị vị đạo sĩ nhứt định ‘lấy thịt đè người’ với hai phật tử cô thế, chỉ có tấm lòng ưu tư thành khẩn muốn củng cố niềm tin của họ và của đại đa số phật tử làm lợi khí truyền thông trung thực -vì không thể thụ động điềm nhiên tọa thị trước cảnh vàng thau lẫn lộn trong hàng ngũ tăng lữ- ngõ hầu độc giả không chê họ hèn nhát bẻ cong ngòi bút để được an toàn vinh thân phì gia.
Lẽ nào nhị vị không nhận ra mình đã đi quá đà trong việc ‘tăng cao’ THAM-SÂN-SI trong vị thế ‘mặc áo nhà tu’ thoát tục, quyết tâm ‘ăn thua đủ’ với hai phật tử trần tục? Nếu không quá lố bịch thì cũng xốn mắt, khó coi, đúng không? Chắc gì nhị vị thắng kiện? Nếu nhị vị thắng, họ sẽ sạt nghiệp. Nhưng trên bình diện tâm linh, coi như họ đã được giải nghiệp. Trái lại nhị vị sẽ “mang lấy nghiệp vào thân”, bởi đã xem thường BI-TRÍ-DŨNG của con Nhà Phật!
Trường hợp nhị vị thua kiện thì… còn chi nữa danh giá của người tự cho là tu hành! Bởi vì, nếu thế nhị vị phạm tội cáo gian, vướng mắc tội vọng ngữ! Thắng hay thua gì nhị vị cũng chẳng bảo toàn được phẩm cách và sự thanh khiết của người mặc áo nâu sòng mà tôn chỉ thiêng liêng là cứu nhân độ thế…
Quả tình, trước đây khi các đồ đệ suy tôn quí ‘đấng’ như thần thánh, họ đã thiêng liêng hóa con người trần tục của nhị vị. Giờ đây, ra tòa tranh cãi với người phàm trần, nhị vị đã đằng đằng sát khí trần tục hóa con người thiêng liêng mà các Phật tử đã đặt hết niềm tin và hoài bão vào sự thanh thoát của con người xuất gia đầu Phật, luôn lấy THIỆN TÂM làm trọng điểm cho việc dưỡng tánh tu tâm, từ bi hỉ xả, trong tinh thần “Đại Hùng-Đại Lực”, dĩ nhiên, nhưng… “ĐẠI TỪ BI”!
Hai người bị cáo buộc tội ‘mạ lỵ’ cũng là con Nhà Phật như nhị vị. Trên lý thuyết, họ kém xa nhị vị về mặt tu đạo. Và dĩ nhiên họ không lão thông tư tưởng Phật giáo hơn nhị vị. Nếu vô tình hay cố ý họ xúc phạm đến thanh danh của nhị vị thì, tại sao với phương vị lãnh đạo tinh thần thiện nam tín nữ -bởi mọi Phật tử đều được khai tâm ‘kính Phật, trọng Tăng’- nhị vị không mời họ đến Phật đường (thay vì đâm đơn kiện họ nơi tụng đình); hoặc giản dị và nhanh chóng hơn điện đàm với họ, để thuyết pháp cho tâm trí họ được khai thông, hầu nhận ra đâu là lẽ phải, đâu là sai trái. Hành sử như thế nhị vị mới xứng đáng là bậc cao tăng, lấy tình sư đệ đối đãi với nhau vì đôi bên đều là Con Nhà Phật.
Trường hợp nhị vị cảm thấy hai nhà báo, nhà văn phổ biến nhiều chuyện sai sự thật, bán tuần báo Việt Luận xưa nay vẫn mở rộng diễn đàn cho nhị vị phản bác, cớ chi phải ‘lôi’ họ ra toà cho hả dạ?
Mà sao lại truy tố họ? Họ chỉ lập lại những gì báo chí trong nước phanh phui và học sĩ Đặng Văn Nhâm phổ biến rộng khắp về nhị vị. Chẳng lẽ phải ngầm hiểu Anh Dũng và Phùng Nhân ‘ngon xơi’ hơn nhà báo trong nước và cây cổ thụ họ Đặng, hai cây bút đã công khai vạch trần những điều không được ‘đẹp’ lắm về nhị vị? Lẽ nào ‘kẻ sĩ’ như nhị vị lại thiếu dũng khí đối phó với các tác giả thực sự đã hiên ngang múa bút phơi bày những gì mờ ám lâu nay được che đậy quá tinh vi, đến độ nhị vị phải luồn lách chơi trò ‘giận cá chém thớt’?
Tôi lại chạnh nhớ lời khuyên giải của vị chân tu trụ trì ngôi chùa mà tín nữ Thị Kính cải trang nam nhi đến xin thí phát qui y, sau khi bị nghi oan muốn giết chồng. Sau đó lại còn bị Thị Mầu vu oan dóa họa đã ‘gian díu’ với cô nàng đến có con hoang, trong vở cải lương Quan Âm Thị Kính, thập niên 40:
-Thiền môn là chốn dưỡng tánh tu tâm, có lý nào dung dưỡng những điều tà dâm! Nếu như con có lỡ lầm nhứt phen thì kể từ nay con hãy nên ăn năn hối ngộ. Bằng như ai kia có đem lòng quá ác gian, đành phao vu những điều quá ác tâm thì con cũng nên làm ngơ cho giải khuây trong dạ, mà lo thủ phận tu hành, rồi sau thiện ác đáo đầu sẽ phân minh…

Nếu quả thật quí ‘đấng’ cao tăng chịu hàm oan bị ‘mạ lỵ’ thì…tôi thầm ước nhị vị noi gương Phật Bà Quan Âm đã kiên cường im lặng chịu Nỗi Oan Thị Kính, luôn vững tin thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Bởi vì…
“Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”
(Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt)

Trời Cao có mắt đấy, nhị vị ạ!
**
B
ài viết có thể chấm dứt nơi đây. Tuy nhiên, tôi vừa lượt đọc muộn màng tờ Việt Luận, Số 2396-Năm thứ 26-Thứ sáu 18.09.2009, các trang 36, 37, 39 và 55…với ‘Ý kiến độc giả’ của quí bạn đọc Diệu Nhã, Gia Tâm, S.N., Robert Trần, Vi Thương, Lê Văn Tám, N.H. (đa phần là Phật tử) và hai bài viết của hai cây bút, cũng là Phật tử, Phan Văn Song (“Sư ông đáo tụng đình”) và Nguyễn Khắp Nơi (“Thư gửi bạn Phùng Nhân”) khiến tôi bồi hồi xúc động nhớ lại hình ảnh các vị tu hành đơn sơ, chơn chất, khổ hạnh và một ngôi chùa còn lưu giữ trong tôi nhiều kỷ niệm thuở niên thiếu khó phai mờ. Tôi muốn nhắc lại đây để đối chiếu với chuyện hai nhà tu hành hiện đang kiện cáo tín hữu của mình tại Úc.

Thuở mười lăm, tôi thường theo má tôi lui tới một ngôi chùa ở Vĩnh Long, được người bản xứ biết dưới danh hiệu Chùa Bà Đội. Ngôi chùa nguyên là một căn nhà vách ván, lợp ngói, tọa lạc trên một thửa đất khá lớn, với vườn tượt có cây ăn trái, cây kiểng bao quanh, do một góa phụ tục gọi là Bà Đội tự mình gầy dựng nên với phương tiện cơ hữu. Chùa có một nhà sư lo Phật sự. Ông còn trẻ, khoảng trên dưới 30. Tôi không rõ phẩm trật của ông, nhưng mọi người đến lễ Phật đều gọi ông là…Ông Giáo.
Tôi rất thích nghe ông tụng kinh và thuyết pháp khi cùng với má và em tôi qua đêm tại chùa. Giọng ông trầm ấm, hòa quyện trong tiếng mõ chuông đều nhịp, nghe vô cùng ‘siêu thoát’ trong đêm tĩnh mịch…Thỉnh thoảng tiếng đại hồng chung ngân nga khiến hồn tôi như chực bay bổng! Sắc diện ông trông rất hiền từ. Ông thường dùng xe đạp hoặc đi bộ ra phố khi cần.
Không một ai đến chùa mà không tôn kính, mến trọng Ông Giáo và Bà Đội hầu như biết hết và để tâm chăm sóc, trợ giúp tất cả thành viên trong gia quyến của những bà con cô bác trong tỉnh đến chùa lễ Phật. Khách thập phương đến tham gia sinh hoạt của chùa như thân bằng quyến thuộc trong một đại gia đình…con Nhà Phật!
Có lần em tôi kể thấy một nhà sư chạy mô-by-lết trong tỉnh, má tôi rầy la em tôi ăn nói bừa bãi. Người tu hành ai lại lái xe gắn máy bao giờ, coi chừng mang vạ ác khẩu!..
Mười mấy năm sau, khi tôi kể thấy mấy ông sư ngồi xe Méc-xê-đéc có tài xế riêng lái đi trên các đường phố Sàigòn, má tôi lại la rầy tôi dữ dội chớ có bày chuyện “nói xấu quí thầy”. Là một Phật tử thuần thành, má tôi rất mực quí trọng giới tăng ni… Tôi không dám cho má tôi biết rằng lúc đó một số thượng tọa, đại đức đã có mặt trong quân đội qua Nha Tuyên Úy Phật Giáo, với quân phục, lon lá hẵn hòi, hai bên khăn choàng màu nâu quàng qua vai để làm lễ có gắn quân hàm, hoặc bông mai vàng hoặc bông mai bạc. Và tùy theo cấp bậc, chức vụ, “quí thầy” di chuyển bằng Mercedès hoặc Jeep. Điều nầy vượt quá tầm hiểu biết và niềm tin của một tín nữ mộc mạc, chỉ quen nhìn các đấng tu hành mặc áo nâu sòng, đi bộ, quá lắm là đạp xe đạp như “Ông Giáo Chùa Bà Đội”!

Rất may, lúc biến động “đem Phật xuống đường” xảy ra ở miền Trung má tôi ngã bịnh nặng phải nằm bệnh viện và sau đó bị lãng trí. Nếu không chẳng thể nào má tôi tin có việc đem Phật trên bàn thờ nơi cửa thiền tôn nghiêm bày ra đường lộ! Chắc chắn bà sẽ nổi giận cho rằng có ai đó ác ý phao đồn tin thất thiệt nhằm triệt hạ uy tín của “quí thầy”!
Và có lẽ cũng là một ân phước của Bồ Tát, một tháng sau khi Sàigòn mất tên má tôi nhắm mắt lìa trần, khỏi phải xốn mắt, đau lòng cùng đồng bào miền Nam chứng kiến một số khá đông “quí thầy” vỗ tay hoan hô “giặc từ miền Bắc vô đây bàn tay nhuốm máu anh em” reo hò Kách Mệnh thành kông, ‘tiến về Sàigòn’ lập “Ủy Ban…Khuân sảng tài vật của người dân ‘Nam bộ’!
***
T
ôi không thể không đau lòng nghĩ tới người mẹ cả đời một lòng nhiệt thành ‘kính Phật, trọng tăng’ khi phải chứng kiến hai bậc xuất gia đầu Phật, mà tâm nguyện lẽ ra phải là “sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy(…), lòng thanh thản hồn nhiên trước cửa từ bi, bao nỗi thi phi tai chẳng buồn nghe, mắt chẳng buồn trông thấy nữa…” lại đành đoạn xúc tiến thủ tục trần thế ép buộc hai Phật tử trong ngành truyền thông phải vác chiếu ra toà!
Trước khi đặt bút viết bài nầy, tôi có đọc qua bài viết của nhà văn Phùng Nhân mà tôi chưa có dịp quen biết cá nhân. Tôi đặc biệt ghi nhận lời trần tình sau đây của tác giả: “Những gì tôi trích đăng trong bài viết ‘Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Úc Châu. Nên nhìn lại chặng đường đã qua’ chỉ là một phần rất nhỏ và rất nhẹ so với những gì ông Nhâm đã viết về HT Thích Như Huệ”…
Sau khi quyết định góp ý về vụ kiện tụng hi hữu nầy, tôi tìm hiểu quan điểm của nhà văn Phan Văn Song mà tôi cũng chưa được dịp làm quen. Và tôi bắt gặp, cùng chia sẻ đoạn kết của tác giả: “Ngày xưa, tôi đã học được cái giáo lý của Phật giáo đầy tình thương, đầy thông cảm. Ngày nay qua việc kiện tụng nầy tôi cảm thấy lo ngại cho tiền đồ của Phật giáo. Phán, phán, quyết và Phạt. Còn đâu là Bồ Tát?”.
Ngoài ra, tôi cũng chia sẻ cảm tình của nhà văn Nguyễn Khắp Nơi -mà tôi cũng chưa được quen biết- dành cho bạn Phùng Nhân của mình, cũng như đồng cảm với mối ưu tư của tác giả: “Tối nay, tôi sẽ thắp ba nén nhang lạy Đức Phật Thích Ca, lạy Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, xin chỉ cho con: Đi chùa nào? Đọc kinh loại nào? Để…không bị Thượng Tọa thưa ra tòa?”…

Gần đây, ‘siêu’ thiền sư ‘vĩ đại’ Thích Nhất (hay Bất, Vô) Hạnh, với vụ ‘quang vinh’ về nước lập thiền viện Bát Nhã -ít lâu sau bị đập phá tan tành và vĩ đại sư nhanh chóng ‘di tản’, coi như mặc nhiên ‘đem con bỏ chợ’- cộng với sự lộ mặt của tập đoàn sư quốc doanh không thể không tác động bất lợi cho tiền đồ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Giờ lại thêm vụ hai vị tu sĩ đạo Phật ‘xuống đường’ toan ‘làm thịt’ hai Phật tử!
Không phải khi không mà bài viết sử dụng nhóm chữ tu “chùa” trên tựa đề. Xin hiểu chữ chùa trong dấu ngoặt kép theo nghĩa khỏi tốn tiền (gratuit, free). Tiền bá tánh dựng nên chùa, nhị vị tu chùa kể trên lâu nay ăn “chùa”, ở “chùa”, mọi tiện ích vật chất cho bản thân đều “chùa”. Bây giờ nhị vị tu “chùa” đáo tụng đình với tư cách ‘nguyên cáo’, kinh phí ứng ra cũng là tiền “chùa” -tiền của bá tánh! Trường hợp thất kiện, bá tánh lãnh đủ. Nếu thắng kiện, cho dù số tiền bồi thường ‘tương xứng’ có được sung vào quỹ của chùa đi nữa, bá tánh cũng không hoan hỉ vì nó được trả giá bằng sự ‘trấn lột’ hai Phật tử Nhân-Dũng ‘ách giữa đàng (nhà báo ở VN và Đặng Văn Nhâm) mang vào cổ’! Quả thật: Kiện tụng là bác thằng bần, Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm!
Đó là chưa kể khi mọi sự đã ngã ngũ, từ nay trở đi đôi bên sẽ rơi vào vòng lẩn quẩn ân oán giang hồ không thể một sớm một chiều tuyệt dứt! Nhị vị để đâu rồi giáo lý Nhà Phật: Oán thù nên cởi không nên buộc?
Ngày xưa tôi được Ông Giáo chùa Bà Đội kể cho nghe chuyện hai nhà sư rất ư đạo hạnh đến diện kiến Đức Phật để được vào cõi Niết Bàn. Nhưng Đức Phật bảo hai ông phải trở về cõi trần tu đức lại vì hai ông đã trót quăng bộ đồ lòng mà một tay đồ tể đã gởi hai ông mang đến trình Phật chứng tỏ lòng ăn năn hối ngộ của mình. Hình như Ông Giáo kết luận: đồ tể quăng dao có thể thành Phật. Xin hỏi nhị vị, đôi bên kiện và bị kiện ai là người đang cầm dao trên tay đây?
Một Phật tử vừa gọi điện thoại bày tỏ sự bất mãn trước vụ kiện tụng nầy với tôi:
-Đại lão cái quái gì mấy cha nội nầy! Đại láo, đái láo thì có!
Riêng tôi thì tôi nghĩ nhị vị chịu hạ mình làm người trần tục để đôi co trước tòa án trần thế là vì danh xưng “đại lão” đã biến thể thành “Đạo Lãi”: nhị vị theo đạo sanh lời!
Thương thay Nhân Dũng có thừa.
Gặp phường tu đạo chẳng chừa thứ chi!
****
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê…
Phàm trần mắt tục như kẻ hèn mọn viết bài nầy mà còn nhận thức được thân phận mõng giòn của kiếp phù sinh: Phù du trong những phù du, Phù du tất cả chỉ là phù du! (Vanitas vanitatum et omnia vanitas), và tất cả đều VÔ THƯỜNG…huống chi nhị vị đạo sĩ!
Đặt trường hợp luật sư của nhị vị sử dụng thành công ngón nghề riêng bẻ cong công lý cho các ‘đấng’được dịp hả hê ăn mừng đã đánh gục hai Phật tử làm báo, viết văn, bịt miệng luôn giới truyền thông, nhị vị có chắc công luận sẽ đứng về phía mình chăng? Hay một ngày trời mây u ám nào đó, sinh, lão, bịnh rồi sắp tử tới nơi, nhị vị lại chẳng nhớ tới chuyện đáo tụng đình trước đây mà sanh ra lòng thống hối đã làm cho quỷ giận, thần hờn, nay nghĩ lại càng thêm đau đớn ?

Sau rốt, tôi thành tâm cầu nguyện sẽ có một vị chân tu thực sự cao kiến xuất hiện lay tỉnh nhị vị cao tăng-tăng cao của chúng ta trở về đúng vị trí tu hành của mình, với tư tưởng sau đây trong Cảnh Sách:
Người xuất gia là cất bước đi thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối rạng rỡ giòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma cũng phải khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi. Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hành dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu
”.

Mong thay!

Thôn trang Rêu-Phong, vào Thu 2009
-Lê Tấn Lộc-
















































Thursday, September 10, 2009

TĨNH TÂM CUỐI HÈ 2009


Vài cảm nhận về lần

TĨNH TÂM CUỐI HÈ 2009
«‘Ép-pha-tha’, nghĩa là: hãy mở ra »
(Mc 7, 34)
« Anh em có mắt mà không thấy,
có tai mà không nghe ư? »
(Mc 8, 18)

Kỳ họp dòng đầu tháng 6, khi được thông báo Cha Giảng Phòng cho lần Tĩnh Tâm của Dòng Phan Sinh Tại Thế Vùng Montréal vào cuối tháng 8-2009 sẽ là Cha Nguyễn Tầm Thường, tôi cảm thấy trong lòng hơi áy náy vì cái tật ưa ‘cà rỡn trong nghiêm chỉnh’ của mình -hơn là ‘nghiêm chỉnh nhưng (thực chất là) cà rỡn’ mà mình vốn rất dị ứng- e rằng không khéo mình sẽ bị mời đi chỗ khác tha hồ cà rỡn, vì ‘ở đây người ta làm việc rất nghiêm chỉnh, biết chưa?’...( ! )
Thiên hạ đồn rằng Cha Giảng Phòng, tuy danh hiệu Tầm Thường nhưng chẳng Tầm Thường đâu nhé, chớ có tưởng bở mà vỡ…mặt đấy! Lén phén là Cha thẳng tay đuổi ra về không vị nể, khỏi Tĩnh Tâm luôn…Cho nên tôi đã định sử dụng chiêu thức tam thập lục kế, âm thầm hát bài …tẩu mã: đi Âu Châu sớm hơn dự tính ban đầu, vào khoảng trung tuần tháng 9. Nhưng vào giờ chót, tôi quyết định nấn ná ở lại ghi danh tham dự.
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần nơi nao!
Tôi lại còn ‘can đảm’ tháp tùng một số anh chị em đón Cha từ Hoa Kỳ bay sang. Gan thật, dám liều lĩnh ‘vuốt râu hùm’! Ấy thế mà tiếp cận lần đầu với Cha, tôi ‘cảm nghiệm’ ngay Cha không ‘khó’ như dư luận đồn đãi. Cha chỉ phân định rạch ròi giữa hai lãnh vực sinh hoạt: vui chơi và làm việc.
Bữa cơm tối chào mừng người Cha viễn phương đến với đàn chiên hôm đó, một dòng viên nêu ra vấn đề các bác lớn tuổi trong Dòng đa số ‘khiếm nhỉ’ (lãng tai) nên hay phát ngôn to tiếng, tôi góp ý: Nếu chúng ta không cố gắng khép mình vào kỷ luật thinh lặng khi tham dự Tĩnh Tâm thì, tuy mang danh Dòng Nghèo Khó hóa ra chúng ta ‘nghèo mà không chịu khó’! Cha Trợ Úy Aimé Đỗ Văn Thông của chúng ta đã không từng nhắc nhở ACE ‘Người ta khó chịu thì mình chịu khó. Nhưng khi đã chịu khó rồi thì đừng lấy làm khó chịu đã chịu khó. Vì như vậy còn tai hại hơn là không chịu khó từ đầu’… sao?
Cha Nguyễn Tầm Thường vỗ vai tôi, cười xòa. Vậy tôi có thể an tâm: Cha có óc thanh tiếu (sens de l’humour). Hy vọng Cha thuộc dòng ‘thanh tịnh tươi cười’ (sénérité souriante), chứ không rơi vào nhóm ‘thanh tịnh cáu có’ (sénérité grimaçante). Mong thay!
*
Buổi đầu sinh hoạt với Dòng Cha đã làm tan loãng tảng băng giữa hai định kiến, khiến mọi người cười rộ: Cha đề nghị đánh cuộc xem ai thắng, ai thua: Cha khó, đúng như dư luận loan truyền hay Dòng thường ngủ gục, đúng như tin đồn rộng khắp!
Những ngày sau đó, anh chị em càng lúc càng cảm thấy Cha khó. Bởi lẽ lâu nay Dòng PSTT Vùng Montréal hình như chưa hề nghe qua cách giảng phòng nào quá ‘đặc biệt’, nếu không muốn nói là quá ‘cách mạng’như thế! Cha khó thiệt: Cha hỏi dồn dập, đưa ACE vào thế ‘bí’, khiến ACE lúng túng khi phát biểu. ACE muốn nói cái gì? Đã định nghĩa chính xác các khái niệm (concept) mình muốn khai triển chưa? Cha càng hỏi, ACE càng lờ mờ, càng lẩn quẩn trong cách diễn tả quan điểm, gần như đang ngủ gục trong những điều thu lượm được trong kinh sách, rồi tự động cho ‘tuôn’ ra, cơ hồ như đang trả bài…Cho nên cuộc ‘quần thảo’ giữa Cha và ACE tiếp diễn dài dài, bất phân thắng bại!
Tôi tưởng tượng như đang chứng kiến cảnh đối đáp giữa Socrate -cha đẻ của triết học tân thời- với các triết gia thuộc trường phái Ngụy Biện (Sophistes). Các triết gia nầy thường hãnh diện về sự hiểu biết vững chắc của mình. Trong khi họ thao thao bất tuyệt thì Socrate giả vờ như ngu dốt, ‘không biết gì cả’. Nhưng Socrate cứ hạch hỏi họ tới tấp, như ông không thấu hiểu những gì họ xác quyết, bằng cách yêu cầu họ định nghĩa rõ rệt những khái niệm họ nêu ra trong lúc tranh biện…Cuối cùng họ khám phá chính họ mới thực sự không biết gì hết ngoài một số định kiến hàm hồ hấp thụ qua thói quen mà họ ‘tuôn ra’ như vẹt khi được cơ hội!
Về điểm nầy tôi nghiệm ra phương thức giảng phòng của Cha Tầm Thường thể hiện quan điểm của Voltaire, triết gia người Pháp, thế kỷ XVIII: “Quan niệm đúng thì phát biểu rõ” (Ce qui se conçoit bien s’énonce clairement). Đột nhiên tôi chợt nhớ ‘cụm từ’ người Việt ưa dùng mà tôi không làm sao hiểu nổi: ‘Nói hổng phải nói chớ…’(!) Cái gì vậy bà con? Nói (mà) hổng phải nói là… sao? Nói hay không nói, chứ sao lại vừa nói vừa hổng phải nói? Chẳng lẽ phải hiểu là nói khơi khơi, chẳng muốn nói cái gì cả. Nói như Tây nó bảo: Parler sans rien dire…chăng? Y như mình programme cho cái TV, tới giờ nào đó nó tự động‘xổ ra’ một tràng âm thanh vô hồn…
Tôi cũng nghiệm ra có lẽ Cha đang ứng dụng phương pháp ‘đỡ đẻ’ (maieutique) của triết gia Socrate: Những câu hỏi dồn dập về định nghĩa giúp các môn đệ của Socrate ‘khai hoa nỡ nhụy’ chân lý đã tiềm ẩn nơi họ…
Một phương pháp tuyệt vời! Nhưng bất hạnh thay cho Socrate, nếu các mộn đệ ông trân quý và tri ân ông bao nhiêu thì một số môn sinh và tập thể các triết gia Ngụy Biện ức lòng ông bấy nhiêu… Vì ông vạch cho họ thấy rõ chân tướng ngu dốt nhưng cứ nhắm mắt nhắm mũi tự cao tự đại về mớ kiến thức gồm toàn những định kiến không kiểm chứng được của họ! Cái mà họ hiu hiu tự đắc coi như một tạp lục kiến thức bách khoa (connaissance encyclopédique) thực ra là một hỗ lốn ngu dốt bách khoa (ignorance encyclopédique)! Họ căm thù ông, vu cáo ông đầu độc và làm suy đồi (corrompre) giới trẻ. Và lập tòa án xét xử, buộc ông uống thuốc độc tự tử. Hỡi ôi! Thuốc đắng đả tật nhưng…Lời thật mích lòng!
Tôi có phần lo âu cho Cha Giảng Phòng và rốt lòng cầu nguyện Ơn An Lành cho Cha…
**
Những giây phút đầu của buổi huấn đức mở đầu chương trình, tôi cũng hụt hẫng, chới với -như đa số ACE- cảm thấy bất ổn, lạc lỏng trong một khung cảnh khác lạ hơn không khí ‘an lành’của những ‘đường xưa lối cũ’ thênh thang, theo khuôn phép sinh hoạt cổ điển mà ACE chúng ta đã quá quen thuộc. Cha Giảng Phòng lần nầy đã khuyến khích chúng ta đi chệch ra ngoài những lối đi an toàn, kẻ qua người lại tấp nập (hors des sentiers battus), tự dò đường tìm đến với Lời Chúa đích thực, sống động.
Do đó, chúng ta hơi bực dọc, không thoải mái, e ngại lạc lối! Cho nên mới có ý kiến Cha giảng ít quá! Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng Cha giảng ít vì Cha chủ ý khơi động mạch ‘tư duy’ cho chúng ta suy gẫm Phúc Âm, lắng nghe Chúa nói và tâm sự cùng Chúa. Nhóm nầy cho rằng Cha giảng như thế đã đủ so với thời gian eo hẹp dành cho phần huấn đức. Nhóm kia lại nghĩ là Cha giảng như vậy là quá thiếu, chưa đủ để thỏa mãn niềm khao khát của một số ACE muốn nghe Cha giảng nhiều hơn nữa, vì từ lâu họ đã nghe một dòng viên nức nở khen Cha Nguyễn Tầm Thường giảng rất “tuyệt vời…Đã nghe Cha Nguyễn Tầm Thường giảng rồi thì sẽ không cách chi còn có thể chịu ngồi nghe các Cha khác giảng…nhạt phèo được nữa!”. Cảm tưởng của dòng viên nầy được lặp đi lặp lại như một điệp khúc bất tận, dần dà trở nên một ‘ám ảnh’ , một ‘ấn tượng’ ăn sâu vào tiềm thức một số ACE náo nức ‘thèm’ nghe Cha Tầm Thường giảng!
Về điểm nầy, tôi nghĩ rằng, nếu Cha thấy ACE góp ý phát biểu lờ mờ thì, ngược lại. tôi thấy Cha giải đáp cũng lơ lửng! Đúng hơn Cha bỏ lửng, không đi đến tận cùng cách lý giải. Nhưng tôi nghĩ rằng Cha đi đúng tôn chỉ của Linh Thao mà Cha là một chuyên viên thượng thặng. Cha có nói linh hướng không phải là việc có thể gấp rút ‘làm cho xong trong ngày’, trái lại là một thao luyện từng bước và trường kỳ. Do đó, theo tôi, trong 3 ngày tĩnh tâm Cha chỉ mới khai mở một chặng đường ngắn trên đoạn đường rất dài… Nói nôm na, những gì Cha giảng trong lần tĩnh tâm của Dòng PSTT có thể xem như ‘tập một’ của bộ truyện dài Linh Thao nhiều tập…Như vậy, theo tôi, ít nhiều Cha đã vạch ra cho ACE ý thức về bước đầu trong tiến trình linh hướng, theo cách Xét Mình, kiểu Socrate: “Hãy tự biết lấy mình! - Connais-toi toi-même!”, để nhận ra quả thật “Tôi chỉ biết có mỗi một điều: Tôi không biết gì cả! - Je ne sais qu’une chose: Je ne sais rien!”. Bài học về lòng khiêm nhường nầy hữu ích cho tất cả mọi người, không nhất thiết chỉ riêng cho chúng ta, đúng không ACE?
Khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường,
Khiêm nhu, khiêm hạ, ‘Vui Mừng Bình An’
***
Tôi nghĩ rằng mỗi người trong ACE chúng ta, sau mỗi lần Tĩnh Tâm đều lãnh hội một ít điều lay động tâm hồn mình. Cho nên thiết nghĩ tôi không nhất thiết phải làm công việc khó khăn và ‘bạt bẽo’ đúc kết những thảo luận, những chia sẻ đề tài huấn đức ‘Để sống tự do và hạnh phúc hơn’. Bởi vì đúc không đầy đủ thì kết không vẹn toàn. Vả lại, tôi nghĩ rằng hầu hết ACE chúng ta đều đã tập trung theo dõi những gì Cha Giảng Phòng chuyển đạt. Ngoài ra, như thường lệ, sau mỗi kỳ Tĩnh Tâm, sẽ có bài đúc kết tỉ mỉ của Ban Phục Vụ. Cho nên tôi chỉ muốn tóm lược những điều được ghi nhận như tương đối ‘động não’ tôi, mong được ACE chia sẻ và góp ý bổ túc…

1-Tôi thắc mắc tìm hiểu xem những gì Cha Giảng Phòng mới đây và Cha Trợ Úy trước đó trình bày về Tha Thứ bổ túc hay mâu thuẫn nhau, ít ra trên bình diện Công Bằng. Cha GP đặc biệt nhấn mạnh về ‘Tha’ như ‘buông’ cho mình được nhẹ nhàng trong tâm hồn, cho an bình nội tâm được vững chải, chớ có NGU (muội) trông chờ kẻ xúc phạm tới mình xin lỗi mình, đền bù cho mình. Hành sử như vậy chỉ tổ làm cho mình càng lúc càng khổ thêm, trong lúc kẻ xúc phạm tới mình vẫn ‘phây phây’, chẳng hề hấn gì -chẳng mất một sợi lông…chân nào hết! Chí lý quá, đúng không? Thế nhưng Cha TU thì cho rằng chúng ta ‘tha’ chứ ‘không quên’. Mà trước khi tha, cần chỉ rõ cho kẻ được tha biết hắn sai trái thế nào. Cũng là theo lẽ công bằng thôi! Cũng hợp lý quá đấy chứ, phải không? ACE nghĩ sao?
Lẽ ra tôi nên theo cách lý giải ‘lơ lửng’ của Cha Tầm Thường, để ACE tự tìm câu trả lời, nhưng tôi chưa thể đạt tới mức thanh tịnh siêu đẳng như thế, nên tôi đành chịu khó ‘ngu’, ôm những ray rứt về Bác Ái và Công Bằng vào lòng -dù biết trước chỉ tổ làm cho mình thêm nhức đầu nhức óc thôi- để trình bày những ‘trăn trở’ hậu tĩnh tâm của mình với hai Cha và ACE thân thương:
Về ẩn dụ ‘củ khoai’, tội cho kẻ bị tên láng giềng đánh cắp. Nếu tôi là nạn nhân, tức tối bức đầu bức cổ chờ nó xin tôi tha nó và chờ nó đền bù là tôi…ngu, vì trong lúc tôi xót xa bức rức, có thể nó đang hả hê ‘xực’ củ khoai của tôi và khoái trá cười tôi…ngu! Cho nên tôi chớ có dại khờ ‘đau khổ’ giùm cái tội ăn cắp của nó: tôi ‘buông’, tôi ‘cho qua’. Trên bình diện thanh thản cá nhân, đó là một thái độ hết sức khôn ngoan nhưng hình như quá …vị kỷ chăng?
Xin lấy lại ẩn dụ củ khoai ‘kinh qua’ cá nhân người viết: Tôi là người làm rẫy phương Nam, có thửa ruộng trồng khoai nuôi sống gia đình. Bỗng dưng đám người phương Bắc tràn tới tước đoạt mảnh vườn của tôi, lại còn bắt tôi cầm tù, hành hạ chí cốt. Nhân danh sự an bình nội tâm, tôi thinh lặng hòa giải cùng kẻ cướp. Vậy tôi khôn hay ngu? Có thể tôi khôn đấy, nhưng cái khôn đó được trả giá bằng sự nhắm mắt, bịt tai a tòng cho Bất Công, Sái Quấy, Gian Ác, Bạo Hành, Phi nhân thắng thế tràn lan, ngự trị! Vẫn biết Công Bằng mà không Bác Ái là sắt máu. Nhưng, Bác Ái mà không Công Bằng là…mù quáng!
Lý là thế đấy, nhưng xét cho cùng, quan điểm cùa hai Cha GP và Cha TU bổ túc nhau. Cha GP nêu lên giai đoạn tiền nghiệm (a priori), điểm khởi cho ta vững vàng tâm trí để nhân đức an bình của ta lan rộng và ảnh hưởng tới kẻ xúc phạm ta -điều kiện cần- trước khi bình tĩnh bước tới chỉ ra lỗi phạm của tha nhân hầu dễ dàng tha thứ trong tinh thần hoà giải đích thực trong tình người với nhau. Cha TU đề cập tới giai đoạn hậu nghiệm (a posteriori), điểm đến, tiếp nối chung cuộc -điều kiện đủ- của lòng thứ tha toàn mỹ: Bác Ái được cân bằng với sự tái lập Công Bằng!
Điều đánh động tâm tư tôi nhất ở điểm nầy là Cha GP nhấn mạnh: Cho qua không có nghĩa là nhu nhược và tha thứ để giữ hòa khí không thể đồng nghĩa với bao che, dung túng! ACE nghĩ chúng ta có nên nhìn lại kỹ lưỡng cái mà chúng ta thường khuyên bảo nhau ‘hãy hiền hòa thuận thảo’ -bằng mọi giá- chăng? Coi chừng chúng ta bị Pha-ri-sêu hóa lúc nào không hay biết!

2- Cha GP đã trình bày rất rõ về Tội và Vạ. Cho dù chúng ta có đền bù, phạt tạ đến đâu cũng không cách chi sạch tội hoàn toàn nếu không nhờ lòng thương xót và giá máu cứu chuộc của Chúa trên Thánh Giá… Cha GP chưa trả lời câu hỏi của tôi về việc Chúa cho tên cướp cùng bị đóng đinh với Người lên Thiên Đàng mà chưa qua quá trình đền phạt, vì Cha không còn thì giờ. Có thể dịp khác Cha sẽ lý giải chăng? Tuy nhiên, tôi vẫn thường xuyên tự hỏi -và muốn ACE cùng góp ý- ai là người đáng được cứu rỗi và vào nước Trời hưởng phúc đời đời: Kẻ vô số tội lỗi, vào phút chót thực lòng ăn năn hối cải hay người suốt đời thánh thiện giữ đạo, vào giờ chót cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, đang tâm chối bỏ Chúa? Trong hai người, ai là người thực sự đấm ngực mình -chứ đừng đấm ngực anh em, như Cha TU thường nhắc nhở chúng ta- khi xướng đọc: Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em(…)Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi mọi đàng?

3- Cha GP cũng cho ACE và tôi có cái nhìn mới về Tòa Giải Tội. Tiếng là ‘Tòa’ nhưng Chúa không đóng vai trò trần tục của một thẩm phán xử án: Tòa giải tội là tiếng nói của Tình Thương do Người Cha ban ân xá cho con cái của mình. Tôi chợt nhớ lời nhắn nhủ của Cha TU: Ta đến xưng tội “để được Chúa chạm vào đầu mình” như người cha xoa đầu đứa con lỗi phạm ủi an, vỗ về, nâng đỡ tinh thần…Thật vậy: “Con Người đến không phải để giết mà để cứu chữa” (Lc 9, 56) “cứu chuộc kẻ hư mất” (Lc 19, 10).

4- Một điều khác cũng đáng ghi nhận về ẩn dụ ‘củ hành’ của Cha GP: Tiền tài, danh vọng, sự nghiệp, v.v…chỉ là các lớp bên ngoài bao bọc cái lõi bên trong của củ hành. Y như lớp sơn bóng nhoáng bên ngoài của những thành đạt xã hội phù du phủ lấp yếu tính con người vĩnh cửu bên trong, khiến chúng ta mê lầm đồng hóa nhân cách thâm sâu, đích thực (personnalité profonde, authentique) với nhân vật xã hội, ngoại vi (personnage social, superficiel)…Những chiếc mặt nạ ‘nhân vật’ nầy sớm muộn gì cũng rơi xuống, phơi bày con người thực sự của chúng ta: Tự bản chất, tất cả chúng ta đều là con cái của Chúa, nhân đức là giá trị qua tôi luyện đời sống linh hướng của từng người, không thể chuyển cho người khác, cho dù là người cật ruột. Và đường lối Chúa đánh động tâm linh mỗi người chúng ta đều theo cách riêng của Chúa. Mà “Đường lối Chúa khôn dò khôn thấu- Les voies du Seigneur sont imprénétrables” như Cha TU thường nhắc nhở ACE chúng ta!

5- Dụ ngôn về ‘đứa con hoang đàng’ được Cha GP đặc biệt lưu ý ACE. Cha hướng dẫn tường tận cách đọc Phúc Âm qua các giai đoạn ‘đọc+tưởng tượng+đặt mình vào những nhân vật trong các dụ ngôn+cầu-nguyện-thinh-lặng-nghe-tiếng-Chúa’. Cha nhấn mạnh về vai trò và tương quan của người con cả đối với người cha và người em của mình. Cơ hồ như tôi bắt gặp lời tâm nguyện của Cha cảnh tỉnh ACE chúng ta:
“Lạy Chúa,
So sánh mình với người khác có khi con thấy người khác cần trở về hơn con. Dấu chỉ con không cần trở về là con còn trong Giáo Hội, con đi lễ, còn giữ các giới răn, có khi còn giữ chức vụ này nọ trong Giáo Hội. Không biết những lề thói con giữ đó có bảo đảm cho con rằng con gần Chúa không hay chỉ là tâm tình nô lệ. Biết đâu sự trở về của kẻ ở nhà lại cấp bách hơn kẻ đi xa. Nỗi đau khổ của cha vì đứa con thứ bỏ nhà đi chưa chắc đã nặng hơn nỗi khổ tâm do sự có mặt của người con trưởng…”
(Nguyễn Tầm Thường, Con biết con cần Chúa).

6- Câu chuyện Cha GP kể để minh họa một xác tín quả thực chấn động tâm can tôi: Trong một lần tĩnh tâm với Cha 3 năm trước đây, chị Tuyết - đang hiện diện trong hội trường- có dẫn cựu thiếu tá Chế, nguyên tiểu đoàn trưởng thuộc sư đoàn 18, một Phật tử, đến tham dự. Đây là người cựu chỉ huy trực tiếp của chồng chị, cố đại úy Huệ, người đã nấn ná ở lại trận tuyến chờ giải cứu thiếu tá Chế, bạn mình đang kẹt trong vòng vây của địch quân, để cùng di tản. Và vì thế, đại úy Huệ đã tử trận! 37 năm sau, Lời Chúa “không gì đáng quí hơn hy sinh mạng sống mình cho bạn” bắt đầu tác động trên tâm tưởng của Phật tử Chế…
Chuyện kể nầy khiến tôi hồi tưởng lại chặng đường gay go của ‘nhỏ bé thôi’ tôi đây đến với Chúa: 74 năm về trước, thằng-bé-tôi chào đời trong một gia đình ngoại đạo; chưa đầy tháng đã được gia đình ‘ký bán’ cho ông Trùm họ đạo Bạc Liêu, nhưng không qua nghi thức rửa tội. 25 năm sau đó, lúc bấy giờ là sinh viên đại học, nó được một linh mục trao tặng một quyển Thánh Kinh đầu tay với lời nguyện cầu “để có ngày Lời Chúa sẽ vang động trong tâm hồn hắn…”. 20 năm sau lời nguyện cầu đó, nó trở thành con cái Chúa qua bí tích Thanh Tẩy, sau khi nó ra tù cải tạo của CS…
Chuyện nó đến với Dòng PSTT cũng qua một quá trình cam go dài lâu: 45 năm sau lần tình cờ nó tiếp cận Đức Cha Dòng Phanxicô phụ trách trại cùi tại Di Linh, trên đường nó rời Đà Lạt đi du học… ‘Nhỏ bé thôi’ tôi nghiệm đúng niềm xác tín của Cha GP: Hạt giống, khi đã gieo, sớm muộn gì cũng sẽ nẩy mầm!
****

Trong một lần Tĩnh Tâm do Cha TU phụ trách giảng phòng, Cha có nhắn gửi ACE, nếu đã gạt hết được mọi vướng bận thường nhật để đến với Chúa và ACE thì khi ra về cũng chớ mang theo những vướng bận đó, mà hãy bỏ chúng lại trong vòng rào khuôn viên tu viện Dòng Tên Villa Saint-Martin, cho tâm hồn được thanh thản như lúc Tĩnh Tâm.
Lần nầy, trong Thánh Lễ bế mạc Cha kể ẩn dụ về một người tín hữu có một láng giềng vô thần. Ông muốn ‘cải huấn’ người nầy, để anh trở thành tín hữu. Ông kín đáo gửi tặng anh một quyển Thánh Kinh và để ý theo dõi phản ứng của anh. Sau một thời gian, tình cờ ông khám phá quyển Thánh Kinh kia bị vứt vào thùng rác! Bèn tới cật vấn anh hàng xóm xem anh đã đọc quyển Thánh Kinh chưa. Anh nầy bình tĩnh trả lời đã đọc hết từ đầu chí cuối. Ông vặn hỏi tại sao anh ta vứt quyển Thánh Kinh. Chẳng lẽ không có gì tác động trên anh sao. Anh trả lời đã đọc hết Thánh Kinh qua cách sống của ông chẳng chút gì đáng cho anh noi theo, nên anh chẳng thấy có gì cần biết về quyển Thánh Kinh mà ông gửi tặng anh nữa! Không hiểu ACE chúng ta có thấy nên cần xét lại cách sống Phúc Âm sao cho có thể thực sự loan truyền nhân đức chung quanh mình như Cha TU ao ước và nguyện cầu chăng? Ý niệm ‘tâm tình nô lệ’ do Cha Nguyễn Tầm Thường gợi ra lại lởn vởn trong đầu tôi…
Những lần Tĩnh Tâm trước đây, trước khi ghi danh tham dự, tôi thường tâm sự với nhóm thân hữu hình như tâm thần tôi chao đảo, có thể đưa tới cái gọi là khủng hoảng Niềm Tin. Mỗi lần tâm tư khủng hoảng như thế, Mùa Tĩnh Tâm tạo cho tôi cơ hội tìm lại được Niềm Vui trong không khí gia đình PSTT, với biết bao bàn tay ân cần, trìu mến nắm tay tôi truyền hơi ấm của Tình Huynh Đệ Yêu Thương Nhau. Những lần như vậy, tôi như được hồi lực, hồi sinh, vui sống vì tìm lại được sự An Bình. Nhưng lần Tĩnh Tâm nầy, tuy lòng rộn rã Vui Mừng, hầu như tôi không đem về được sự Bình An cho tâm hồn lắng động… Tôi linh cảm có cái gì đó ‘trục trặc’ giữa anh em thuộc nhóm thân hữu thân cận, lâu nay vẫn hết lòng trao đổi, chia sẻ mọi vui buồn, thăng trầm trong việc tập sống đạo… Hy vọng rằng tôi linh cảm không đúng, có lẽ do tôi quá mệt mỏi chăng. Biết đâu châm ngôn ‘thương nhau lắm, cắn nhau đau’ giờ đây lại chẳng ứng nghiệm trong nhóm anh em thân thương chúng tôi ? Tôi đang cố gắng thuyết phục mình như vậy!..
*****
C
ó lẽ đã đến lúc tôi nêu ra vài nhận định về những gì tôi ‘thu hoạch’ được để suy gẫm thêm sau lần Tĩnh Tâm cuối hè nầy, mong ACE cùng chia sẻ:

1- Chắc hẳn, cũng như tôi, ACE đã nhận ra sự khác biệt trong cách giảng cũng như cách đến với chúng ta của hai Cha GP và TU. Có ý kiến cho rằng Cha NNT rất ‘khó gần, khó thân’ hơn so với Cha ĐVT. Đương nhiên! Vì Cha TU đã sinh hoạt 24 năm với Dòng, còn Cha GP chỉ mới lần đầu giao tiếp với chúng ta, chưa đủ thời gian tiếp cận, tìm hiểu nhau. Ngoài ra, cá tính và nhân cách (tâm lý) của hai Cha nói riêng, của mỗi người trong chúng ta nói chung, đều khác nhau: Chúa dựng nên con người hàng tỉ tỉ tỉ tỉ…lần, nhưng mỗi tạo vật đều là một ấn bản độc nhất (unique) -như các dấu tay chúng ta- chẳng bao giờ trùng hợp. Do đó nếu đường lối Chúa đến với chúng ta ‘khôn dò khôn thấu’ thì đường lối của hai Cha -nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần- đem Lời Chúa đến với chúng ta chẳng thể nào y hệt nhau!
Tôi nghĩ rằng Cha GP đến với chúng ta lần nầy rất bổ ích về hai phương diện:
-Chúng ta được lay động cho tỉnh thức, cho ‘động não’ để khỏi ‘ngủ gục’ trên thói quen lười biếng ‘trả thuộc lòng’ những gì đã thu nhập và tích lũy từ các lớp dạy giáo lý. Cha GP rất thuần lý (rationnel).
-Chúng ta nhận rõ hơn giá trị tình cảm của Cha mình, một linh mục quá ‘dễ mến’: Cha TU Aimé của chúng ta rất mực yêu thương, gần gũi, nâng đỡ tinh thần các con chiên của mình, lúc nào cũng sẵn sàng san sẻ mọi nỗi vui buồn, sướng khổ với ACE chúng ta.Tình sao là tình!

2- Đã nhắc tới công đức của hai Cha thì không thể bỏ qua công sức của Ban Phục Vụ. Được sự đồng ý của tác giả, tôi xin phổ biến nội dung điện thư gửi cho Ban Báo Chí mà tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm và tin rằng ACE cũng đồng ý:
“Dù việc gì xảy ra trong lòng tôi, trong lòng các bạn, ba ngày tĩnh tâm cũng đã kết thúc rất tốt đẹp. Một điều mà chúng ta không thể phủ nhận là công lao của Ban Tổ Chức. Họ quá tuyệt vời trong bổn phận. Chu đáo từng chi tiết, đi sát với chương trình. Những gì các bạn đã làm cho chúng tôi, chúng tôi đã xin với Cha Trên Trời trả lại cho các bạn. Xin các bạn đừng khó chịu với những ý kiến, những bàn tán xôn xao. Vì ý kiến như những món ăn, mỗi người mỗi ý thích, chúng ta cũng không thể nói mọi người đều thích cái chúng ta thích. Các bạn nên hãnh diện và vui vẻ vì các bạn đã làm hết mình trong tình yêu anh em. Chúng tôi rất may mắn đã có một Ban Phục Vụ rất đẹp như các bạn” TX.

3- Gần đây, nhiều phong trào từ trong nước bung ra ngoài rầm rộ kêu gọi quyên góp tu bổ hoặc xây cất thêm nhà thờ cho quê hương, trong khi ở hải ngoại nhiều thánh đường đã phải ngưng hoạt động hoặc phát mãi vì thiếu tiền bảo trì. Bỏ qua chuyện lạm dụng hay khía cạnh chính trị của vấn đề, tôi nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta tự vấn: “Từ trên trời cao nhìn xuống, Chúa có băn khoăn vì biết bao tâm hồn đang lo âu chỉ vì đền thờ, hay Chúa vui vì vẫn thấy lấp lánh những vì sao trên những thánh đường đổ vỡ” (Nguyễn Tầm Thường, Viết trong tâm hồn)…
Nào phải đâu Giáo Hội chỉ tồn tại được ngày nào còn những kiến trúc nguy nga, đồ sộ, lộng lẫy khắp nơi!

4- Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài và ban cho chúng ta tự do nhận hay không nhận Ân Xá của Ngài với giá máu cứu chuộc nhân loại của Con Người. trên Thập Giá. Vì là hình ảnh của Chúa nên Người muốn chúng ta nên thánh để giống Người qua con đường tu đức. Chúng ta hoàn toàn tự do đi hay không đi theo con đường đó…Nhưng chúng ta “phải đi một mình”(a).
Con đường tu đức nầy, tuy ta có Tự Do đi hay không đi, nhưng khi đã quyết định đi thì ta chỉ đến được bến bờ Hạnh Phúc nếu được Ơn Cứu Độ của Chúa. Bởi đây là con đường “không thể một mình đi” (b). “Có những con người”(c) khác biệt thì cũng “Có những con đường” (d) khác nhau cho Chúa đến với chúng ta…(a+b+c+d: Nguyễn Tầm Thường, Đường đi một mình).
Vâng, Chúa ngự trên trời cao, luôn thương xót ban Hồng Ân Xá Tội cho con cái Người. Nhưng chúng ta phải cầu xin và lãnh nhận, bởi vì “hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho” (Lc 11,9) !

Thôn trang Rêu-Phong, cuối hạ 2009
-Lê Tấn Lộc-


























Friday, July 24, 2009

VỀ NHỮNG NGƯỜI BẠN...





Tản mạnVề những người bạn…Mấy tháng liền, bỗng dưng tôi trở chứng rơi về lại tâm trạng “bời rời”, chán chường đã khiến tôi gần như liệt tay không cầm nổi bút, cách đây 17 năm, lúc tôi còn viết bài bằng bút lông, cho đỡ chai mấy ngón tay. Lúc bấy giờ chẳng rõ vì sao, nhưng kết quả là tôi ngưng viết cũng đến hơn 10 năm…Phải chăng nhờ sắm máy điện toán -cách đây vài năm thôi, quá muộn màng- mà tôi viết trở lại được chăng? Có phần đúng. Nhưng tôi nghĩ đa phần là do tôi chứng kiến những điều quá “xốn mắt” ở quê nhà qua lần duy nhất quay về quê cha đất tổ 6 năm trước đây, sau 28 năm biệt xứ…
Rồi bỗng nhiên tôi lại mất cảm hứng, mất hăng say nữa! Tuổi tác? Sức khỏe? Hay còn nguyên do gì khác? Khủng hoảng niềm tin về mọi thứ, kể cả niềm tin vào chính mình…chăng?
Rồi đột nhiên hôm nay tôi lại ngồi vào máy bắt đầu gõ, gõ chưa có chủ đề nhưng cảm thấy có nhu cầu gõ! Một vài “biến cố” dồn dập đánh động tâm khảm tôi, kéo tôi ra khỏi trạng thái ù lì, dật-dờ-mê-muội (léthargique) nhất thời …
*
-Anh Lộc hả? Biết ai gọi anh không?
-Nghe giọng quen quen, nhưng sao hơi đớt đớt vậy?
-Quâng đây. Nguyễn Viết Quâng-Collège de Vĩnh Long…
-Hồ Trường An! Trời ơi! Sao bặt tăm hơn chục năm vậy? Lặn kỹ dữ!
-Anh ơi! Tôi bị tai biến mạch não…
-Trời đất! Hồi nào? Sao chẳng ai cho tôi hay hết vậy?
-Cách đây chừng sáu tháng. Tôi từ San Jose về nhà, đột nhiên ngã quị. May mà trở tay kịp, đưa vào bệnh viện cấp cứu. Nếu không…
-Bây giờ tình trạng bạn sao rồi?
-Tôi còn ngồi xe lăn nhưng có thể chống gậy đi chút đỉnh. Sắp tới tôi sẽ trở lại Trung Tâm Tái Thích Ứng (Centre de Réadaptation) luyện tập thêm đi đứng và “học lại” cách sử dụng máy điện toán, tạo cơ hội cho trí óc làm việc để trí nhớ được vãn hồi lần lần. Nhân tiện “tập lại” cách phát âm cho đỡ đớt đát…
-Bạn sẽ tiếp tục sáng tác?
-Phải. Anh biết không, tai nạn xảy ra khiến tôi quên tuốt luốt một số lớn sáng tác dở dang và bây giờ không cách chi tôi khôi phục chúng được nữa. Dù tình trạng sức khỏe chưa mấy khả quan, tôi cảm thấy cầm viết trở lại vẫn còn là nhu cầu cấp thiết đối với tôi…

HTA tiếp tục kể những gian truân, khốn đốn trong thời gian nằm điều trị. Bernard, “chồng” của bạn tôi bỏ phế mọi công việc ở thư viện, ngày đêm túc trực bên “vợ”, lo lắng đến độ bị stress, gây rối loạn đường tiêu hóa, phải nằm bệnh viện mấy tháng trời. Cả hai “vợ chồng” nằm liệt giường cùng lúc! Nghe bạn tâm sự, tôi động tâm đến thốn tim. Và mọi định kiến tiêu cực của tôi lâu nay về những người đồng tính luyến ái bỗng nhiên tan biến hết. Chưa chắc những cặp vợ chồng “hétéro” thường được coi như “bình thường” đối xử với nhau trọn tình trọn nghĩa hơn đôi bạn “homo” Bernard-An, thường bị dán nhãn “bất thường” nầy…

HTA là bạn cùng lớp với em tôi, Lê Tấn Kiệt (Kiệt Tấn). Cả hai đều định cư tại Pháp, KT ở Bagnolet, ngoại ô Paris, HTA, Troyes. Tuy là bạn thân từ thuở còn học trung học, những lúc sau nầy hai đứa ít khi liên lạc với nhau, nếu không muốn nói là mất hẳn mọi giao tiếp.
Tôi trên chúng hai lớp. HTA đương nhiên coi tôi như người anh. Và lúc còn chung trường HTA rất quí mến tôi. Sau nầy cũng thế. Nhắc về thuở ấy, có lần HTA viết:
“Anh lại có số đào hoa . Hồi học ở Cao Tiểu Vĩnh Long, biết bao nữ sinh lắm phen thổn thức con tim và say mê anh.(…) Anh (…) hát giọng chánh bằng một giọng trầm ấm và vang lộng.(…) Tôi mê giọng hát của anh Lê Tấn Lộc có một, nhưng tôi mê cái kiến thức triết học của anh tới mười. Tôi nghĩ anh có một tâm hồn nghệ sĩ, một đầu óc phóng khoáng, một kẻ chống lề lối cứng ngắc, chống những giáo điều khắc nghiệt khô khan, một anticonformiste(…)
Vào năm 1958, tôi có viết cuốn tiểu thuyết đầu tay mô tả một anh chàng đồng tính luyến ái mới vào tuổi hoa niên. Tôi có nhờ anh Lộc góp ý kiến, nhứt là ở chót đưa anh chàng sống lại cuộc đời bình thường như bao nhiêu đàn ông dị tính luyến ái khác. Anh Lộc sẵn sàng nhuận sắc dùm tôi trên mười chương, nhưng ở chương chót, ảnh lắc đầu (…)Tuy nói vậy, nhưng anh Lộc vẫn giúp tôi sửa chương chót. Quyển sách hoàn thành.
(…) Về sau, tôi được biết, khi còn ở trại cải tạo, anh Lê Tấn Lộc sáng tác nhạc.(…) Anh viết bút ký, phóng sự rất hay, óc quan sát tinh nhuệ. Anh còn viết truyện ngắn, giọng văn dí dỏm, ngay cả những cảnh khổ mà văn anh như những tia nắng reo cười”.

Nghĩ cũng lạ, HTA và tôi cũng khá nặng tình nghĩa. Vậy mà lại ít khi gặp được nhau, ngoại trừ lúc còn chung trường ở Vĩnh Long và lúc bạn tôi qua Mỹ Tho tiếp tục học trình ở trường Nguyễn Đình Chiểu, cùng trọ một nơi với KT. Lúc bấy giờ tôi đã lên trường Jean-Jacques Rousseau (Sàigòn) nhưng vẫn lái Vespa xuống thăm hai đứa.
Mãi 14 năm sau, tôi mới gặp lại HTA tại Bình Dương. Lúc bấy giờ HTA là Chuẩn úy Nguyễn Viết Quâng và tôi đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường Trung học Trịnh Hoài Đức. Chỉ gặp một lần duy nhứt trong một phiên họp tại Tiểu khu Bình Dương, năm 1970. Rồi bặt tăm nhau luôn…
Cho tới năm 1989, qua Paris tôi lại lỡ mất cơ hội họp mặt với HTA vì đêm ấy KT và tôi “quá chén lạc hoan” ngã ngựa dọc đường, không đến được điểm hẹn! Rồi 9 năm sau, HTA lại lỗi hẹn sang Canada ra mắt sách, trong khi các bạn đồng môn và tôi chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ rất chu đáo. Lý do: HTA bị bọn bất lương xô té bị thương, cướp giựt xách tay, giấy tờ tùy thân, gồm passeport, vé máy bay; dĩ nhiên tiền bạc cũng mất trọn!
Sau đó, biết bao lần sang Paris mà không lần nào tôi có dịp giáp mặt bạn tôi. Để rồi…giờ đây được bạn tôi báo tin suýt vong mạng vì đứt gân máu! Tôi cũng đành tự an ủi là HTA vẫn may mắn chưa dứt nợ trần. Hy vọng hai đứa còn có cơ hội tay bắt mặt mừng nhau trước khi vĩnh viễn xuôi tay! Nhưng xem ra cũng rất vất vả. Chẳng những HTA đi đứng khó khăn mà khả năng đi đây đi đó của tôi giờ đây cũng rất hạn chế bởi đã bức khá xa tuổi “thất thập cổ lai hi”. Tôi nghĩ rằng bạn văn cũng như thân hữu khắp nơi, không ai có thể phủ nhận nhiệt tâm đóng góp công sức cho nền văn học hải ngoại, cũng như sự tận tình khuyến khích các “mầm non văn nghệ” hăng say viết lách của HTA.
Ước mong bạn tôi sớm bình phục, tiếp nối sự nghiệp văn chương của mình vốn đã rất phong phú và thành đạt từ lâu. Một người bạn lâu rồi không gặp, tái xuất hiện không báo trước, suýt chút đã hóa ra người thiên cổ!..
**-Quâng có biết Huỳnh Quang Nhựt mất rồi chưa?
-Trời Phật! Mất hồi nào vậy anh? Mà tại sao chết?
-Cũng chút năm rồi. Bệnh suy đường hô hấp (emphysème pulmonaire). Lâu nay Nhựt thường trăn trối với KT và tôi rằng tuy luôn cười giỡn với anh em, Nhựt vẫn có thể ra đi bất cứ lúc nào. Đi đâu Nhựt cũng mang theo một lô thuốc men và ôm kè kè bình dưỡng khí! Tôi gặp Nhựt lần cuối tại San Jose, năm 2005. Tội nghiệp, tuy tình cảnh khó khăn vậy mà Nhựt cũng ráng lái xe, có vợ theo kèm -dĩ nhiên!- từ Sacramento xuống gặp Nguyễn Đồng Danh -Danh “trại gà”- và tôi. Quâng biết đó, tụi nầy năm đứa Thứ-Danh-Lộc-Nhựt-Kiệt xưa kia hỗn danh “ngũ hổ” đại náo vũ trường và …tình trường! Bây giờ một con đã lìa bầy, mấy con còn lại cũng đã ít nhiều sứt càng gẫy gọng: Cánh tay Thứ xưa kia từng vung gươm thiêng, “giương cung bắn ra bốn phương trời để nói lên ý chí tang bồng hồ thỉ” -như bạn đã viết- tại vũ đình Trường Võ Bị Quốc Gia, nay đã gần như tê cứng vì thấp khớp, hậu quả của mười mấy năm ngồi tù CS. Nhưng tinh thần và lập trường quốc gia của Thứ luôn vững chắc, minh bạch, càng lúc càng bền vững, càng lúc càng rõ rệt, dứt khoát với CS. Danh, thoát chết trong gang tấc sau một cơn đau tim đột biến, giờ cũng ngất ngư con tàu đi nhưng chẳng bao giờ thèm chơi trò tâng bốc, xu nịnh các quan kách mệnh an nam ta “kiếm chút cháo”, rất thịnh hành trong đám việt kiều kéo nhau về VN “vô tư” ăn chơi phè phỡn. Kiệt thì Quâng đã quá rõ, vào ra bệnh viện tâm lý đều chi. Tôi thì, như Quâng biết, tưởng đã đi chuyến tàu suốt sau cơn giải phẫu tim cách đây hơn 14 năm…

Nói tới HTA, KT mà không nhắc Huỳnh Quang Nhựt là một thiếu sót đáng kể. Bởi lẽ bộ ba nầy thuở còn mài đủng quần trên băng ghế học đường đã nổi máu…văn nghệ! Hãy nghe HTA kể về người bạn vừa nằm xuống:
Hồi học ở Cao Tiểu Vĩnh Long, nó học trên tôi một lớp. Khi học Triết ở Sàigòn (và sau đó ở Yersin-Đà Lạt), nó làm thơ rất nhiều, tròm trèm 200 bài. Nó lấy bút hiệu là Nguyễn Triết Vũ. Triết là môn Triết nó đeo đuổi. Vũ là cô vũ nữ. Thuở đó, Nhựt say mê một cô vũ nữ nên thơ nó có hồn lắm. Càng lớn nó càng đẹp trai giống giống Tony Curtis. Thơ của nó được tôi và Kiệt Tấn đọc hoài hoài. Sau đó Nhựt học Dược Khoa với tôi. Nó được tốt nghiệp, lao vào ngành doanh thương, giàu sụ. Tôi học tới năm thứ hai thì trượt vỏ chuối, phải đi lính với số lương tiền lính tính liền
”.
Thố tử hồ bi, nói chi tới một trong năm con hổ quị ngã! Có điều Nhựt vĩnh viễn ra đi mà mãi nửa năm sau tình cờ chúng tôi mới được biết. Khi sống trên đất tạm dung, “cá thòi lòi” -hỗn danh của Nhựt, vì Nhựt bị bướu cổ, mắt lồi- thường mai danh ẩn tích. Có lẽ vì thế tang quyến mặc nhiên muốn bạn bè thân thương coi như bạn tôi “âm thầm qua đời, tội ác còn vương mang” chăng?

Khung trời thơ mộng xứ anh đào Đà Lạt đầy ắp kỷ niệm khó quên giữa Nhựt, Kiệt, Thứ, Trinh, HNBiên, Lưu, tôi…với Tú-nữ-bá-tước-chân-trần, nửa thế kỷ về trước, giờ đây mãi mãi vắng bóng hai cánh chim thân thương: Trinh, năm 1961, tức tửi gẫy cánh trong một phi vụ vào độ sức sống đang lên; Nhựt, năm 2008, ấm ức lìa đời vì thiếu dưỡng khí cần thiết cho hơi thở trợ lực chuyển máu luân lưu trong cơ thể, hụt hẫng, chao đảo rơi rụng xuống vực sâu đỉnh Lâm Biên…
***
Đ
ã nhắc tới Đà Lạt không thể không nghĩ tới hai khuôn mặt rất “văn(học)nghệ (thuật) của Viện Đại Học Đà Lạt thời xa xưa, cho tới nay vẫn còn đậm nét trong ký ức ngày càng hao gầy của tôi, “chàng” thư sinh năm nào còn ngơ ngơ ngáo ngáo rời Sàigòn lên chốn muôn thuở mù sương, với đồi non thung lủng chập chùng vây quanh thành phố, với rừng thông rì rào, với suối reo róc rách, với thác đổ cuồng nộ không ngưng nghỉ: Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Xuân Hoàng!

Hai mươi chín năm trước, ra trại tù “cải tạo”, tôi gặp lại Biên và Hoàng tại toà soạn báo Tin Sáng, nơi trú-ẩn-giả-dạng-qua-ải của một số lớn đồng-nghiệp-mất(nghề)-dạy(học) của tôi, để tránh bị tống đi “kinh tế mới”. Hai đứa bạn xưa ráo riết “ vận động” cho một tay có “lý lịch xấu” như tôi được chen chân vào tổ “thầy cò” (sửa lỗi bản vỗ). Tại đây, tôi giáp mặt chủ bút Hồ Ngọc Nhuận: Năm 1961, Nhuận cùng trung đội sinh viên khóa 14 SQTB Thủ Đức với tôi. Thuở ấy, hai chúng tôi cùng chung một giường hai tầng, thường tâm sự; chẳng có dấu hiệu nào cho tôi thấy HNN “thân cộng”. Trước đây tôi vẫn nghĩ Nhuận công giáo vì ở trong Phong trào Thanh-Sinh-Công (JEC). Cho nên khi Nhuận cải chính và xác nhận với tôi anh là đảng viên cộng sản từ lâu, chứ không phải mới sau nầy, tôi…sững sờ giây lâu! Rõ ràng các bạn tôi và tôi quá “ngây ngô” về việc cài người của Việt Cộng!
Cũng tại đây tôi chạm mặt khá nhiều đồng nghiệp cũ, nhưng họ “bơ đi”, làm như không hề quen biết. Kể cà nhà-văn-nhớn từng dõng dạc tuyên ngôn: viết là… “thách-thức-thần-linh”, là …“đâm-nổ-mặt-trời” HPA! Cũng dễ hiểu thôi. Sợ vạ lây “liên hệ” với phần tử “phản động”!
Duy có Biên và Hoàng là ngang nhiên tiếp xúc và “giúp đỡ” tôi khi bị “lãnh đạo” gọi lên “làm việc”…Cho đến lúc tôi vượt trùng dương tìm đất sống, liên lạc với hai bạn tôi bị gián đoạn một thời gian dài…

Hai lần gặp lại NXHoàng tại Montréal, một lần ở Westminster, trước năm 2000, nhưng không lần nào tôi có dịp gặp riêng Hoàng. Bạn tôi luôn bận rộn và bị vây khổn! Tôi nghĩ Hoàng cũng tiếc tiếc như tôi, vì thuở còn là “đồng nghiệp-đồng-nghề-đồng-ngành”, cùng với Tạ Ký, Tôn Thất Trung Nghĩa (về sau có Kiệt Tấn gia nhập), chúng tôi rất thân thiết. Có lúc tôi nghĩ biết đâu vì tôi không thuộc loại “đồng-nghiệp-làng-văn-chuyên-nghiệp” mà Hoàng không tiện giao du với tôi như xưa chăng? Có thể tôi nghĩ sai nên chưa vội kết luận nhân tình thế thái là…chuyện dài nhân dân tự vệ!
Cho đến lúc, nhân một bài viết về vài kỷ niệm vui buồn liên quan đến tiểu thuyết mới, do HNBiên -vừa từ VN sang định cư ở tiểu bang Utah- đánh máy giúp rồi chuyển cho NXH đăng trên Văn, tôi mới có dịp liên lạc trở lại với Hoàng. Lần đó Hoàng nói úp úp mở mở với tôi rằng HNBiên đau nặng mà không muốn cho bạn bè biết. Tôi điện thoại viễn liên cho Biên nhưng Biên cũng không muốn cho tôi biết bịnh trạng. Cũng lạ! Ngày xưa cùng trọ ở đường Phan Đình Phùng Đà Lạt, hai đứa thân thích như ruột thịt và chẳng có điều gì giấu nhau. Hay bạn tôi cũng ở trong tình trạng “không tiện giao du” với tôi, như NXH? Có thể tôi lại nghĩ sai nữa...

Rốt cuộc rồi tôi cũng biết được cả hai đứa bạn cùng lò Đại Học Sư Phạm đều có vấn đề sức khỏe khá trầm trọng, nhân dịp tôi sang San Jose năm 2005 thăm Danh “trại gà”, cũng vừa thoát hiểm sau cơn heart attack! Lần đó tôi không gặp Hoàng, đang lu bu “tẩn liệm” tờ Mercury News. Tình cờ, hết sức tình cờ, tôi gặp Biên nhờ bạn Nguyễn Đồng -cũng lò ĐHSP- cho số phone. Biên rời Utah mà tôi chẳng hề hay biết. Cả Hoàng cũng không rõ…

Biên lái V.U.S. đến đón tôi tới nhà riêng, dọc đường ghé hiệu bán bánh mì Pháp mua croissant au beurre, confiture, bánh mì baguette v.v…của Tây chính cống. Bạn tôi vẫn không thay đổi goût ưa điểm tâm “à la française” như thuở hay ghé La Pagode, đường Tự Do. Cũng có thể Biên nghĩ thằng bạn “parigo” xa xưa của mình muốn nhớ lại thời hai đứa chia tay ở Đà Lạt, tôi đi “Tây” bỏ Biên ở lại một mình trên gác trọ Phan Đình Phùng đầp ắp kỷ niệm buồn vui đều có nhau, cùng chia sẻ...Hoài niệm về “la comtesse-aux- pieds-nus” chỉ một đêm duy nhất ghé qua gác trọ cùng tôi nghe nhạc thính phòng, trong lúc Biên đi xem nữ danh cầm Supitra trình tấu piano, vẫn còn sống động trong tâm tư hai thằng giờ đây đã hom hem, lụ khụ nhưng chưa đến độ nghễnh ngãng!
Khó khăn lắm tôi mới nhìn ra HNB dưới lớp áo “cư sĩ” đạo Phật, râu chòm lất phất trông rất…“thiền sư”! Bạn tôi vẫn giữ nguyên vẹn sở thích ăn mặc khác thường thiên hạ…Thiếu chút tôi đã khoanh tay cúi đầu … “Bạch Thầy”!
Cách trang hoàng, bày biện nội thất của Biên gợi nhớ cách trang trí căn gác Phan Đình Phùng-Đà Lạt, 1959. Rất điệu nghệ, tinh túy! Cái mới lạ với tôi là giàn computers quá chuyên nghiệp trong phòng làm việc. Tôi nghĩ, trừ giờ ăn uống, tắm giặt, nghỉ ngơi, Biên ít khi rời giàn máy, tay luôn di động trên bàn phiếm. Dám ăn ngủ tại chỗ lắm! Biên chủ trương nhà xuất bản Trình Bày từ thuở còn ở VN và Web Tiền Vệ hiện nay, nên hầu như không lúc nào rỗi rảnh.
Vài năm trước Biên bị tai biến mạch não, rất may chỉ một phía trên mặt bị tê cứng, nhưng mặt mũi không bị “xiêu vẹo”! Lúc bấy giờ Biên phụ trách một tờ báo cho Đại học ở Utah. Sau “tai nạn”, Biên buồn tình dời nhà qua San Jose.
Câu chuyện trao đổi giữa hai thằng vẫn đậm tình như xưa. Nhưng hai đứa cố gắng né tránh các vấn đề liên quan tới chính trị và văn học. Cho khỏi sanh giặc! Về điểm nầy, tôi cũng e ngại như đã e ngại với NXH (và sau nầy với cả KT, em tôi): Tôi tự cảm thấy mình không thuộc giới cầm bút chuyên nghiệp, không muốn các bạn mình “lúng túng” trong giao tiếp với thế giới làng văn …vì mình!
Thế mà cũng không tránh khỏi buồn lòng nhau. Một vài lần chuyển tiếp bài vở của thân hữu cho Biên “coi chơi” (những bài vạch trần những chuyện quá lố ở quê nhà và trong hàng ngũ Việt kiều “bưng bô” cho cán bộ CS), bạn tôi “lưu ý” tôi nên ngưng gửi. Từ đó, chẳng những tôi ngưng gửi mà ngưng liên lạc luôn, tránh cho bạn tôi khó xử trí! Nhưng cho dù ai có nói xa gần gì về HNB thì…tôi khẳng định bạn tôi không thể nào là…cộng sản. Cho dù trước đây Biên thường hay đeo ảnh Che Guevara trước ngực, tôi vẫn cứ xem đó cũng chỉ là một hình thức lập dị, thách thức, chọc đời cho vui vậy thôi! Ngay từ lúc còn là sinh viên ĐHSP, Biên đã để lộ phong cách “khác thường” như thế rồi!

Với NXH cũng thế. Ngoài lãnh vực văn chương, Hoàng còn là một giáo sư triết có tầm vóc. Chắc chắn không thể là loại giáo sư “chết” lý như các “đấng”chuyên-viên-mị-dân Lý Chánh Trung và “ngài” cực kỳ đểu cáng Nguyễn Trọng Văn. Và cũng chẳng xỏ lá ba que như đám đồ tể Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân luôn trịch thượng chối leo lẻo đã tàn sát đồng bào hôm Tết Mậu Thân! Cho dù ít nhiều có liên hệ với gia đình “kách mạng”, tôi tin NXH không thể là loại lợi dụng thời cơ, theo đóm ăn tàn, trở mặt hại bạn để vinh thân phì gia…Hoàng cũng chẳng thể là “đặc công nằm vùng” như một số người ác ý chụp mũ.
Mấy lúc sau nầy, tôi vô cùng xót xa đọc điện thư của NXH: Toàn những lời trối trăn, chán chường. Tôi gạn hỏi nguyên do, Hoàng chỉ võn vẹn cho biết “NXH chỉ còn chờ ra đi thôi!”. Cho tới nay, tôi chỉ được KT cho biết lờ mờ là Hoàng mổ mắt gặp problème về thị giác…Chẳng lẽ NXH bô trai, cường tráng (viril) trước đây -như Casanova tái sinh- giờ đã trở thành Lục Vân Tiên hay Moshe Dayan? Tai hại bạc triệu!..
Mới đây, đọc những giòng chữ nầy, tôi càng chua xót, nhưng cùng lúc, rất nghịch lý, tôi cảm thấy vui vui vì nghĩ là bạn tôi chưa thể lìa đời…
Nhưng người làm tôi‘shock’ khi gặp lại là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng của tạp chí Văn ở San Jose. Anh vẫn duyên dáng nhưng tôi không nhận ra anh vì mái tóc anh bạc trắng, trắng như tuyết. Khi nhà văn Mai Thảo còn sinh thời, ông vẫn gọi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng là Don Juan của Việt Nam. Don Juan nay đầu tóc bạc phơ, rất siêu thoát. Anh cho biết bị ngã ở Pháp, gẫy bốn cái ba sườn vì đêm trước nhậu múc mùa lệ thủy với nhà văn Kiệt Tấn, hôm sau đang đứng trong tiệm sách thì ngã cái rầm”. (Hoàng Dược Thảo, Tân Văn, số 23, tháng 6/2009).

“Cảm xúc còn, đam mê còn là sức sống còn vươn lên”, tôi đã viết như vậy trong một lần toan tính…tự tử trong trại tù cải tạo. Với NXH, tôi muốn nhắn gửi: Còn uống được rượu, còn thích thú uống, uống còn thấy “đã”, cho dù có ngã ngựa gẫy vài cái ba sườn (chuyện nhỏ!) cũng vẫn còn có thể ngồi dậy, đứng lên cười khanh khách: Anh chưa chết đâu em!
****
Cũng trong chuyến thăm thú bạn bè nầy, tôi dọ hỏi khắp nơi để tìm gặp Nguyễn Đình Toàn mà tôi rất nôn nóng muốn choàng ôm sau 30 năm mất dấu. Vì tôi nghe rất nhiều chuyện về bạn tôi nhiều lần vào tù ra khám CS cùng với Duy Trác, bạn đồng tù, đồng nhà giam với tôi tại trại cải tạo Hàm Tân Z30D …
Ngày 2 tháng 5/1975, Toàn và nhà văn “đâm nổ mặt trời” ghé “vấn an” tôi, sau khi bị “kách mệnh” trục xuất khỏi nhà mình trong Làng Báo Chí, do VNCH cấp. Lúc bấy giờ tôi cười mỉa, “chêm” hai nhà văn nhớn:
-Mới đây, khi Sàigòn chưa lọt vào tay VC, hai bạn theo đoàn biểu tình do Hồ Ngọc Nhuận xách động xuống đường làm ký giả xách bị chống gậy đi ăn mày. Bây giờ thì, nhờ kách mệnh “rải fóng” hai bạn mới thực sự “tròn mộng ước”, dắt díu nhau chống gậy xách bị ngửa tay kêu xin ông đi qua bà đi lại…Thế nhưng, vượt thoát địa ngục sang được miền đất tự do, tuy đau lòng nghe tin Toàn bị CS bắt đi bắt lại, hành hạ, khủng bố chí cốt, lòng tôi nhẹ nhỏm nhận thấy bạn tôi sớm thức tỉnh trong khi anh bạn kiên-trì-thách-thức-thần-linh kia thì…chưa thấy có dấu hiệu nào rõ nét cho tôi được an lòng đôi chút “người” đã thấm đòn “ma giáo” mập mờ đánh lận con đen của nhóm tự nhận là thành phần thứ ba -danh từ bình dân gọi là thành phần “chàng hảng”, cho tới nay vẫn chưa chịu nhận ra mình chỉ…“ăn ké” theo MTGPMN cầm c… chó đái cho CSBVthôi!

Gặp nhau nơi quán cà phê trong khu Sàigòn Nhỏ, tôi nhận thấy, không như Hoàng và Biên, dáng dấp bên ngoài của Toàn và người phối ngẫu không thay đổi nhiều. Tôi hơi bỡ ngỡ cảm thấy sự vồn vã của tôi hình như khiến bạn tôi không được thoải mái lắm. Và tự thấy mình vô duyên.
Có lẽ -tôi lại suy diễn- bạn tôi “không tiện” giao du với người bạn cũ không có sau lưng “quá trình tranh đấu” hay “sự nghiệp văn chương” như mình chăng? Một lần nữa, tôi lại nghĩ rằng biết đâu tôi chẳng nghĩ sai…
*****
B
ạn bè cũ ở Sàigòn ngày xưa nay chẳng còn bao nhiêu, trên xứ người cũng như nơi quê nhà. Tôi tự nhủ phải cố gắng nén cơn buồn lòng để gìn giữ tối đa tình bạn. Nhưng…sức người có hạn, tôi chưa phải là thánh, bụi hồng trần vẫn còn vương mang. Mấy lần định sang Saint-Paul (Minnesota) thăm vợ chồng anh bạn nhạc sĩ thời danh họ C. -bạn thân với cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền- vốn có mối thâm giao từ lâu với KT và tôi, trước 1975. Nhưng tôi chùn chân vì… nghe đâu bạn tôi có lần muốn hạ cờ vàng ba sọc đỏ, thượng cờ đỏ sao vàng để rước phường hát-chèo-hát-chống-hát-cổ-hát-họng gì gì đó từ Hà Nội sang, bị các hội đoàn kịch liệt phản đối! Giao dịch với nhà thơ nhớn chuyên viên sì-lát/sì-lát/sì lát, chặt câu thơ ra từng khúc/từng khúc/từng khúc, cũng được đi, dù trước đây bạn tôi coi tay nầy không ra gì, không đáng kể (quantités négligeables). Đằng nầy…
Ngoài ra, nghe đâu anh bạn nhạc sĩ của tôi còn hết lời ca tụng “bại” tướng “chạy” râu mép Nguyễn-Cao-Kỳ-Nhông và sẵn sàng suy tôn “người” làm lãnh tụ anh minh! (Cụ “chơi” thế nầy thì nhà cháu còn mong chi hoài cảm được chút hương xưa của thu vàng!). Đó là chưa kể chàng nhạc sĩ nhà ta nổi tiếng cực kỳ khó tính. Không khéo tôi dám mang đầu máu ra về lắm! Tội vạ gì! Đành chịu thua, bỏ số de thôi!
Chợt nhớ lời một bạn hiền: Chớ buồn phiền thiên hạ thay đổi. Mình cũng đổi thay mà. Tất cả đều Vô Thường! Thôi thì…
Cũng đành thôi cũng đã đành!
Nghĩ cho cùng, còn gặp lại được bạn cũ đã là quá may mắn và…ít nhiều cũng đã mát dạ lắm rồi. Vẫn hơn phải chạm mặt hằng ngày, ngoài ý muốn, với đám điếu đóm cán bộ Cổng(tư)Sản của thiên hạ! Thế nhưng, thật bất ngờ, một vài mối sơ giao (hay thâm giao mà tôi lạc mất hoài niệm, cũng chẳng thể nhớ hết) bỗng nhiên đem đến cho tôi nhiều ủi an ở tuổi già thất thế nơi xứ người… “Ấm lòng chiến sĩ” xiết bao!
Ngày tôi ra tù cải tạo…từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ…Những người tình mà tôi yên chí lớn, cả tin vào lời rên rỉ thê thiết là thiếu tôi họ sẽ…chết liền!!!
Đột nhiên, một buổi sáng đẹp trời, người bạn xa xưa chỉ một lần đối mặt nửa thế kỷ về trước tình cờ “tìm ra” được người bạn sinh viên năm xưa mà mình đã có duyên hội ngộ chớp nhoáng trong đêm thanh vắng, cùng lặng im nghe nhạc cổ điển Tây phương trên gác trọ Phan Đình Phùng (Đà Lạt), tuyệt nhiên không có mục ngày đó có em đi nhẹ (hay đi nặng) vào đời chi hết. Người sinh viên sau đó âm thầm ra đi biền biệt suốt…50 năm!
Nhưng rồi câu chuyện trên điện thoại viễn liên đã nối lại nhịp cầu tri âm giữa hai người bạn sơ giao, nay trở thành thâm giao. Thú thật, lúc nghe tiếng bạn cách xa những 3 múi giờ, tôi bàng hoàng ngớ ngẩn giây lâu…Không chờ mà gặp, không hẹn lại đến! Tuổi đời chồng chất xấp xỉ tôi, bạn tôi quả thực quá can đảm vượt 7000 cây số đến tận căn nhà ngoại ô “Thôn Trang Rêu Phong” tìm gặp người-bạn-cố-tri-chỉ-một-lần-gặp! Người tình thì…bỏ đi. Người bạn lại… ở lại, chí cốt tìm ta! Không ngạc-nhiên-thích-thú sao?


Hai mươi mốt ngày dìu chân bạn dạo khắp thôn trang, ôn kỷ niệm rất hiếm hoi nhưng khó quên thời sinh viên, chúng tôi bỗng nhiên như trở thành hai thiếu niên tung tăng đùa giỡn, nghịch ngợm chơi trò cúp cua trốn học! Chỉ tay về hướng một trũng sâu cỏ cây um tùm, ven sông, tôi ghẹo bạn:
-Nếu ngày trước, thay vì cùng bạn giam mình trên căn gác, nghiêm trang thưởng thức nhạc thính phòng, tôi hẹn Nữ-bá-tước-chân-trần ra Hồ Than Thở mà ven bờ có bụi rậm như thế nầy để trốn học (faire l’école buisonnière) thì chưa chắc giờ nầy mình còn là…bạn tốt với nhau đâu!
Bạn tôi cười ngất. Tôi cùng cười theo, tin rằng mình đã nói lên điều thực sự nghĩ ra.
Rồi khách và chủ lững thững quay về căn nhà ngoại ô khuất dạng sau rặng anh đào trổ bông hường đặc gật. Hình như tôi nghe bạn tôi thì thầm:
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ…
Hình hài, dáng dấp chúng tôi dĩ nhiên mang dấu vết tàn phai của thời gian, nhưng hình như tâm hồn thì không. Cổ nhân đã chẳng thừa nhận: Tim bao giờ có vết nhăn (Le coeur n’a point de rides) sao?
******
T
ưởng rằng không còn gì trong giao tiếp của tôi với tha nhân có thể gây ngạc nhiên cho tôi nữa. Nhưng mấy ai học được chữ ngờ: vô số giao tiếp xa xưa ở quê nhà mà tôi chẳng thể nào chờ đợi còn nhớ đến “ông đồ già kiêm lính yếu” lưu lạc trên đất khách nữa… Bỗng dưng, không báo trước, một điện thư đáp xuống mail-box của tôi:
“Em xin tự giới thiệu là học trò của thầy , môn triết tại trường Phục Hưng 73-74 , nhân đi dạo trên web tìm dấu tích trường xưa vô tình gặp được trang blog của thầy rất vui vì nhìn được hình ảnh của thầy sau hơn 30 năm .
Nếu được sự đồng ý của thầy, em xin phép được đăng những bài viết trong blog của thầy vào trang web của đại học khoa học Sài Gòn.
(…)Nhờ có 1 ký ức tương đối khá nên những lời nói về Paris của thầy trong trí tưởng tượng của một cậu học sinh trung học em đã được nhìn bằng hiện thực , chỉ tiếc rằng lúc đó rời bỏ tất cả ra đi với 2 bàn tay trắng và phải bắt đầu một cuộc đời không định hướng nên cảm xúc đó không có được lâu . Nên cũng hiểu thầy có nhiều kỷ niệm với Paris .Em cũng không nghĩ rằng sẽ liên lạc được với thầy , chỉ vì chiều chủ nhật buồn chui vào google gõ bâng quơ " trường Phục Hưng đường Lê ngô Cát " hy vọng có một ai đó tạo 1 website Phục Hưng , và tìm được blog cuả thầy cùng với hình ảnh nên mới mail thử xem . Em đã đăng bài
Lệ đá xanh và sửa lại hình cô gái khóc , gửi lại thầy xem cho vui , nhờ bài này chắc sẽ có nhiều người biết Nửa hồn thương đau
ra đời như thế nào…http://www.khoahocsaigon.com/lang-thang-do-day/lang-man-tho-van/van-suu-tam/le-da-xanh -Trần Đức Diên-”Quá may mắn còn có người nghĩ đến tôi, dù chẳng thể nào tôi hình dung nổi khuôn mặt hay dáng dấp môn sinh Diên trong hàng vạn cựu môn sinh thuở đó của tôi. Bạn bè thâm giao phần lớn phai nhạt ân tình, lắm khi còn lánh mặt. Thế hệ con em xưa kia, nào tôi dám nghĩ chúng còn nhớ tới mình. Thế mà…
Làm sao tránh khỏi bồi hồi, xúc động?

Chưa hết đâu! Lại một ngạc-nhiên-thích-thú nữa rơi vào hộp điện thư ông đồ già: một cựu môn sinh mách tôi vào website trường Trịnh Hoài Đức tìm lối… “Trở Về” chốn cũ Bình Dương ân sâu nghĩa nặng…do cựu môn sinh Thùy Vương đưa lên mạng. (Bài viết nầy sau đó được bán tuần san Việt Luận chọn đăng, số 2380, ngày thứ sáu 24.7.2009).
Lần nầy thì tôi nhớ “người xưa”, vì thời điểm đó tôi phải đương đầu với hiểm nguy xách động gây xáo trộn trong sinh hoạt học đường mà tác giả bài viết vô tình hay cố ý ít nhiều liên can tới.
Chuyện xảy ra vào năm 1971, lúc tôi sắp sửa rời trường Trịnh Hoài Đức nhận nhiệm vụ mới. Chúng tôi chuẩn bị một chương trình văn nghệ rất công phu và khá phong phú -mà Thùy Vương là giọng đơn ca chính trong trường ca Lửa Thiêng của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ- nhằm giới thiệu Trường trên đài Truyền Hình Sàigòn. Lúc bấy giờ chỉ có Trường Mạc Đỉnh Chi và Trường Trịnh Hoài Đức được chọn trình diễn trên màn ảnh nhỏ. Và trường tôi được ưu tiên khai pháo.
Ròng rã đôi ba tháng tập dượt, biết bao công sức… Mọi việc đang diễn tiến suông sẻ thì…đột nhiên có người rỉ tai tôi âm mưu lợi dụng cơ hội nầy để…ra ứng cử dân biểu! Và có một vận động ngầm thuyết phục Thùy Vương…rút lui. Lập tức, tôi cho họp Hiệu Đoàn với đầy đủ các thành viên trong Ban Văn Nghệ và long trọng tuyên bố với các em học sinh, nếu tôi ra tranh cử dân biểu các em có quyền khước từ coi tôi là thầy! Rồi đích thân tôi đến nhà ba má Thùy Vương xin phép cho em tham gia văn nghệ.
Tưởng đã yên. Nào ngờ, chiều hôm trước ngày lên đài Truyền Hình, em đại diện học sinh, không rõ do ai xúi giục, gần như “hiên ngang” nói thẳng với tôi ngày mai các học sinh không…lên Sàigòn! Không khí cực kỳ căng thẳng…Tôi không còn sự lựa chọn nào khác, ngoài việc xác định lập trường của một ông thầy trách nhiệm Hiệu Trưởng kiêm Hiệu Đoàn Trưởng:
-Các em nghe kỹ đây! Ngày mai, đúng 6 giờ sáng, xe đò do Ban Giám Đốc thuê bao sẽ đậu trước cổng trường. Các em suy nghĩ cho thật chính chắn đi, rồi tùy nghi quyết định lên hay không lên xe. Nhưng, tôi xác quyết với các em: cho dù ngày mai chỉ có một em hay chẳng có em nào lên xe, tôi cũng sẽ cho xe lên đường đúng 8 giờ. Bởi vì thành công hay thất bại trong chuyến đi nầy liên quan đến danh dự chung của tập thể Trịnh Hoài Đức. Và trách nhiệm nầy nằm trong tay của tất cả chúng ta…Sáng hôm ấy, Thùy Vương và tất cả thành viên trong Ban Văn Nghệ có mặt đông đủ!
Chuyện xảy ra đã quá lâu, bao nhiêu nước chảy qua cầu…Không ngờ 38 năm sau Thùy Vương còn “ray rức” nhắc lại:
“Gặp được thầy nơi đây, lòng chỉ mong nói lên lời tạ-lỗi sau những năm dài ray-rứt trong đời. Dù em vẫn biết, với tâm-hồn dung-dị thanh-thản cùng những trải-nghiệm nghiệt-ngã của đời sống chắc không có chỗ cho thầy nhớ chi đến cái chuyện nhỏ-nhặt, tầm-thường và tẻ-nhạt thế nầy. Có chăng, chắc thầy cũng đã bỏ qua, cũng đã tha-thứ từ lâu… Nhưng riêng em, giây-phút được nói với thầy, với các bạn, là lúc hạnh-phúc thật lòng… Trong nỗi mong chờ dường như vô-vọng, hun-hút, chơi-vơi; nhiều khi tưởng chừng phôi-phai, mờ-nhạt, nhưng nghe sao nó vẫn loi-nhoi ẩn-tiềm trong ký-ức làm con người khó nỗi an lòng. Cho nên, chuyến hành-trình nầy với em mang thêm giá-trị ngoạn-mục của một cuộc vượt-thoát, con tim đã được vui lại như thời bé dại...”Thùy Vương nhận định rất chính xác: Làm sao tôi còn để tâm oán trách những con em trong một tập thể mà từ lâu tôi đã xem như gia đình thứ hai của tôi!
Nhưng điều khiến tôi rạt rào thương cảm là Thùy Vương đã thấu hiểu tâm trạng của tôi khi cầm bút. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình là cây bút chuyên nghiệp, có “triển vọng”, đến độ tất cả điệu bộ hằng ngày như ăn uống, bài tiết, hít thở, đi đứng, nằm ngồi, yêu đương, thù hằn, v.v…nhất nhất đều biểu lộ “ngụy tín” (mauvaise foi) “đóng kịch đạo mạo-esprit de sérieux” ta là nhà văn…nhớn, như anh hầu bàn rất ư “nghiêm chỉnh” đóng vai hầu bàn trong “Hữu thể và Hư vô” của Sartre! Nhân vật trở thành nhân cách!
Người ta đâu dễ đồng-hành trên cùng một vuông chiếu ấy, dù là vuông chiếu của nàng văn-chương. Có chăng, còn đứng chân trên đó, chỉ còn một nước là "đồng-đấu", "đồng-đá" với nhau thôi, để dành một chỗ đứng, để kiếm một chỗ ngồi, hay để bồi thêm chút lợi-nhuận. Nhưng thầy(…)thì không, nên(..)đã giã-từ, dứt bỏ, quay đi... Vẫy chào những người đã một thời "đồng..." đủ thứ, chỉ giữ mỗi nàng văn-chương vì cái nghiệp muôn-thủa của mình thôi”.Nếu được thêm một độc giả chia sẻ nỗi niềm của tôi -cây bút “tài tử”- như thế nầy thì thật vinh hạnh cho tôi biết bao!*******
T
ôi nhớ có lần một cây bút thân quen đã thố lộ chỉ viết khi trong tình trạng mất thăng bằng. Nếu thăng bằng thì anh không cần viết. Hiện giờ tôi cảm thấy nội tâm không an bình. Tuy không hứng khởi lắm, nhưng tôi cảm thấy có nhu cầu gõ trên bàn phiếm. Cho đỡ buồn, cho vui vậy mà!(chữ của Nguyễn Mộng Giác)
Và quả thật, tuy sắp đi tới nơi hết mọi ưu phiền, trải qua cũng lắm gian truân, nếm khá đủ các món ăn chơi trong chuyện-dài-nhân-dân-tự-vệ-thế-thái-nhân-tình, tôi vẫn thấy được đời ưu đãi…
Tôi thành thật nghĩ rằng chính tôi phải cảm ơn cựu môn sinh Thùy Vương đã cho tôi sống lại những giây phút khó quên qua bài viết Trở Về. Vào buổi xế chiều của cuộc đời, tôi muốn chia sẻ niềm vui với quí bạn đọc ít nhiều còn gìn giữ, trân quí vùng kỷ niệm xanh thời nền giáo dục nước ta còn tôn vinh những giá trị nhân bản, khai phóng, tự do…
Trước 1975, Trường Trịnh Hoài Đức nằm trong “vùng xôi đậu”. Sau 1975, “xôi” ngã theo chính sách bao tử trị, tràn đồng trấn áp “đậu”. Nhưng dần dần có dấu hiệu, tuy khiêm nhường nhưng rất khích lệ, cho thấy hạt “đậu” nhân bản, vốn được ấp ủ từ lâu trong truyền thống tôn sư trọng đạo, đã bắt đầu chuyển mình dưới lớp “xôi” (thịt) dầy cộm phủ che bấy lâu, nẫy mầm triển nở, sanh sôi …

Xin cho tôi kết thúc bài viết bằng những dòng chữ chan chứa Tình Người dưới đây để tạ ơn đời đã cho tôi niềm hân hoan sâu đậm trước khi vẫy tay giã từ cõi mộng:
Thưa thầy,
Đọc tâm-tình tha-thiết của thầy về những giá-trị tình-cảm và tinh-thần trong cuộc sống, em không khỏi hổ-thẹn và chạnh lòng... Cái giá-trị hôm nay lại có từ những phút lỗi-lầm ngày xa-xưa. Chính cái phút lầm-lỗi ấy đã mang thầy trò mình gặp nhau và gần nhau thế nầy sao? Em cảm thấy lạ-lùng vì cái cơ-duyên kỳ- cục đó.
Đúng là cuộc sống muôn trùng. Trong cái phúc vẫn ngầm có họa, thì ngược lại, trong họa vẫn ngầm có phúc đó phải chăng?
Đời trôi qua bao nghịch-cảnh, có khi thật trớ-trêu mà mình không lý-giải nổi. Bây giờ em nghe lòng đầy ấp niềm an-ủi vỗ-về, vượt quá những gì hằng mong đợi. Chỉ biết cảm ơn, cảm ơn tấm lòng bao-la rộng mở, thầy đã dành cho những đứa học trò trở về sau bao năm xa cách, tấm lòng của người cha đón đứa con trở về sau những ngày tháng hoang đàng. Em hạnh-phúc được ngồi vào bàn tiệc của cha, với áo mới, quần mới, niềm vui mới...
học trò cũ,
Vương
Thôn trang Rêu-Phong, hè 2009
Lê Tấn Lộc






Sunday, March 29, 2009

LỆ ĐÁ XANH


Câu chuyện bên lề:

Lệ đá xanh…

Đ
êm ấy mưa tối trời, mưa dầm dề, mưa thúi đất, mưa ngập đường sá, mưa xối xả trên thành phố Sàigòn khi vũ trường đã tàn cuộc vui cho quên ngày tháng nghiệt ngã, khi hoa đăng đã tắt với giọng hát “vượt không gian và thời gian” cùng lúc với Đêm Màu Hồng vụt tối đen, ẩn hiện dật dờ qua hằng hà sấm chớp lập lòe cuồng nộ …
Hai người đàn ông choàng vai nhau khệnh khạng đi dưới cơn mưa tầm tã, ướt đẫm , vừa bước đi vừa chuyền tay nhau kề miệng tu chai Courvoisier. Người gầy guộc, cao nghệu có vẻ còn đi đứng vững vàng, cố lôi anh bạn thấp bé của mình đã quá “xiêu vẹo” băng qua quãng đường lầy lội, hướng về chiếc Ford Cortina: tôi ngồi sau tay lái… chờ đã khá lâu. Nửa giờ trước đó, nhìn hai bạn tôi quá chén lạc hoan, tôi lặng lẽ rời bàn rượu khi bài ca cuối chuẩn bị kết thúc đêm vũ trường vừa bắt đầu, ra lấy xe đến đón họ cho an toàn: chúng tôi hẹn đến nhà anh bạn nhạc sĩ tiếp tục cuộc vui. Trên đường đi, hai bạn tôi vẫn tiếp tục tu rượu không ngưng nghỉ. Bỗng nhiên, anh bạn thấp bé bá cổ anh bạn cao nghệu líu lưỡi thì thầm:

mưa cuối mùa mùa mưa cuối cuối mùa mưa mưa cưới mùa mùa cưới mưa
nói làm sao đây hỡi chương khi giọt rượu đã ngủ gục trên môi khi ánh sáng không còn là ánh sáng khi tiếng ca không còn là tiếng ca đêm đêm nhìn mặt micro nhổ ra từng mảng phổi
khi đó người con gái lui vào bóng tối ném nụ cười cùng mồ hôi xuống sàn gỗ “tu gagneras ton pain à la sueur de ton front” tiếng vỗ tay đì đẹt đừng ngó nữa nghe chương chúng ta chỉ còn lại chiếc lưỡi tê cứng này với cơn mươi cưới mùa xin lỗi mua cuối mười cươi múa mùa mưa muối cười xin lỗi xin lỗi

mưa cuối mùa mưa cưới mùa
đêm đó băng qua hẻm khuya dầm mưa về

gian nhà tối anh chợt nghĩ nếu tình yêu
không có trong cuộc đời này thì khốn nạn
biết mấy

đêm đêm anh chỉ còn là con hình nộm nổi trôi từ căn nhà đến bục hát từ bục hát đến căn nhà anh thảng thốt mỗi cột đèn mỗi bức vách mỗi cánh cửa mỗi ổ khóa là tiếng nguyền rủa không nguôi

vào một buổi trưa nắng nứt rạn anh nằm một mình thoáng nghe nụ cười suối mát chảy ngoài ngõ anh chợt nhớ bàn tay bàn tay nào bối rối đôi mắt nào thơm ngoan những hồi hộp bé con những lời không dám nói hơi thở không dám gần bấn loạn không dám đưa
anh biết rằng tuổi trẻ mình tự bao giờ đã hết
chương ơi thôi đã hết

Bài thơ Mưa cuối mùa, do Kiệt Tấn cảm hứng ứng khẩu tặng Phạm Đình Chương -danh ca Hoài Bắc trong Ban Hợp Ca Thăng Long trước đây- ra đời như thế đấy. Bài thơ sau đó xuất hiện trên tập thơ đầu tay của Kiệt Tấn, Điệp khúc Tình Yêu và Trái Phá do Sáng Tạo (với sự trợ giúp tận tình của nhà văn Doãn Quốc Sĩ) xuất bản tại Sàigòn, năm 1966. Và mới đây, mùa hè năm 2008, nhà văn Trần Hoài Thư (trong Thư Ấn Quán Hoa Kỳ) đã bỏ nhiều công sức đánh máy lại, giúp tái bản...

Anh bạn nhạc sĩ, dù đã chếnh choáng hơi men vẫn cố gắng tiếp tôi dìu đỡ hai ông bạn đã say khướt vào an tọa nơi phòng khách. Gia chủ ngồi vào dương cầm dạo vài khúc nhạc tạo không khí “văn nghệ”. Hai chàng “ẩm sĩ” gục đầu vào nhau ngủ…ngồi! Chỉ mình tôi còn khả năng trò chuyện với anh chàng nhạc sĩ. Bạn tôi cho biết vừa phổ nhạc xong bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, cũng là chỗ quen biết với nhau cả. Riêng tôi, dù cùng khóa 14 SVSQTB/Thủ Đức, tôi ít có dịp gặp TTT, mà có gặp cũng ít khi trò chuyện. Vả lại lần đầu chạm mặt với anh cũng không được vui vẻ lắm. Lần đó, tôi hơi to tiếng với anh vì một lời nói có vẻ “kẻ cả” của anh trong tiệc rượu mừng tập thơ Điệp khúc Tình Yêu và Trái Phá đã được trình làng, tại nhà KT, đường Bạch Đằng (Gia Định), qui tụ vài văn, thân hữu, trong số có Cung Tiến -người đang ngồi dạo dương cầm trước mặt tôi đây. Vài hôm sau, TTT. tâm sự với CT (mà trước đó tôi chưa biết cũng là cây viết mang bút hiệu Thạch Chương, trong nhóm Sáng Tạo) rằng anh rất tiếc đã lỡ lời trong lúc “rượu vào lời ra”, làm buổi họp mặt thân mật hôm ấy mất vui. Mãi sau nầy, có dịp trao đổi vài câu chuyện tôi mới bắt đầu có cảm tình và quí trọng nhà thơ lúc nào đôi mắt cũng ươn ướt. Và càng mến mộ anh hơn vì, cũng như tôi, anh chọn đơn vị tác chiến khi ra trường để thực sự đối mặt với cuộc chiến, chia sẻ khổ nhọc, hiểm nguy cùng binh sĩ trên trận tuyến hơn là ấm a ấm ớ như đám trí thức “dỏm” tự cho “đứng trên mọi lập trường”, ầm ỉ lên giọng phê phán, chỉ trích những người trong cuộc đang đổ máu trên chiến trường, để rồi phách lối hiu hiu tự đắc coi mình như người ngoài cuộc!

CungTiến dạo nhạc đưa giọng, khe khẽ hát: “Tôi biết những người khóc lẻ loi...”. Rồi ngưng hát, vừa tiếp tục đàn bản nhạc anh đã phổ thơ, vừa đọc tiếp bài thơ Lệ đá xanh của
thanh tâm tuyền

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
Hai ẩm sĩ choàng tỉnh, chăm chú lắng nghe…CT rời dương cầm, rót rượu mời bạn.

Ly rượu trên tay, Phạm Đình Chương thong thả bước tới ngồi vào piano dạo nhạc mở đầu…cất tiếng hát buồn bã:

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa…
Cho tôi về đường cũ nên thơ…
Cho tôi gặp người xưa ước mơ…
(…)
Giọng hát trở nên vô cùng tha thiết, đến đoạn điệp khúc:

Đôi khi anh muốn tin
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người
Ôi những người
Khóc lẻ loi một mình
Khóc… lẻ loi…một…mình……….

PĐC ngồi bất động trước dương cầm. Chúng tôi bồi hồi xúc động… Sáng tác Nửa hồn hương đau của PĐC chào đời như thế đấy, muộn màng về sáng, sau một đêm mưa ồ ạt, dai dẳng…
Mưa mãi mưa hoài mưa chẳng dứt
Đêm dài đằng đẵng đêm bao la…
Đột nhiên, CT, đứng phắt lên phá tan sự im lặng trầm ngâm của anh em, chỉ tay về hướng PĐC gắt gỏng:
-Toa biết cái “đếch” gì về mélodie…!
KT và tôi đứng tim! PĐC không phản ứng, nâng ly chào bóng mình in trên tường, chậm rãi uống nốt những giọt rượu còn lại, lặng lẽ rời chiếc dương cầm…
Bỗng nhiên CT bước nhanh tới choàng ôm PĐC:
-Moa xin lỗi toa, Chương! Moa nói bậy hết sức. Mọi người cũng như toa đều biết moa rất quí toa và ngưỡng mộ tài năng sáng tác nhạc của PĐC mà!
Chúng tôi cũng như PĐC, tuy không nói ra, nhưng ngầm hiểu CT “lỡ lời” (lỡ lời “kẻ cả” như TTT tại nhà KT chăng?).
Có điều KT và tôi rất rõ mà không muốn nói ra là…Có lẽ chỉ vì PĐC đã phổ một đoạn thơ TTT! Một trùng hợp không chủ đích: Tiến và Chương phổ thơ TTT cùng thời điểm một đêm mưa trên đường phố Sàigòn ngập nước!
Tuy nhiên, chúng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên thấy CT “hạ mình” xin lỗi PĐC (chuyện hầu như chưa bao giờ xảy ra với CT!). Cũng như không mấy khi TTT “hạ mình” ngỏ ý “tiếc” đã lỡ lời…với KT trước đây!
-Các toa ngồi yên đấy nhá, CT vỗ vai PĐC nói. Moa lên lầu lấy chai Johnny Walker, Black Label, 15 Years Old …
Chưa đầy 5 phút đã thấy CT khệ nệ cặp nách chai quý tửu từ trên cầu thang tuôn nhanh xuống. Không may, chàng vấp chân ngã nhào, lăn đùng trên sàn gạch, tay vẫn ghì chặt chai rượu quí, “lấy thân che của”! Chàng loạng choạng nhổm dậy, sờ tay vào hàm răng rướm máu, tay trái lấy ra một mảnh răng, tay phải giơ cao chai quí tửu, cười xoà:
-May mà không bể chai Johnny Walker! Chà! Mẻ chiếc răng cửa thế nầy còn làm sao thổi kèn haut-bois được nữa đây!
***
Những năm về sau, từ Tết Mậu Thân trở đi, gần như tôi ít có cơ hội gặp lại PĐC vì không lần nào nữa tôi trở lại Đêm Màu Hồng, từ dạo ngài phó-tông-tông-phi-công-râu- kẽm-nặng-mùi-biểu-diễn-đồ-bay-khăn-tím-choàng-cổ được lũ khỉ đột cận vệ (gorille) bao kín giữ an ninh cho chàng leo lên bục trình diễn độc chiếm micro thao thao “sướng” hát! Tiếc thay, ngày PĐC từ giã cõi đời tại Cali, năm 1991, tôi không đến được để tiễn đưa anh về cõi an nghĩ đời đời…

Với CT, tôi chỉ tình cờ chạm mặt một lần tại Pointe-des-Blagueurs (nhà hàng Ngân Đình), năm 1973, khi KT và tôi ngồi đối ẩm nói chuyện trời trăng mây nước cho qua ngày tháng. Chúng tôi nhận thấy CT thay đổi hơi nhiều, từ ngày chàng ta “làm lớn” ở Bộ Kế Hoạch. Bạn tôi hầu như không còn chút hoài niệm nào về thời điểm rất nguy khổn cho chàng sau khi chàng “ra trường” Bộ Binh Thủ Đức trước khi mãn khóa, khiến tôi đã phải “liều mình” giải cứu chàng ra khỏi Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập Ngũ, nơi chàng nằm chờ ngày bị tống đi Quân khu II! Ra hải ngọai, tôi cũng chẳng có dịp gặp lại chàng, ngoại trừ vài lần nói điện thoại viễn liên. Dẫu sao bạn tôi vẫn còn nhớ đến tôi, gửi cho tôi ít tiền khi tôi vừa đặt chân lên Xứ Tuyết. Lần liên lạc gần nhất, năm 1991, là lúc tôi cộng tác với một nguyệt san ở Toronto, chàng trả lời thư tôi: “…khám phá những hàng chữ ấy, tình cảm luôn luôn đậm đà, thắm thiết của Lộc philosophe, Lộc sentimental và Lộc transparent…”. Sau đó chỉ còn KT thỉnh thoảng liên lạc và sang Minesota chơi với chàng.

Với TTT, dù có một thời gian phục vụ cùng ngành trong quân đội tại Sàigòn, chúng tôi không có duyên gặp nhau trong công việc. Mãi đến cuối tháng 3 năm 1975, lúc tình hình quân sự và chính trị miền Nam vô cùng rối rắm, tôi mới gặp lại anh trong văn phòng trường tư thục Phục Hưng, nơi anh và tôi cùng cộng tác…Lúc bấy giờ thủ đô nhốn nháo với các tin đồn về một vài thành phố lớn ở miền Trung thất thủ hoặc bỏ ngõ. Tôi bán tín bán nghi, nhưng thấy TTT nhìn trần nhà nhả khói thuốc, rồi buồn bã cúi đầu, tôi biết ngay Đà Nẵng đã thực sự rơi vào tay quỉ đỏ! Rồi… “di tản”, rồi “cải tạo”, rồi “vượt biên”, v.v…Bặt tăm nhau luôn từ đó.
Cho đến khi tôi được KT báo CT và nhóm thân hữu cầm bút đã đứng ra bảo lãnh cho TTT sang tiểu bang Minesota, năm 1991, nơi mà sau đó hai nhà thơ Cung Trầm Tưởng và Tô Thùy Yên cũng được nhóm CT bảo trợ đến định cư. Liên lạc được với TTT, quả thật tôi rất đỗi vui mừng: ít ra, cũng như tôi và một số hiếm hoi chiến hữu bị đày đọa chí cốt trong các trại tập trung do Bắc Bộ Phủ chủ xướng, TTT vẫn sống còn…
TTT gửi tặng tôi tập thơ lục bát anh đã sáng tác trong tù, kèm những giòng chữ rất thân thương mà đến nay tôi vẫn còn trân quí: « …Quả là bất ngờ. Cảm ơn tấm lòng vẫn nhớ đến nhau…Năm 82 về đến Sàigòn, được biết anh đã vượt thoát những mừng cho anh. Sang đến bên này hỏi thăm Cung Tiến, nghe anh sau chuyến vượt biển đã trở thành “nhà tu hành” lại cũng mừng cho anh (…), biết anh mặc dầu long đong lận đận nơi Xứ Tuyết mà hồn vẫn còn “thơ thẩn” thong dong ngoài cuộc mưu sinh, lại cũng mừng cho anh nữa... ».

Tôi là người nhận được hung tin trễ nhất TTT trở về với cát bụi. Có lẽ tôi không nằm trong danh sách những cây bút đã “thành danh” chói rạng cần được ưu tiên thông tin…Đọc tin trên internet, tôi vội vã báo tin cho KT. Hình như sau đó Nguyễn Xuân Hoàng có làm một số VĂN đặc biệt về TTT. Tôi tự thấy không có kỷ niệm nào đáng kể về “tình văn” với TTT nên không viết bài gửi cho NXH, dù Hoàng là chỗ rất thân thiết với KT và tôi. Và tôi cũng không thể đến kịp lúc để nhìn lần cuối đôi mắt ươn ướt ân tình của nhà thơ một thời khai phá cõi thơ tự do, trước khi chúng vĩnh viễn khép kín từ biệt thân bằng quyến thuộc, rong chơi cõi vĩnh hằng…

chương ơi thôi đã hết
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, vào Xuân…
Lê Tấn Lộc




Monday, February 9, 2009

Tản mạn về..."ĐỒNG NGHIỆP"


Phiếm “loạn” (IV)

Tản mạn về…
“ĐỒNG NGHIỆP”

Phê bình thì dễ, nhưng nghệ thuật thì khó”
-La critique est aisée, mais l’art est difficile-
(DESTOUCHES, Le glorieux)

Đồng nghiệp” T. thân mến,

Có lẽ T. sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy những giòng chữ nầy xuất hiện trên mặt báo. Chính tôi cũng lấy làm lạ tại sao đã bao phen quyết tâm liệng bút mà giờ đây vẫn còn cầm cây bút trên tay! Thực ra bài viết nầy đáng lý đã hoàn tất trước khi tôi trở lại Montréal, bởi lẽ ý định sơ khởi của tôi là sử dụng đoạn cuối bài viết của T. để kết thúc một bài viết trong thời gian tôi sang chơi với một “đồng nghiệp” khác ở Paris.
Chắc T, phần nào có thắc mắc về cặp râu bao quanh hai chữ đồng nghiệp. Cho tôi được diễn nghĩa: đồng nghiệp viết trong dấu ngoặc kép, có nghĩa là đồng mắc cái nghiệp viết lách. Đôi khi sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa đồng nghiệp và đồng nghề (như T. và tôi, cùng một số cây bút khác) dễ gây hiểu lầm “thấy sang bắt quàng làm họ”. Nhưng đó là chuyện sau, sẽ từ từ đề cập tới. Tạm thời xin T. chấp nhận “đồng nghiệp” theo nghĩa cùng cầm bút góp mặt trong văn giới, những người có thể đồng lòng, đồng tình, đồng điệu, đồng bệnh, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, đồng hành mà không bắt buộc phải là đồng đội, đồng minh, đồng môn, đồng tù, đồng hương, đồng trang lứa, đồng đạo, đồng chí hướng, đồng quan điểm, đồng vợ đồng chồng -có khi lại còn trớ trêu “đồng sàng dị mộng” nữa là khác!- nhưng tuyệt nhiên không thể là đồng bọn, đồng đảng, đồng lõa, đồng mưu, đồng nhất, đồng phục, đồng nghĩa, đồng bạc, đồng cốt và… đồng ấu!
Cách đây hơn 35 năm, lúc ở trại “cải tạo” Long Giao, suy gẫm câu nói của E.Mounier: “Thiếu kinh nghiệm về bệnh tật, tù đày và chết chóc, con người chưa thể thực sự là con người” (Il manque à un homme, pour être vraiment homme, la maladie, la prison et la mort.), tôi viết một truyện dài bằng tiếng Pháp -vì phải tránh né các cần ăng-ten chi chít trong trại giam- mở đầu bằng một nhận định: “Longtemps j’ai vécu, agi, pensé comme si je ne devais jamais vieillir, souffrir, mourir…” (Lâu nay tôi đã sống, hành động, tư duy như tôi sẽ chẳng bao giờ phải già nua, đau đớn, chết đi…) Truyện chấm dứt bằng một nhận định: “Longtemps j’ai vécu dans le mensonge à moi-même et dans l’erreur déjà reconnue…” (Lâu nay tôi đã sống trong sự tự lừa dối và trong sự sai lầm đã được nhận diện...) -Mémoires d’un psychiatre, suivi du Journal d’un schizophrène épileptique-
Ấy vậy mà tới nay tôi vẫn chưa hết lận đận lao đao trước những đột biến của ngoại cảnh, dẫu đã chuẩn bị tinh thần tương đối đầy đủ trước những thăng trầm của cuộc sống!...
Đôi mắt rỗng phải che bằng khói thuốc,
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao…
*
Sao tiếng nói bỗng thẹn thùng bỡ ngỡ,
Gọi tên người nghe cả nắng vàng phai
Tôi đọc thầm hai câu thơ mở đầu bài viết dở dang ở Paris mà tôi có ý định viết dưới dạng thức “Thư cho một đồng nghiệp” nói về T. như trước đây “đồng nghiệp” nầy đã có “Thư cho L.”, khiến tôi phải lặn lội xuống tận Toronto tìm gặp nhà thơ nữ, tác giả hai câu thơ nói trên, dù tôi chưa hề biết diện mạo, cốt cách của “nàng” ra sao!
Một cố nhân, chỉ một lần gặp gỡ trên Xứ Hoa Đào nửa thế kỷ về trước rồi bặt tăm, mới đây, tình cờ đọc bài viết của tôi trên một tạp chí ở Cali, liên lạc với toà soạn để có thể gửi điện thư cho tôi kèm scan một đoạn thủ bút màu mực tím muôn thuở của tuổi học trò :
giữa thế giới văn minh em vẫn ngồi nắn nót
những bức thư tình trau chuốt gửi cho anh
thư tình yêu ai viết bằng điện toán
nét chữ mượt mà mới nói hết tình xanh...
Dưới thủ bút, một chữ ký tuyệt đẹp, cũng “sợ thư tình không hết nghĩa yêu đương (nên) pha mực cho vừa màu áo tím”…
Triết gia Alain trước đây nhìn nhận: “Con người tư duy vì có đôi tay” (L’homme pense parce qu’il a des mains). Tâm cử học (Behaviorisme) cho thấy tâm tính con người phần nào phô diễn qua nét chữ và chữ ký. Rất nhiều người lẫn lộn graphologie, môn học nghiên cứu các dạng chữ (chiết tự học?) với mục bói khoa và coi quẻ (chiromanchie)! Dịp khác tôi sẽ trở lại vấn đề nầy. Trong khi chờ đợi, do thu thập được vài khái niệm về tâm lý học, xin cho tôi được “méo mó nghề nghiệp” đôi chút: Chữ ký nói trên cho thấy người ký vào đời rất “văn nghệ” (phần đầu chữ ký); do va chạm, phần nào có khựng lại, co rút thủ thế (phần giữa) nhưng sau rốt vẫn buông theo cảm tính có chừng mực (phần cuối); gạch dưới chữ ký là dấu hiệu của sự chững chạc.
Đại cương, chữ ký cho thấy một tâm hồn quãng đại, có thủy có chung, tuy nét “buông xuống” khá nhiều (cho thấy có ít nhiều ngán ngẫm) nhưng vẫn không che dấu được “cánh cửa chưa khép kín”. Dạng chữ trong thủ bút cho thấy một trí óc “thông minh” (intelligent), mạch lạc, tuy rạt rào tình cảm vẫn không mất tính logique…Thôi thế cũng đã đâm hơi quá nhiều. Xin lỗi T. về cái méo mó trời đánh! Bây giờ xin trở lại chuyện trần thế, đi trên mây hoài cũng chóng mặt!
Có lẽ T. đã nghe nói, khá lâu rồi tôi đổi điện thoại, địa chỉ, rút êm ẩn dật. Để chắc ăn hơn, tôi rời Montréal, tiếng là đi làm ăn xa. Cũng như T. tôi đã trải qua một chuỗi ngày ê chề với một số… “đồng nghiệp”! Thế nhưng tôi đã trở về chốn cũ “Montréal đất lạnh tình nồng”. Tôi không thể quên lòng ưu ái, sự ân cần, sốt sắng giúp đỡ tôi -để cố giữ tôi lại với anh em- của các “đồng nghiệp” thân thương, đồng nghề cũng như khác nghề…Chắc T. cũng đồng ý trong số “đồng nghiệp” chúng ta vẫn còn nhiều vị xoa dịu những ê chề, đem lại cho chúng ta niềm hứng khởi tiếp tục cầm bút. Montréal đất lành chim đậu! Dĩ nhiên, đôi lúc cũng có mây mù vần vũ vì nhóm “đồng nghiệp-đồng bọn-đồng cốt”, nhưng tựu trung Montréal vẫn là thành phố văn nghệ cởi mở, nhiệt thành đón nhận “đồng nghiệp” nhất ở Châu Mỹ, nếu không muốn nói là trên khắp năm Châu.
Mới đây, có lẽ thấy bên Xứ Đại Thử một ngài hạ sĩ (trước 75) đăng tải chứng chỉ ở tù cộng sản vài chục…ngày để chứng minh mình có 30 năm hành nghề nàm báo cho giới truyền thông khớp vía chơi, một nhóm “đồng nghiệp” bên Xứ Tuyết hồ hởi noi gương thầy cai “chạy nhựt trình, từ trong ra tới ngoài nước” mở tiệc yến linh đình mừng kỷ niệm nàm báo và vẽ tranh! Tôi bèn nghĩ, có lẽ nay mai tôi sẽ mời T. cùng một số “đồng nghiệp” khác đến ăn mừng thất thập tứ chu niên ngày tôi mần báo (vì tôi đã tròn 74 năm báo cha, báo mẹ, báo anh, báo em, báo vợ, báo con, báo cháu) và lục thập cửu chu niên ngày tôi cầm viết, cầm cọ (vì lúc 5 tuổi, tôi đã tập đồ chữ, tô tranh ở lớp mẫu giáo)! Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà…đau cái đầu!
“Nhận báo mà không gửi bài là một mặc cảm nặng nề cho người cầm bút”, cố nhân 50 năm về trước viết cho tôi. Bởi vậy, hôm nay tôi phải viết quảng viết tiều cho vui, chứ chẳng có ý xúc phạm ai hết. Nếu có, chẳng qua là một tai nạn -đôi khi còn là một tai họa cho người viết! Dẫu sao muốn tráng trứng thì không thể không đập trứng. Chắc chắn thế nào tay tôi cũng dính chất nhờn của trứng. Chưa kể chiên xào, dầu mỡ văng vô mặt tôi, rỗ hoa hoè! Tai nạn nghề nghiệp mà, đồng nghiệp T.!
T. và một số đồng nghiệp thân hữu khác gửi sách tặng tôi. Mới nhận báo mà không gửi bài, tôi đã “mặc cảm nặng nề”. Nhận sách mà không tặng sách lại, chắc mặc cảm sẽ đè tôi lún sâu xuống đất!
Mười lăm năm trước, đồng nghiệp-đồng hương ở Troyes có đốc thúc tôi ra sách; đồng nghiệp-đồng môn-đồng nghề (chủ báo) ở Toronto khuyến khích tôi in “tác phẩm”; đồng nghiệp có cái tên rất tượng hình -Thế Nghiệp- mớm ý tôi nên tập trung cái bài viết in thành một cuốn tạp bút. Mới đây thôi, đồng nghiệp-đồng tình (cố nhân) ở Cali hỏi tôi đã “ra” được bao nhiêu sách rồi(!) Tôi trả lời các bạn, tôi chỉ viết để tiêu khiển, chưa có ý định in ấn. Tới nay, tôi vẫn còn lừng khừng...Có lẽ đến lúc nào đó cũng liều nhắm mắt đưa chân , xâm mình chơi dại, thử in một lần xem sao.
Chỉ mới vài năm gần đây tôi mới sử dụng máy điện toán để viết. Trước đây, tôi toàn viết tay. Đôi khi bản thảo gởi bạn bè đọc không ra vì chữ tôi viết như gà cào! Vả lại tôi không có tài hội họa như T. nên rất ngại phải phiền thiên hạ vẽ phụ bản. Ngoài ra, nghĩ tới cảnh một mình dùng hai ngón tay gõ lại số lớn các bài đã viết tay, tôi hơi rủng chí....
Tiện đây, tôi cũng bật mí cho T. là cuối thu nầy tôi sẽ rời Montréal, tái diễn màn ngao du một vòng các đảo thuộc Châu Đại Dương (Océanie), rà lại mớ hiểu biết sở đắc về thái độ tình dục (comportement sexuel) của các bộ lạc còn sống sót trong tình trạng hoang dã, để sau đó viết “truyện đường rừng” cho khỏi ai lời vô tiếng ra mất lòng nhau vô bổ. Điều nầy, tôi có tâm sự với một đồng nghiệp trẻ ở vùng ngoại ô Paris rất yêu thích lịch sử, khảo cổ học và nhân chủng học. Tôi muốn hư cấu hóa thực tại! Rắc rối nhỉ?
Nghĩ cho cùng, in hay không in, đâu có gì quan trọng lắm! Khổ nổi, lý thì vậy mà tình thì không giản dị vậy được. Đồng nghiệp làm bánh cho mình ăn hoài sao? Lâu lâu cũng phải xăn tay áo nhồi bột chớ! Tuy biết vậy, tôi vẫn chưa dám liều lĩnh phiêu lưu vào “chốn ấy hang hùm…”
**
K
hông rõ T. đã “kinh qua” lần nào chưa, chứ kẻ hèn nầy thỉnh thoảng chứng kiến cảnh tượng đau lòng một vài tạp chí, một vài tác phẩm cẩn trọng gửi biếu các đồng nghiệp thân hữu (mà tác giả đã bỏ nhiều công sức, tiền bạc gọi điện thoại viễn liên yêu cầu điều chỉnh từng câu, từng chữ, từng cái dấu, cái phẩy, cái chấm v.v…) bị con cái của những vị được tặng xé ra xếp làm tầu bay! T. thử nghĩ: Mình thức đêm thức hôm viết ròng rã đôi ba tuần mới xong một truyện (viết tay), sụt cân thấy rõ, người đọc bỏ ra khoảng một tiếng, nếu đọc kỹ. Vậy cũng còn được. Đằng nầy…
Tôi kể T. nghe một chuyện vui: Đang đêm, một em văn nghệ khá dư thừa chất protéine gọi điện thoại hỏi tôi làm các nào thu gọn thân hình đẫy đà cho gọn ghẽ dễ coi. Tập thể dục chăng?
-Sáng tác đi! Tôi trả lời. Bảo đảm kết quả thấy rõ!
Tôi chợt nhớ có lần trả lời khi được phỏng vấn, T. nói nếu được đi lại từ đầu T. sẽ không cầm bút. Quá đúng! Nếu được phép “cố vấn”, tôi sẽ khuyến khích T. cầm kim. Tôi nói thật đấy! Mười sáu năm trước, đồng nghiệp-chủ báo ở Toronto của tôi đã cười ngất khi nghe nói tôi gác bút vì bận cầm… kim! Không phải kim ống chích đâu mà là kim…may quần áo: Còn có ra chi cái chữ Tây, Ông nghè ông cống cũng nằm ngây. Chi bằng ta chạy ô-vờ-lốc (máy vắt sổ), Tối đạp ro ro, sáng vác cày!
Chuyện khó tin nhưng có thật: Cầm viết, chẳng thể nào tôi đủ sở hụi đi thăm bạn bè ngoài Xứ Tuyết. Cầm kim tôi lại thừa phương tiện du ngoạn, nghỉ xả hơi và có cơ hội diện kiến một vài hảo hán cầm bút ở trời Âu!
Trong khi đó, không kể các khoản chi tiêu về cà phê, thuốc lá, rượu, giấy mực, photocopie, bao bì, tem thư, xăng nhớt đi gởi bài và sự “hao hụt tinh thần” không tính nổi vì vợ nhà “cằn nhằn”, 3 tuần quên ăn quên ngủ, sụt ký thấy rõ, xuống sắc, viết cho xong một truyện ngắn -tiêu cha nó 3 tuần nghỉ hè- chưa chắc đồng nghiệp-đồng bệnh-đồng ẩm của tôi ở Paris kiếm đủ tiền đãi tôi một chầu rượu chát! Phần tôi, trong hoàn cảnh tương tự, may ra tôi chỉ chi nổi 6 lon bia cho hai thằng nhâm nhỉ đỡ khát! Văn chương phú lục bạc chục la làng… may ra mới có! T. nghĩ tôi có lý chăng khi nhìn “lãnh tụ” vắt sổ của mình, lòng rạt rào cảm kích, tôi cất tiếng rổn rảng hát “suy tôn”: Toàn dân cầm kim nhớ ơn ô-vờ-lốc! Ô-vờ-lốc! Ô-vờ-lốc muôn năm!
Ôi thôi tôi đã đi quá đà! Ai lại xáo trộn văn chương với kim chỉ? Không khéo các “đồng nghiệp” khác lại kết tội tôi phá hoại văn hóa, âm miêu xách động T. đào ngũ khỏi làng văn! Tôi chỉ muốn nói, nếu chúng ta định kiếm tí tiền còm bằng nghề tay trái để rong chơi thoải mái thì…chớ nên kỳ vọng vào số “thu hoạch” từ văn, thi phẩm. Ngày xưa Nguyễn Bính đã khuyến cáo: Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ. Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con! Ngày nay, có khác gì đâu:
Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong…
***
Ý
định của tôi hôm nay, khi cầm viết là muốn trao đổi với T. một số kỷ niệm (hay kinh nghiệm?) để cùng chia sẻ những “vui buồn nghề nghiệp” mà, theo tôi, nghiệp nhiều hơn nghề, bởi vì, với tôi, cầm bút không thể là một cái nghề.
Ở hải ngoại, tôi cầm bút lại trong một dịp rất tình cờ, do lời rủ rê của đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh (thích rượu đỏ và yêu nữ) ở Paris sang Xứ Tuyết nghỉ hè:
-Nếu có huỡn , anh viết báo chơi cho vui. Viết tiểu luận, nhựt ký, tùy bút gì đó cũng được, đâu có gì quan trọng. Cả thơ nữa, cho vui vậy mà!
Cho tới nay, tôi vẫn thấy đó là câu vận động “ nhập nghiệp” lâu dài hiệu quả nhất. Cho tới nay, khi liên lạc, “kêu réo” các đồng nghiệp-đồng bạn đã có ý mai danh ẩn tích tái xuất giang hồ, hoặc động viên các đồng nghiệp-mầm non văn nghệ đang thối chí tiếp tục cầm bút, tôi vẫn thường lập lại:
-Đâu có gì quan trọng! Cho vui vậy mà!
Tái xuất giang hồ lần đầu, tôi bị một đồng nghiệp-đồng nghề-đồng bạn-đồng môn có chức phận trong làng báo ở Cali “ngâm tôm” một bài viết sau khi “người” đã kêu lên trong điện thoại viễn liên:
-Hay quá toa! Moa đâu ngờ toa viết được quá! Moa tưởng toa chỉ lo philô-phôli thôi!
Một loạt bài gửi tiếp: Im lặng vô tuyến hoàn toàn! Đứa bạn thân đồng nghề khi xưa chắc không tiện coi tôi là đồng nghiệp! Sau nầy, đọc được lời nhận xét thần sầu quỉ khóc của hắn về một đồng nghiệp khác mà hắn rất “chịu” vì đồng nghiệp nầy, theo hắn, đã nắm bắt chữ, tôi càng thêm “hãi”: Với trò chơi cút bắt, săn đuổi để nắm bắt chữ nầy, độc giả làm sao không ngất ngư trước những trang giấy lí nhí vết mực, vì chữ đã bị tác giả nắm bắt đi mất tiêu!
Tuy nghe qua đã bủn rủn tay chân, xây xẩm mặt mày, tôi vẫn lo sợ không biết mình đã lọt vào mê hồn trận chưa, nên vội vã biên thư hỏi ý kiến đồng nghiệp-đồng bệnh ở Paris -người nhứt định không sử dụng máy điện toán để viết văn- yêu cầu đan cử một thí dụ về “truyện sốt ruột” (ngụ ý hỏi bạn: Viết mà không nắm bắt chữ đem đi mất có làm độc giả sốt ruột chăng? “Đồng nghiệp” trả lời:
-Anh thiệt có phước lớn! Té ra cho tới bây giờ anh chưa hề đọc loại truyện (ngắn có dài có) mà giở trang nào cũng sốt ruột cầm canh, chờ hoài coi chuyện gì xảy ra, mà tuyệt nhiên không có, chờ coi có diễn biến tâm lý gì thú vị mà cũng tuyệt nhiên không có, rồi xoay qua chờ đợi nó hết mà tuyệt nhiên nó không chịu hết!
Vậy, tôi có thể tạm an lòng. Mười trang sách để tả một trái cà chua hoặc một cái bìa sách, đôi ba trăm trang nữ công gia chánh (rờ-xết nấu ăn), hoặc rượt đuổi nắm bắt “con” chữ, bỏ lại “ảo tưởng về chiều sâu” (illusion de profondeur) cho người đọc là không có tôi!
Chuyện đồng nghề nhưng không “đồng nghiệp”, tình thân hay tình văn trọng giữa đôi bạn rất thân cùng cầm bút, coi như tạm xếp. Có thể một sáng đẹp trời nào đó hắn sẽ nhớ lại lần tôi kể cho hắn sự rạn nứt tình bạn giữa Sartre và Camus. Sartre viết: “Tình bạn chúng ta không phải dễ, nhưng tôi hối tiếc vì nó.” (Notre amitié n’était pas facile, mais je la regrette). Nhưng T. ơi! Cái nghiệp cầm ca đâu phải dễ dứt vậy. Một đồng nghiệp-đồng nghề khác, trách nhiệm một tạp chí có tầm cỡ ở Cali viết cho tôi: “Viết lách đem lại cho ta nhiều người bạn quí, nhưng cũng gánh theo rất nhiều phiền lụy” Tất cả chỉ do nhiều người không chú tâm viết, mà chỉ chú tâm lợi dụng chữ viết. Mọi chuyện rắc rối từ đó mà ra…”. Đúng thay!
****
T
ôi biết giờ đây T. có “vui gì đâu mà tâm sự”, nhưng “buồn làm chi cho bẽ bàng” hở T.? Tôi mến T. ở chỗ chỉ thích viết về tình yêu, đề tài tuy cổ xưa như trái đất mà viết hoài còn hoài. Tôi chia sẻ điều nầy với T. Dù không đủ tài viết truyện tình lôi cuốn, tôi vẫn thích viết về tình yêu hơn viết về hận thù. Tôi thích nói như Stendhal: “Với tôi, chuyện vĩ đại duy nhất là tình yêu” (Pour moi, la seule grande affaire, c’est l’amour). Có lần đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh ở Paris viết: “Hỡi ôi! Khi in những chuyện móc cổ, móc họng, chặt đầu được mọi người coi là tự nhiên, còn in những chuyện vuốt ve, ôm ấp, sờ mó bị coi là đồi trụy thì thử hỏi thế giới nầy sao lại không thô bạo?”. T. nghĩ sao?
Có lần một đồng nghiệp (đồng nghề) ở Toronto thuật lại đã nói với bạn bè về tôi như sau:
-Quí vị thấy, trong lúc thiên hạ đua nhau viết chánh trị, khí thế đấu tranh bừng bừng thì bạn tôi, tuy khốn đốn về cuộc sống, vẫn lo viết chuyện nhậu nhẹt, ái tình vớ vẩn chăng?”. Một bạn đồng nghiệp (đồng ngũ) khác ở Cali “quạt” tôi:
-Tụi bây (ám chỉ đồng nghiệp-đồng ẩm-đồng bệnh ở Paris và tôi) tối ngày chỉ lo viết chuyện dâm dục!
Chuyện dâm dục(!?) Tôi viết hồi nào vậy “đại ca”? Sao tôi chưa phát tài nhỉ? Viết về Tạ Ký, về một lần toan tính tự tử trong tù CS, về chân dung một linh mục ngọai quốc cứu trợ thuyền nhân VN, về những đứa bạn cùng tù cải tạo, “cà răng” mấy tay chụp mũ chuyên nghiệp hay hí hửng bóp méo sự thật để dành chỗ sẵn khi tình thế biến chuyển -cách đây mười mấy năm ở Xứ Cờ Hoa và mới đây ở Xứ Đại Thử- là…viết chuyện dâm dục sao? Loạn chụp mũ chưa dứt thì họa gắn chưn mày thần Bạch Mi lại lăm le hù nhát một số đồng nghiệp viết về tình yêu có cơ thể! Cho tôi ngứa miệng philo-folie tí ti:
Tôi không những chỉ có một thân xác; tôi còn là thân xác tôi nữa. Nói: “Tôi có một cơ thể” (J’ai un corps) hàm chứa ám ảnh cơ thể đó sẽ phơi bày dưới cái nhìn kẻ khác và mặc nhiên coi thân xác mình đối nghịch với mình. Cấm kỵ từ đó mà ra, để kềm giữ nó, trau chuốt nó thành một hình hài khả dĩ “coi được”, cho người chung quanh dễ dàng chấp nhận nó theo những thỏa thuận ngầm do đời sống xã hội đặt ra. “Địa ngục là kẻ khác!”. Thế đấy! Thế đấy!
Nhưng nhìn nhận: “Tôi là thân xác tôi” (Je suis mon corps), thân xác tôi trở nên thân thiện với tôi hơn. Tôi “làm một” với thân xác tôi. Nhị nguyên tính giả tạo giữa thân xác và linh hồn không còn nữa. Nguyên khối “tôi-thân xác” đảm nhiệm thân phận làm người (condition humaine), một con người vừa là hữu thể nhập thể (être incarné), vừa là hữu thể nhập thế (être-dans-le-monde) -được vị trí hóa và thời gian hóa (situé et daté), nghĩa là có lịch sử tính (historicité) trong dòng lịch sử (histoire) chung của loài người- vừa là hữu thể siêu việt (être transcendant) -tuy đang ở đây và bây giờ (ici et maintenant) vẫn có khả năng vượt trên những ràng buộc của hoàn cảnh (situations) hiện tại bằng dự phóng (projet).
Bởi thế, trong lãnh vực y khoa, ngày nay người ta không còn coi bệnh nhân như thuần là một cơ thể bị bịnh, trái lại cần đặt chứng bịnh đó trong toàn thể nhân cách (personnalité) của người bệnh. Y khoa tâm-cơ thể (médecine psychosomatique) hiện nay là một thực thể không chối cãi được.
Từ đó, tôi nghĩ, thay vì la sảng “địa ngục là kẻ khác”, có lẽ chúng ta nên bình tĩnh nhìn nhận: địa ngục (hay thiên đàng) là...chúng ta đây! (L’enfer ou le paradis, c’est...nous autres!)...
Ôi thôi tôi lại bay bổng nữa rồi. Cho tôi trở lại chuyện trần tục cho đỡ lạc đường. Tôi trả lời hai anh bạn khắt khe của tôi, đại để như sau :
-Các bạn trách tôi sao không “dấn thân” viết chuyện dính líu tới xã hội đương thời, chuyện cải tạo, chuyện vượt biên, chuyện chính trị “có lửa” v.v…Hãy thử nghĩ, nếu ai cũng ngần thứ đề tài đó xào đi nấu lại thì văn học nghệ thuật ở hải ngọai sẽ đơn điệu đến độ đồng nhất, đồng hạng, đồng phục cỡ nào! Ngoài yếu tố sở trường và cảm hứng của từng cây viết, tôi thấy sinh họat văn học nghệ thuật tương tợ như sinh hoạt kịch trường: có đứa thủ vai tướng thì phải có đứa đóng vai quân; có người dàn cảnh thì phải có người chạy đề-co, kéo màn, sụp màn. Hãy thử tưởng tượng, trên sân khấu vua gọi quân bây chẳng ai dạ, triệu tướng tướng chẳng xuất hiện, nạt tướng lui tướng lại đứng chần dần, xuống vọng cổ lại rọi đèn pha, quân lâm trận lại phựt đèn màu, đào thương tự tử rồi mà không chịu ngã xuống chết để sập màn, khi đã chịu chết, màn sụp rồi lại kéo lên cho thấy nàng lui cui đứng dậy lui vào hậu trường thì có phải là “chửi cha” khán giả không? Trong sinh hoạt văn học, độc giả là người thưởng ngoạn, mà phán quyết tuy đến chậm nhưng thường có tính cách chung quyết. Họ dễ dàng nhận ra tay nào “hát” hùng hồn thật, tay nào cố “rống gào” giả, tay nào “xuống” vọng cổ mùi mẫn, tay nào “vô” xàng xê đâm hơi. Bởi vậy, theo tôi nghĩ, biết xuất hiện khi cần, biết rút lui khi đến lúc, kéo hay sụp màn đúng thời điểm là nghệ thuật sống của giới văn nghệ sĩ…
Tôi hỏi hai đứa bạn có nhớ thập niên 50 với hoạt cảnh “cao bồi” mang bảng “đồi trụy” đứng sượng trân trên vĩa hè đường Catinat (Tự Do) cho công chúng xem chăng? Thời đó, phe ta chống “ủy mị”, lên án bản nhạc Dư Âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý; phe địch bài xích “ướt át”, kết án vọng cổ “làm mất nước”’ Thập niên kế, hai bên đều xét lại phán quyết võ đoán của mình. Chẳng lẽ bây giờ ra nước ngoài chúng ta cũng muốn “tiêu chuẩn hóa” sinh họat văn học nghệ thuật theo chiều hướng các ông các bà “lành mạnh” của thập niên 50 lần nữa sao? Rồi tôi kết luận:
-Tôi thà cam chịu mang tiếng là tên giúp vui công cộng (amuseur public) còn hơn bị đồng nghiệp chạy làng như thằng gây phiền toái công cộng (emmerdeur public)!
*****
M
ột đồng nghiệp-đồng nghề-đồng nhiệm sở, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghiệp viết lách đưa ra nhận xét rất xây dựng tôi viết có vẻ làm bản tin quá, thiếu mô tả hoa lá cành, -ít chất tiểu thuyết, các thể loại không rõ nét. Nghĩ mình viết tùy hứng để tiêu khiển, nhứt là để ghi lại một số kỷ niệm tươi đẹp và kinh nghiệm thương đau, vì đầu óc càng lúc càng lú lẩn theo tuổi, tôi không lưu tâm lắm về hình thức viết như “đồng nghiệp” đã thực lòng lưu ý nhắc nhở. Cho tới lúc một loạt bài Tại sao tôi viết? Tôi viết để làm gì? Tôi viết cách nào?Truyện ngắn là gì? v.v…trong số đó có bài nói tới nắm bắt chữ (!!!) làm tôi đâm hoảng về cái ngu dốt vô tư của mình! Bèn viết thư hỏi đồng nghiệp-ẩm-bệnh ở Paris. Thư trả lời như sau:
-Khi thấy anh hỏi về định nghĩa các thể truyện, tôi biết anh đã quá lậm vì văn nghệ. Đọc nhiều sách Tây -trong đó có Sartre- anh đã thừa hiểu (?) các định nghĩa. Nếu cần rõ thêm thì nên hỏi các thầy giáo Việt văn…
Thư tiếp:
-Mà thực sự cần thiết chăng? Có định nghĩa rồi ráng viết theo đúng định nghĩa hay tại cảm hứng muốn viết như vậy thì viết như vậy? Vẽ rắn đâu thể gọi là rồng, vẽ chuột đâu thể gọi là thỏ? Ngược lại cũng vậy, đừng có mặc cảm (…) Có người làm thơ mà đọc như văn mắc nghẹn, lại có người viết văn mà đọc như thơ. Đâu là giới hạn?
Vậy là tôi có thể an tâm viết mà không cần có định đề trước. Cho tới khi tôi bị người em văn nghệ nhiều chất protéine “ngoảnh mặt làm ngơ” vì cho rằng “thần tượng sụp đổ” (!?) với bài “lộn sòng, lộn dĩa” của tôi. Lý do: dâm ô đồi trụy (!?). Một lần nữa, tôi vấn kế đồng nghiệp-ẩm-bệnh ở Paris. Và được trả lời:
-Cứ lấy đề tài từ những kỷ niệm và kinh nghiệm sống của anh: thuở học trò, bạn bè, những vui buồn, những lầm lạc, những chỉnh hướng, tình yêu, tình dục đầu đời, đau khổ, khoái lạc, kẻ khác, lịch sử, biến cố, thời sự, huyền thoại, kiêng cấm, ẩn ức, tâm lý (nghề của chàng…) thêm ít nhiều tưởng tượng, hư cấu…Độc giả không màng sự thật 100% đâu. Miễn đừng làm độc giả sốt ruột là được rồi. Hay dở là tùy cảm quan người đọc, chẳng có gì tuyệt đối. Bút pháp và cách dàn dựng truyện là tài riêng của mỗi người.
Tự nhiên tôi cảm thấy sảng khoái vô cùng đã gặp được một tâm hồn đồng điệu.

Đang lúc lòng tôi rào rạt hứng khởi thì, trong một buổi họp mặt thân mật, một đồng nghiệp-Văn Bút “nghiêm chỉnh” dõng dạc tuyên bố, cốt cho tôi nghe :
-Muốn viết cái gì, cứ viết. Nhưng chúng ta có bổn phận phải viết cho thật hay!
Tôi nghĩ thầm: Tài năng là nhân tố quyết định, nhưng thiện chí trau dồi cũng không phải là yếu tố không đáng kể trong sáng tác. Cố gắng viết cho thật hay, có thể hiểu được. Nhưng từ đó bảo rằng “có bổn phận phải viết cho thật hay” thì…nghe sao có vẻ lệnh lạc từ “trên” ban xuống quá! Hay theo cách “trên” muốn chăng? Nhìn bộ điệu quá “nghiêm trọng” của đồng nghiệp nầy, tôi chợt nhớ câu chém ngọt của Sartre: “Thượng đế không phải là nghệ sĩ. Ông Mauriac cũng chẳng phải!” (Dieu n’est pas artiste. Monsieur Mauriac non plus!).
******
L
ần nọ,một đồng nghiệp-chủ báo nói với đồng nghiệp-chủ báo khác và tôi :
-Nơi mọi người VN đều có một ông chủ báo !
Câu nói thâm sâu, dày dặn kinh nghiệm. Nhưng tôi không hiểu thấu, nên nghĩ thầm: “Chủ báo hay báo chủ?”và nói:
-Theo tôi, nếu nói nơi mọi người VN đều có một quản giáo, có lẽ sát thực tế hơn.
Cả ba đều cười, mỗi người nghĩ một cách riêng về hai chữ chủ báo và quản giáo.
Đồng nghiệp-chủ báo thứ hai vỗ vai tôi, nói nhỏ:
-Toa “kê” thằng X. chi vậy? Chỗ bạn bè cả mà! Nó viết gì, thây kệ nó. Toa phải tỏ ra philosophe chút chứ!
Tôi cười xuề xòa gật gù, nghĩ trong bụng: “ Tỏ ra philosophe là để yên cho nó nói bậy, bóp méo lịch sử chăng?”. Mà thôi, tôi dứt thắc mắc: cũng là phù phiếm luận cả!
Trên đường về, tôi nhớ lại bài Nói chuyện với chủ báo của “đồng nghiệp”-đồng ngủ ở Salem đề cập tới những “chức vụ” béo bở, ăn trên ngồi trốc, như Chủ nhiệm, Chủ bút, Tổng thư ký Tòa soạn v.v…mà thấm thía vô cùng, bật cười khan. Vâng, tróc da đầu, sần mình thì có! Không tin giở mũ ra coi, Lác khô ở dưới tóc còi ở trên. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!
T. biết không, tôi mừng hết lớn khi đọc nhận xét của một đồng nghiệp-đồng hương ở Troyes về T. rằng T “không có tham vọng làm mới chữ nghĩa”. May thay! Nếu không, chắc tôi phải tốn hao rất nhiều cho khoản điện thoại viễn liên hỏi T. mỗi khi có điều chi tôi không thấu đáo về vụ “làm mới” nầy!
Nếu làm mới chữ nghĩa bằng cách “chém” câu thơ với một chuỗi cú Xì-Lát /Xì-Lát/Xì-Lát (Slash) hay thay đổi vị trí một cái chấm, một cái phẩy, chắc tôi dư sức qua cầu. Hoặc viết ba bốn chữ dính xà nẹo (kiểu: Kế-thừa và fáthuy truiềnthống…tủinhục với nghèođói và zốtnát...), viết suốt một bài không cần phẩy, chấm, xuống hàng chi cả, chắc tôi cũng không thiếu khả năng. Hay “chế kiểu” như Kách mệnh (khẩn trương, sự cố, fản ánh, giản đơn, hồ hởi, con chữ, ùn tắt, hoành tráng…) chắc cũng không khó lắm. Kể cả chuyện đảo lộn vị trí thông thường của các chữ thông dụng, kiểu: xa xót, thầm thì, mốt mai, v.v…cũng chẳng có chi bí hiểm lắm. Nhưng “làm mới chữ nghĩa” kiểu: chỉ có mình ta nắm bắt được, thảy qua thảy lại trên tay chơi một mình thì…tôi đầu hàng!

*******
T.
thân mến,
Ngay từ khởi điểm, tôi đã sợ lạc đường. Rốt cuộc cũng lạc lối! Mới biết ý thức là một lẽ, giác ngộ là một lẽ khác. Tôi cảm thấy đã lạm dụng câu chuyện nản lòng của T. với một số đồng nghiệp để trút bỏ những ê chề năm xưa của riêng tôi với bạn thân và bạn văn. T. hiểu cho tôi hiện nay đầu óc vẫn còn lơ lửng vì mấy cái truyện cứ lởn vởn trong đầu mà cái tay vẫn xuôi xị! Làm sao ra khỏi cái nghiệp nầy, hỡi “đồng nghiệp” T.? Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa…
Đành rằng, như T, tâm sự: “Cũng nhờ chút đụng chạm nầy T. mới biết ra văn nhân, thi sĩ cũng có nhiều người háo danh. Họ làm đủ mọi chuyện để nổi. Thôi thì mình làm đủ mọi chuyện để được chìm vậy!” Thế nhưng, người đã yêu cầu: thân tôi cứ đóng nghìn đinh nhọn, xin chừa một chỗ trái tim tôi, liệu có thể điềm nhiên tọa thị “thiền” được chăng khi trái tim chưa bị đóng đinh?
Tôi đồng ý T. “lặng lẽ rời mép chiếu văn chương”. Tôi thì đã rời lâu rồi, nghe theo lời tâm tình của “đồng nghiệp” ở Florida (rằng trên chiếu văn chương):
-Nếu nạn khiêu vũ trên những quả trứng vẫn tiếp tục, chắc chắn mình sẽ tìm nơi khác rong chơi…
Và theo lời “đồng nghiệp” ở Paris:
-Anh thấy làm văn nghệ ở xứ người là một màn xê-xê-xê-đê (c.c.c.đ.), lại thêm lắm nỗi bửc mình, nếu có yêu văn nghệ thì hãy đứng xa xa mà ngó, nhào vô sẽ vỡ mộng…
Mình cứ để chiếu văn chương hực nóng bay lướt như thảm bay chở quí tiên ông tiên bà “đồng nghiệp” hả hê hóng gió, ngất ngưởng thù tạc đi T.! Chúng ta tìm một quán cóc lắt lay hay thảm cỏ xanh mượt tươi mát nhâm nhi cốc rượu họp bạn -nếu T. không thuộc nhóm mấy tay “trà đá chanh đường”- coi bộ thoải mái, thú vị hơn nhiều, đỡ đau đầu với “những vấn đề nhớn”, đỡ mỏi miệng vì phải nhe răng cười hoài…
Nhưng tôi không đồng ý T. “từ biệt văn chương mà không dám vẫy tay chào”. Văn chương có tội tình chi mà mình phải “phụ rẫy văn chương”. Mình có thể “thù người phản bạn, hận kẻ bạc tình”, nhưng ai lại nỡ hận thù Tình Yêu? Mình có thể lợm giọng vì ông cố đạo nham nhở, nôn mửa vì một ông thầy chùa sàm sỡ, nhưng ai lại nỡ chà đạp Niềm Tin? Cũng vậy, mình có thể buồn một văn, thi hữu, nản một thân hữu hay một ông chủ báo, một ông chủ nhà xuất bản, chứ sao lại nỡ ruồng rẫy Nàng Văn Chương?
Một đồng nghiệp-báo ở Cali đã viết cho tôi: “Gần như từ lâu, từ 1963 ở Sàigòn, khi báo chí thuộc thế hệ trẻ do Chu Tử dẫn đầu mang không khí Lương Sơn Bạc vào làng báo, người cầm bút Việt Nam dường như không còn thắc mắc là những điều mình viết ra có được nhã không, có được đúng không, có làm phiền lụy tới người khác không?...” Bây giờ cái không khí đó đâu đã tuyệt dứt, T. đừng lấy đó làm phiền. Vả lại “đồng nghiệp” nầy nhìn nhận -nhiều “đồng nghiệp” khác và tôi cũng cùng một nhận xét- vẫn còn có những “đồng nghiệp” xông vào “làng” vẫn còn giữ nguyên lòng trong sáng về chữ nghĩa, chưa trở thành người “cynique”(khuyển nho?), những người hồn nhiên, lãng mạn còn sót lại của một thế hệ “cynique”…

Một cố đồng nghiệp-đồng nghề-đồng bạn-đồng nhiệm sở ở Montréal nhận định:
-Tôi thấy hình như ít ai, nếu không muốn nói là không có ai, khi đã yêu, đã mê “nghiệp” cầm bút rồi lại có ý nghĩ bỏ “nghề”, lại càng không có chuyện đòi hưu non hay hưu già. Họ chỉ ngưng viết khi không còn có thể viết được, mất trí nhớ hay tim ngừng đập.
Một nghìn năm một vạn năm
Con tằm cũng kiếp con tằm nhả tơ

Cuối thư, tôi không còn gì nói thêm, ngoài việc nhìn nhận chính bài viết của T. mà tôi sẽ mang theo trong chuyến rong chơi các hoang đảo sắp tới đã gây hứng khởi cho tôi cầm bút lại. Lần nầy tôi viết trong tâm trạng tương tợ như tâm trạng T. khi viết bài đó. Và tôi mạn phép dùng câu kết luận của T. để kết thúc bài viết hôm nay như chính tay tôi viết:
“Lần đầu tiên tôi muốn viết với tất cả sự bồng bột trong lòng, với những điều mình nghĩ, không cần phải trau chuốc, đắn đo. Từ trước tới nay, tôi chỉ thích viết khi tâm tình mình đã lắng xuống, khi sự bồng bột đã đi qua. Lần nầy thì khác, tôi phải ghi lại những cảm nghĩ nguyên thủy của mình để sau nầy nếu mất đi người bạn (chỉ một lần gặp gỡ trên Xứ Anh Đào hoa mộng xa xưa), tôi vẫn còn chứng cớ rằng tôi đã nghĩ đến bạn bằng tấm lòng chân thật ngay ở buổi đầu...”
Thương mến,

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ tuyết, Mùa đông 2009
-Lê Tấn Lộc-