Wednesday, September 1, 2010

VỀ TỪ MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH

Về từ một chuyến hải hành…“Quá ồn ào vì chuyện không đâu!”
(Beaucoup de bruit pour rien!)
Cha ơi!”…
Tiếng kêu khẽ trong đêm trừ tịch không khuấy động nổi sự im ắng cố hữu của căn nhà ngoại ô, một thuở nhiệt tình tiếp đón anh chị em thân thương đã quây quần bên nhau, trìu mến tặng nhau từng nụ cười ròn tan, như từng nụ-hồng-yêu-đương-cho-không-biếu-không nhất tề rộ nở…
Nói một thuở, vì con linh nghiệm những nụ hồng ấy hình như ngày càng héo hắt do những “đặt điều” so đo hơn thua, bắt bẻ, hoạnh họe, cố chấp, áp đảo… bắt nguồn từ khuynh hướng bất khả chế “lắm chuyện” của vài “bậc” tự cho là “mẫu nghi thiên hạ”,Bảo hoàng hơn Vua”, “Thánh thiện hơn Các Thánh”, “Công giáo hơn Đức Giáo Hoàng”, làm ô nhiểm không khí trong lành, khắn khít bên nhau như anh em một nhà! Những ốc đảo “duy ngã” lợn cợn nầy, tuy đơn lẻ, nhưng thừa khả năng kết nạp khá thành công những ai vốn ưa thích nghe chuyện bàn qua tán lại, thêm mắm thêm muối cho những mẩu chuyện “hư cấu” thêm phần hấp dẫn, ly kỳ -chiêu thức nhuần nhuyễn của những chuyên viên “rỉ tai”- ngấm ngầm gây mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ (đôi khi dẫn tới đấu khẩu kịch liệt)!

Những “ồn ào” như ruồi nhặng vo ve làm đinh tai điếc óc con sau chuyến hải hành với một số anh chị em thân thương cùng chung lý tưởng tu đức, chuyến hải hành tiếng là du ngoạn nhưng diễn ra trong nhóm nhỏ chúng con như một chuyến vượt biên “bỏ túi” nhiều tai biến!Những “ồn ào” khua động nầy diễn ra ở thời điểm sắp tới kỳ hạn tĩnh tâm thường niên, lại rơi đúng vào lúc sắp bầu lại Ban Phục Vụ-Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế! Mà thường thì ở thời điểm nầy con dễ bị xáo trộn nội tâm vì những xét lại lập trường trong dòng đạo và dòng đời, về hướng đi sắp tới của mình trong tương quan với tha nhân, sao cho bác ái luôn đi đôi với công bằng, tình không hề bỏ rơi lý!Lần nầy trầm trọng hơn gấp bội hai lần con “choáng váng” khi khấn hứa! Vì con cảm thấy tín lý bị lung lạc. Con bị khủng hoảng Niềm Tin về các chuyện không xuôi chèo mát mái giữa những bậc chăn dắt giáo dân, trong và ngoài nước…Nhưng đây là chuyện trọng đại, ngoài tầm tay và tầm hiểu biết của con, nên chúng không gây tác hại trầm trọng lắm trên con. Trái lại, những nghịch lý giữa các tín điều con học được (như khiêm nhường, hiền hòa, nghèo khó, yêu thương…) với những biểu lộ cụ thể mà con thường xuyên chứng kiến từ các bậc tự coi là mẫu nghi thiên hạ (như tự cao tự đại, kênh kiệu, bới móc, chỉ trích, gây hấn…) càng lúc càng làm con…chóng vánh!
Niềm đau đớn nhất với con là nhận ra anh chị em trong đại gia đình KHÔNG HOÀN TOÀN THẬT LÒNG đối xử với nhau! Không thật lòng thì…Đức Ái chỉ là chót lưỡi đầu môi, một bóng mờ chặp chờn làm bình phong che khuất những tị hiềm nhỏ nhoi, đặc điểm của lối sống theo hướng phe nhóm, “bộ lạc” (clan)!*
* *
T
rước khi rời Mộng Lệ An lên tàu du ngoạn, con đã mang tâm trạng chán chường, hụt hẫng, trong đầu manh nha ý định rời hẵn Canada sang Âu Châu tổ chức lại cuộc sống ở buổi hoàng hôn của cuộc đời.
Không giấu gì Cha, con rất dị ứng với những ai tự cho là “đạo đức toàn hảo”. Càng lúc con càng nhận thấy thái độ tự phong cho mình tước hiệu “mẫu nghi thiên hạ” là loại bệnh hoang tưởng rất dễ lây! Và con khởi đầu đặt nghi vấn nơi chốn lâu nay con nương náo có còn là chỗ dung thân cho những ai nghĩ rằng phận mình là “hèn mọn”, “mõng dòn”, với tâm nguyện hoán cải, “ăn năn đền tội”… chăng?

Nhưng rồi xảy ra tai nạn một chị trong nhóm con trượt té trên tàu, gẫy cổ tay! Chị là người lớn tuổi nhất và đi một mình. Một chị trẻ tuổi nhất -khuôn mặt rất quen thuộc trong đại gia đình Phan Sinh- bỏ tất cả cuộc vui trên tàu, tự nguyện đứng ra lo cho người lâm nạn…Và kỳ diệu thay! Những ý tưởng chán chường, tiêu cực về Huynh Đệ Đoàn mà con mang theo lên tàu vụt tan biến! Như chị Phan Sinh trẻ tuổi xung phong cứu nạn, anh Phan Sinh bức xa tuổi thất thập như con đây cũng cấp tốc xông vào nhập cuộc trợ giúp chị Phan Sinh ngộ nạn của chúng con!
Suốt thời gian trên tàu, người chị bị tai nạn luôn được anh chị em trong nhóm -kể cả những chị bị say sóng, bị rối loạn đường tiêu hóa hành hạ, đi đứng không vững- thường xuyên lui tới thăm nom, chăm sóc, phục dịch…
Ai ngờ, nhờ tai họa nầy, con nhận ra đôi lúc mình hấp tấp nhận định sai lầm về anh chị em. Trước khi xảy ra tai nạn, con không một chút thiện cảm với người thọ nạn! Những ngày tay gẫy quàng treo trên cổ, người chị nầy không một tiếng rên than, lúc nào cũng tươi cười, trấn an nhóm “chị không sao, không đau” -ai đã “kinh qua” gẫy xương, ắt biết rõ nó đau nhức thể nào!- luôn khuyến khích nhóm cứ tự nhiên vui chơi, đừng quá bận tâm về chị. Lòng quả cảm của chị là một bài học cho nhóm biết đặt tiện ích tập thể trên lợi ích cá nhân. Tuy vậy, con vẫn tinh ý nhận ra chưa hẳn đa số trong nhóm đã thấm nhuần nguyên lý sơ đẳng nầy!
Tháp tùng nhóm chúng con, có hai cặp vợ chồng khác tín ngưỡng. Họ nhiệt thành bày tỏ lòng cảm phục người bị tai nạn và tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau của anh chị em Phan Sinh khi gặp khó khăn!
Riêng con, con nhận định cách ứng xử của con với anh chị em phần nào cũng do đã thấm nhuần các giá trị tích tụ từ những buổi linh đạo Phan Sinh. Một số kỷ niệm thân thương suốt thời gian sinh hoạt huấn đức, tĩnh tâm sống lại mạnh mẽ trong tâm khảm con…Chắc con chưa đến độ hoàn toàn tuyệt vọng hội nhập với anh chị em…
-0-0-0-
L
úc trở lại đất liền, người thọ nạn cứ luôn miệng cảm ơn nhóm. Con đề nghị mọi người ngồi lại với nhau, cho con có dịp ngỏ lời:
-Đề nghị anh chị em chúng ta đọc các kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh để tạ ơn Chúa quan phòng cho chúng ta an lành trở về sau chuyến hải hành với vài chuyện bất trắc.
Chuyến đi nầy chúng ta được dịp gần gũi nhau nhiều hơn, nhận biết điểm yếu, điểm mạnh của nhau. Cá nhân tôi thấy rõ mình thiếu sót rất nhiều trong giao tiếp với các chị em. Lẽ ra tôi phải tích cực lo chu đáo hơn nữa cho nhóm vì tôi là người nam duy nhất. Đằng nầy tôi lại để lộ cái tính khó chịu, hay càu nhàu khi các chị nhờ tôi giúp vài việc linh tinh…Mong các chị niệm tình tha thứ, bỏ qua cho!
Riêng người chị bị tai nạn, xin đừng cảm ơn chúng tôi. Chính chúng tôi phải cảm ơn chị. Nhờ chị té ngã mà chúng tôi mới được cơ hội thuận lợi xét nghiệm mình có còn xứng đáng là người Phan Sinh Tại Thế chăng? Tôi nghĩ chị nên Tạ Ơn Chúa hơn. Và mọi người trong nhóm cũng nên dâng lên lời sốt mến Ca ngợi và Đền Tạ Ơn Người …
-0-0-0-
Cha ơi!
Trên đây là những lời bộc bạch tự đáy lòng con sau chuyến hải hành khá gian truân, cơ hội quá tốt cho con “phản tỉnh”, dọn mình tìm đường quay về tổ ấm với anh chị em. Nhưng rồi con lại chùn chân trước những “ồn ào”, khua chiêng giống trống gây tranh cãi gay gắt sau chuyến hành hương-du ngoạn vui vẻ trên vùng đất thơ mộng, rừng núi chập chùng, sông nước mênh mông, biển hồ lênh láng... “Thanh tịnh nhăn nhó” (sénérité crispée) va chạm nảy lửa với “Thanh tịnh tươi cười” (sérérité souriante). Chuyện tiếng bấc tiếng chì nầy khiến con đau lòng nhớ lại trích đoạn trong bài viết nhân lần họp mặt thân mật đầu năm 2007 tại căn nhà ngoại ô Thôn Trang Rêu-Phong của con:
“Có lẽ chúng ta phần nào nên bớt khắt khe quá độ để bao dung nhận ra chúng mình là Phan Sinh, nhưng là…Phan Sinh Tại thế chăng? Chúng mình vẫn ước muốn Nên Thánh nhưng…muốn nên thánh rầu rĩ, cáu có hay muốn nên thánh tươi vui, thư giản đây?”(Một bông hồng cho nhau, LTL, NSGĐPS, số 39, ngày 04 tháng 02 năm 2007).
Lần va chạm quá náo nhiệt nầy khiến con rủn chí, vì các bậc mẫu nghi đã trịch thượng phê phán hàng giáo sĩ!

Bao lần con toan tính lẵng lặng “tháo lui” khỏi tổ ấm, nhưng rồi cuối cùng con vẫn còn ở lại với anh chị em tới ngày hôm nay. Nhưng lần nầy xáo trộn nội tâm của con cực kỳ nghiêm trọng: Trước đây, buổi đầu tiên con đến với anh chị em, con rụt rè, lấp ló ngoài cửa vì khớp vía nhận diện hàng hàng lớp lớp “thánh nhân” đang tu luyện trong tổ ấm. Giờ đây con rụng rời đứng trước lối vào đã được các bậc mẫu nghi thiên hạ dàn hàng ngang làm rào cản, canh gác nghiêm ngặt , “nhỏ bé thôi” như con không dễ gì bước qua!
Trên biển cả con hứng khởi bao nhiêu thì vào đất liền con nản lòng bấy nhiêu, chạnh nhớ lời một dòng viên, mà con kiến như “sư phụ”, thường căn dặn:
-Anh chớ có lý tưởng quá, sẽ có ngày thất vọng ê chề!*
* *
R
a khơi, cặp bến đều không giúp con đạt tiêu chuẩn “có thể hội nhập”. Chỉ còn nước “lên non tìm động hoa vàng ngủ say”, ra sức luyện công cho bằng được ba điều: KHÔNG NGHE, KHÔNG THẤY, KHÔNG NÓI, để “nhỏ bé thôi” có thể giả dại qua ải chui qua rào cản kiểm lưu của các đấng “khổng lồ” mẫu- nghi-thiên-hạ-thánh-thiện-cáu-có!
Cha ơi!
Con nhớm bước đi nhưng chưa nỡ rời, bởi lẽ những anh chị em tuy không cùng huyết thống đã lập nên một gia đình thứ hai cho con có nơi dừng chân trước khi lên đường VỀ NHÀ CHA…
Con vẫn còn nắm nuối, vẫn còn hy vọng ý chí hoán cải sẽ thắng thế trong đại gia đình Phan Sinh để cuối cùng TÌNH YÊU thắng lướt những hục hặc, tranh chấp vô bổ, cho TÌNH HUYNH ĐỆ PHỔ QUÁT mãi mãi là keo sơn gắn bó anh chị em chúng con…
Đây chỉ là ước vọng nồng nhiệt lâu nay của con, một dòng viên Phan Sinh còn quá xa “tiêu chuẩn” tối thiểu để được các bậc mẫu nghi vĩ đại nhìn nhận có khả năng “đồng hành” trên đường tu đức. Nhỏ-bé-thôi con đây nào dám “hoang tưởng” ôm tham vọng lạc thực “ta” dư sức làm công việc “đội đá vá trời” nầy! Con chỉ còn biết rốt lòng nguyện cầu và…phó thác thôi!

Cha ơi!
Con vẫn biết “Ồn ào ít khi làm nên điều tốt, việc thiện ít khi gây tiếng động” (Saint-François de Sales)…Nên rất khổ tâm! Biết đâu những bộc bạch cuồng nhiệt tuôn trào trên đây của con chẳng qua cũng chỉ là…quá ồn ào vì chuyện không đâu?!
Thạch động Rêu-Phong, cuối hạ 2010
“nhỏ-bé-thôi” LTL

Thursday, April 22, 2010

ĐỆ NHẤT PHU NHÂN...KHÔNG NGAI!

Chạnh nghĩ về một
“Đệ Nhất Phu Nhân”… không ngai!



===================================================================


*Lời mở đầu*Ý định của tác giả khi quyết định viết bài nầy là chợt nhớ những gì Bà Ngô Đình Nhu đã tuyên bố vào đầu thập niên 60, với ước muốn cùng quí bạn đọc suy nghĩ xem có phải là những lời tiên đoán quá đúng về những gì xảy ra trên đất nước triền miên đau thương của chúng ta, sau ngày binh biến 1.11.1963, tất yếu dẫn tới thảm họa 30 tháng Tư 1975 cho cả dân tộc:-"Thầy chùa nướng BBQ" và... Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu tại miền Trung do Thượng tọa Thích Trí Quang chủ xướng sau đó...-"Các sĩ quan Mỹ là những tay phiêu lưu (aventuriers)" và..."Khi đồng minh tháo chạy", bỏ rơi VNCH cho CSBV "làm thịt" sau đó…
Ngoài ra, tưởng cũng cần suy nghĩ thêm về sự tranh đấu của Bà chống ly dị, chống tệ trạng 5 thê 7 thiếp để bảo vệ gia đình và để bình quyền nam nữ. Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, trước đây bị đả kích, bôi bác, xuyên tạc nặng nề. Các phụ nữ VN hải ngoại cũng như trong nước giờ đây tưởng cũng nên điều chỉnh lại cái nhìn về vấn đề nầy: Bà Trần Thị Lệ Xuân phải chăng đã đi bước tiên phong tại VN so với Phong Trào Bảo Vệ Phụ Nữ (Féminisme) phát triễn rộng khắp thế giới ngày nay? -LTL-


===================================================================



Tháng 4 năm 1961, trăm hoa xuân đua nở khoe sắc thắm, kết thành áo choàng ngoài muôn màu bao phủ những bức tường xám xịt, ám khói đen của Viện Pháp-Việt (InstitutFranco-Vietnamien), nằm trong quartier latin de Paris:
Là nơi trú ngụ của nhóm 16 sinh viên VN trong đợt đầu được chính phủ VNCH chấp thuận cho xuất ngoại du học ngày 26 tháng 10 năm 1960 (Nghị định số 988-TTP/KH ngày 8 tháng 10 năm 1960 của Phủ Tổng Thống) -gồm 10 nam nữ sinh viên các ban Triết học, Pháp văn, Sử địa, năm thứ 3 Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và Đà Lạt, 1 nữ sinh viên sang làm luận án Tiến sĩ, cùng 5 nam nữ sinh viên theo học các trường đào tạo kỹ sư hóa học, cơ khí, thủy điện, công kỹ nghệ, với học bổng do chính phủ Pháp cấp sau một thời gian khá dài hai nước gián đoạn “giao lưu văn hóa”, hậu quả của không khí ngoại giao nguội lạnh từ khi Tây bị Mỹ hất cẳng khỏi VN- ngôi nhà hai tầng với sous-sol, tọa lạc số 269 rue Saint-Jacques nầy (góc Feuillantines, gần Hôpital du Val-de-Grâce, sát vách Schola Cantorum, trường dạy khiêu vũ Ballet, cách Trường Sorbonne, cùng đường, không xa lắm) đang sửa soạn tiếp đón các vị thượng khách từ VN sang thăm viếng. Nhóm anh chị em sinh viên chúng tôi chỉ được thông báo về vụ tiếp tân nầy vào giờ chót, nên phải tất bật bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các thứ. Tôi được giao phó phụ trách phần âm thanh cho khách “đàm đạo” với sinh viên và cho buổi dạ vũ sau đó, cũng như trang hoàng hoa đăng cho buổi dạ tiệc -rất đơn sơ, với thức ăn nhẹ- trong khuôn viên tuy nhỏ bé nhưng rất xinh xắn,
ấm cúng, phía sau Institut…
(Người viết và Martha, bạn đồng môn-Paris, Xuân 1961)-o-o-o-
G.S. Giám đốc Viện Gustave Meillon và phu nhân -cả hai đều nói tiếng Việt lưu loát, ông giọng miền Bắc, bà, giọng miền Nam- cùng cô con gái và Ban Điều Hành Institut nghênh đón, hướng dẫn phái đoàn khách quí về hướng khuôn viên lộ thiên. Tháp tùng Ông Cố vấn và Bà Ngô Đình Nhu -nhủ danh Trần Thị Lệ Xuân- cùng ái nữ Ngô Đình Lệ Thủy -17 tuổi, đẹp nhu mì- có Ông Đại sứ và Bà Phạm Khắc Hy cùng cô con gái cưng tên Uyên, trang lứa với Lệ Thủy, cũng khá đẹp, nhưng cung cách hầu như không còn chút Á Đông nào hết.
Kinh nghiệm đương đầu với đám sinh viên VN thân cộng thường lỡn vỡn trước phạn điếm đại học (restaurant universitaire “Maison des Mines”), đối diện Institut -nơi anh chị em sinh viên chúng tôi đến dùng bữa trưa và cơm tối sau giờ học- để gây sự, đôi khi đưa tới xô xát, tôi linh cảm thế nào chúng cũng tìm cách trà trộn vào buổi tiếp tân để phá thối…Quả nhiên!

Đoán biết chúng sẽ bị nhận diện ngay, nếu chúng mưu toan len lỏi vào Institut -bởi chúng thường chận đường nhét truyền đơn chống VNCH vào tay chúng tôi trước cửa quán ăn sinh viên; và nếu chúng tôi vứt bỏ không cần xem là bị chúng áp lại hành hung tức khắc- chúng bèn đổi chiến thuật: đưa các cảm tình viên loại “gộc” của CSBV, bên ngoài trông rất đạo mạo, “trí thức”, ăn mặc rất “chic”, nói năng chững chạc, hòa nhã…vào tham dự buổi tiếp tân!
Chính tôi cũng không rõ những tay nầy thiên tả “có bằng cấp”; không chừng dám là cán bộ CS chính hiệu con nai vàng nữa đấy! Trông họ rất đứng đắn, sang trọng, tiền bạc rủng rỉnh, tiêu xài rất “mát tay”. Họ thường lân la tìm cách giúp đỡ những sinh viên VN bị tạm cúp sổ chuyển ngân vì ngã theo CS tuyên truyền chống VNCH và hăng hái tham dự các sinh hoạt văn nghệ hay du ngoạn do các bộ phận CSBV trá hình tổ chức, nhằm thu phục cảm tình đám sinh viên nhẹ dạ rời xa quê hương khá lâu, không am tường hiện tình đất nước, với hậu ý khuyến dụ đám “nai tơ” nầy trở về miền Bắc phục vụ sau khi thành tài -những con nai tơ đã được miền Nam VN ưu đãi tài trợ cho xuất ngoại tiếp tục dồi mài kinh sử. Thế đấy: một lũ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” mà vẫn hiu hiu tự đắc mình “cao siêu” hơn bọn sinh viên theo “Diệm-Mỹ”!
Các đợt sinh viên kế tiếp do VNCH cho xuất ngoại hưởng học bổng của chính phủ Pháp nâng cao nhân số cư trú tại Institut, khiến chúng tôi cảm thấy đỡ lẻ loi trước sự hung hãn của bọn sinh viên theo VC luôn chờn vờn trước Maison des Mines: Những bậc đàn anh, như BS Nguyễn Phước Đại, GS Trần Văn Tấn, GS Hồ Thới San, v.v… trước đây đã từng du học tại Pháp, Bỉ… sang đây chuẩn bị tiến thêm về học vị quả thực có giúp chúng tôi thấu đáo hơn các mưu chước quỹ quyệt của CSBV nhắm vào giới sinh viên VN mới chân ướt chân ráo tới kinh đô ánh sáng.
Dĩ nhiên , các giới chức trách nhiệm an ninh cho “thượng khách” biết trước sẽ có “địch thủ” thâm nhập, nhưng vì nơi đây là xứ tự do, không lý do gì ngăn cản họ tới tham dự cuộc tiếp tân dành cho giới chức cao cấp của VNCH, một chính thể…tự do! Chúng tôi chỉ còn biết hy vọng ông cố vấn Ngô Đình Nhu đủ bản lĩnh và thao lược đương đầu với các phần tử tập tành trung kiên với chế độ độc tài đảng trị Bắc Bộ Phủ!
May mắn thay, lòng tin tưởng vào khả năng đối đáp của vị Cố vấn Tổng Thống VNCH trước những câu hỏi hốc búa của hai sinh viên “yêu nước” -yêu XHCN!- trong khuôn viên Institut được đền bù xứng đáng:
-Thưa ông Cố vấn, sinh viên yêu nước thứ nhứt hỏi. Xin ông vui lòng xác nhận hay phủ nhận chuyện ông cho chuyển ngân bất hợp pháp hai tỷ đô-la sang một ngân hàng ở Thụy Sĩ. Có phải ông định dùng số tiền nầy kinh tài để củng cố chế độ “gia đình trị” do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ xướng chăng?Có tiếng vỗ tay lét đét từ phía “cò mồi” do các phần tử “yêu nước” gài.
Ông Cố vấn chờ tiếng vỗ tay chấm dứt, điềm tĩnh trả lời:
-Có! Chúng tôi có một ngân khoản ở Thụy Sĩ. Nhiều hơn con số anh đưa ra. Tôi không tiết lộ con số chính xác vì nó liên quan tới An Ninh Quốc Phòng. Đó là một ngân quỹ bí mật. Muốn sử dụng phải hội đủ 5 nhóm mật mã của 5 vị trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mà tôi là một thành viên. Có lẽ anh ở ngoại quốc quá lâu, nên không theo dõi hiện trạng đất nước. Người Mỹ đang áp lực chúng tôi theo đường lối chính trị của họ. Chúng tôi không muốn hoàn toàn lệ thuộc vào họ, đánh mất chủ quyền quốc gia. Nên quỹ bí mật nầy nhằm đảm bảo sự độc lập của chúng tôi trong việc điều hành quốc sự…Hy vọng tôi đã trả lời thỏa đáng điều anh thắc mắc…Cử tọa không vỗ tay rầm rộ, nhưng gật gù tán thưởng. Sinh viên “yêu nước” bẽn lẽn rời khuôn viên Institut.
-Thưa ông Cố vấn, sinh viên “yêu nước” thứ hai sừng sõ “chất vấn” tiếp. Ông vẫn chưa trả lời dứt khoát Tổng Thống Ngô Đình Diệm có áp dụng chế độ “gia đình trị” tại miền Nam không?Lại có tiếng vỗ tay lét đét!
-Như ông bạn anh vừa hỏi tôi, tôi nghĩ rằng anh cũng đã xa quê hương rất lâu. Tôi xin tóm lược hiện tình đất nước từ ngày Ngô Tổng Thống về chấp chánh đến nay, để đặt câu hỏi ngược lại với anh:
Giả thử anh là Thủ tướng Ngô Đình Diệm, về nước năm 1954 khi thực dân Pháp còn tiếp tục khuyến khích các phần tử thân Pháp lật đổ chính quyền, cũng như yểm trợ, xúi giục các giáo phái có thành tích bất hảo như thổ phỉ đánh phá quân đội quốc gia, trước cảnh dầu sôi lửa bỏng do các phần tử đối nghịch tạo nên, rắp tâm tiêu diệt anh, nếu phải chọn cộng sự viên sẵn sàng chết sống có nhau vì đại cuộc, giữa hai người đồng tài, đồng sức, đồng chí hướng, một bên không là thân bằng quyến thuộc, một bên là cật ruột, anh có cảm thấy gần như không cách chi anh không hành sử như Tổng Thống Ngô Đình Diệm chăng?
Sinh viên “yêu nước” thứ hai âm thầm lủi mất.
Mọi người lần lượt rời khuôn viên bước vào hội trường tham dự dạ vũ...
**
Ô
ng Tuyên, tùy viên văn hóa (attaché culturel) Tòa Đại Sứ VNCH có lẽ là người duy nhứt trong cơ cấu đại diện quốc gia được anh chị em sinh viên chúng tôi quý mến. Ông rất cởi mở, chia sẻ và cảm thông những khó khăn của sinh viên du học, giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của họ nơi xứ người. Nhờ vậy chuyện mất thiện cảm của kiều bào trước thái độ ít nhiều lãnh đạm, nếu không muốn nói là kiêu căng, hách dịch của các viên chức ngoại giao tại tòa đại sứ giảm sút thấy rõ từ lúc ông nhận trách nhiệm. Cũng nhờ ông chăm chú cải thiện việc tiếp đón thực khách mà số sinh viên lâu nay thường la cà ở tiệm ăn khu Maubert của CSBV dần dà trở lại quán cơm Việt Nam đường Monge của VNCH!
Nhưng trong buổi tiếp tân nầy, trông ông có vẻ bối rối ra mặt trước phản ứng bất bình của một sinh viên VN đến mời cô con gái cưng của ông Đại sứ ra sàn nhảy, bị cô khước từ với lý do cô không biết…nhảy. Nhưng sau đó cô ta lại “nhảy” liên tu bất tận với…sinh viên Tây! Trong khi đó tôi cũng đến lịch sự mời ái nữ ông bà Cố vấn khiêu vũ và cũng bị từ chối, cũng với lý do rất lễ phép:
-Thưa anh! Rất tiếc Lê Thủy không biết khiêu vũ…Nhưng khác hơn cô Uyên, Lệ Thủy không khiêu vũ với ai cả. Tôi không cảm thấy bị mất mặt nhưng anh bạn sinh viên VN của tôi thì cho rằng anh bị xúc phạm nặng nề…Trước tình thế căng thẳng có thể gây bất lợi cho việc thu phục nhân tâm của chính quyền VNCH tại hải ngoại, ông bà Đại sứ vẫn không chút nao núng…Hầu như ông Đại sứ quên mất trách nhiệm của ông trước một “rối rắm” (incident) bất ngờ.
Và…không ai ngờ Bà Cố vấn Ngô Đình Nhu đã nhanh trí ra tay làm công việc của ông Đại sứ VNCH! Với một phong cách “ngoại giao đầy nữ tính” (diplomatiquement féminine) hết sức duyên dáng, Bà Cố vấn nhẹ nhàng giải tỏa bế tắc (dénouer l’impasse): -Lệ Thủy! Ban chiều con đi Kermesse (chợ phiên) bắn bia trúng được hai chai rượu. Mau đem ra mở mời các anh đi con!
Lệ Thủy đích thân khui hai chai rượu đỏ, rót mời “các anh”. Con nhà gia giáo có khác! Một điểm son cho người mẹ quá tinh tế trong giao tiếp…
Vì Tổng thống Ngô Đình Diệm suốt đời độc thân, nên do vị thế khá đặc biệt của người phụ nữ trong xã hội VN thời đó, Bà Ngô Đình Nhu -vừa là vợ Ông Cố vấn, vừa là Dân biểu Quốc hội- mặc nhiên được thiên hạ coi như “Đệ Nhất Phu Nhân”…không ngai!Nhờ sự “can thiệp” khéo léo của người phụ nữ đã có thời dạy piano cho các nữ sinh Couvent des Oiseaux (Đà Lạt), sự căng thẳng chùng hẵn và không khí vui tươi trở lại bao trùm cả hội trường. Chủ, khách trò chuyện râm rang, thoải mái.
Khi hội trường trở lại hoang vắng, tôi liếc nhanh đồng hồ: 3 giờ sáng! Cũng may là…Chúa Nhật! Khỏi phải thức sớm!
***
C
ó tiếng gõ cửa phòng tôi. Còn ngáy ngủ, tôi vẫn cố ngồi dậy: người gác dan Institut báo “une dame vietnamienne” muốn gặp sinh viên. Anh gõ cửa tất cả các phòng, không ai trả lời; chắc họ đi chơi hết rồi. May thay tôi chưa “sortir”. Hỏi có biết danh tánh người đến tìm gặp sinh viên chăng; được trả lời người ấy chỉ nói đêm qua có đến dự tiếp tân…
Gấp rút làm vệ sinh, thay áo quần mới, tôi tự hỏi “Madame” nào bí ẩn dữ vậy, chẳng lẽ…Vô lý. Bởi nếu đúng như tôi nghĩ thì phải nghi lễ rườm rà, tiền hô hậu ủng chứ!
Từ thang lầu vội vã bước xuống, tuy khách quay lưng về phía tôi, ngắm nhìn dàn hoa oeillet hai bên lối đi dẫn tới cổng Institut, tôi muốn đứng tim: dáng dấp nầy chỉ có thể của một người rất “tinh tế”…Nhưng sao không mặc áo dài cổ hở -dấu ấn độc đáo của “người ầy”? Quần tây sậm, sơ mi trắng giản dị, tóc buông thả phủ vai như Graziella, chân mang ballerines…Tôi tiến gần đến độ ngửi được hương tóc thoang thoảng mà người thiếu phụ vẫn chưa quay mặt lại vì mãi mê ngắm hoa. Vẫn giữ khoảng cách tối thiểu, tôi tuyệt đối im lặng cho tới khi “phu nhân” xoay người lại…
-Kính chào và hân hạnh được đón tiếp Bà Cố vấn
Quả thật khó khăn lắm tôi mới nói được suông câu, trong lòng bán tin bán nghi có phải mình chào đón đúng người chăng vì… “Bà Cố vấn” hôm nay sao hình như…quá trẻ? Tôi cảm thấy như đang tiếp chuyện với một nữ đồng môn ở Sorbonne!
Tôi hỏi sao không ai báo trước cho chúng tôi bà đến thăm. Bà cho biết muốn đến tự nhiên với anh chị em sinh viên, muốn đích thân tìm hiểu cuộc sống chúng tôi xem có gì cần giúp đỡ cải thiện thêm chăng.
Sau khi hướng dẫn bà đi quan sát phòng ốc, tiện nghi vệ sinh, v.v…tôi thực sự quí mến và cảm phục lòng ưu ái chân thành của bà đối với đám sinh viên xa quê hương, còn bỡ ngỡ trước những khác lạ trong nếp sinh hoạt thường nhật nơi xứ người. Tình thật tôi không cảm thấy chút kiêu căng, hách dịch, xa cách, “quan liêu” nào toát ra từ người phụ nữ rất phong lưu, rất có “classe” nầy! Có lẽ phần nào bị ảnh hưởng về cách phục sức y như sinh viên chúng tôi của vị khách quí bất chợt đến, tôi miên man liên tưởng tới hình ảnh người nữ một thời thanh thoát ngồi trước dương cầm, thả hồn phiêu lãng theo đôi bàn tay tuyệt trần bay lượn trên các phím ngà, cho hàng chuỗi giai điệu réo rắt vang lộng khắp các hành lang Couvent des Oiseaux Xứ Hoa Đào thơ mộng thuở nào…
****
H
ai mươi tám năm sau, từ dạo tiễn Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Không-Ngai ra cổng Institut Franco-Vietnamien, lặng nhìn “Madame” đơn độc đếm bước về hướng métro Port Royal dưới ánh nắng xuân vàng ấm, tôi có dịp trở lại con đường Saint-Jacques đầy ắp kỷ niệm, sau khi ngồi tù cải tạo CS năm năm, vượt biển lưu lạc sang Xứ Tuyết Canada định cư.
Tiệm Tabac, góc Saint-Jacques-Feuillantines, nơi bọn sinh viên chúng tôi thường đến điểm tâm trước khi đi cours vẫn còn, nhưng chắc cũng đã nhiều phen đổi chủ. Cũng nơi nầy, 28 năm về trước, tôi dự tính mời Madame-khách-quí ghé qua để nghe giọng lanh lảnh của nữ chủ tiệm Tabac duyên dáng lập lại “còm-măng” quá quen thuộc của tôi:
-Một cà-phê sữa to và 2 miếng bánh mì nướng! (Un grand crème et deux tartines!)
Nhưng vào giờ chót tôi bỏ ý định vì sực nhớ phương vị rất “bề thế” của Madame, sợ không tiện lắm.
Schola Cantorum vẫn bất biến, luôn kín cổng cao tường. Trái lại ngôi nhà mang số 269 St-Jacques, tuy vẫn còn ở nguyên vị trí, đã hoàn toàn thay hình đổi dạng, từ ngoài tới trong! Bảng đồng mạ vàng khắc hàng chữ xanh Institut Franco-Vietnamien được thay thế bằng tấm gỗ sơn mài, tô hàng chữ đỏ chói Maison du Sud-Est Asiatique! Phòng ốc bên trong cũng đã đổi thay toàn diện . Và hình như chẳng có sinh viên VN nào trú ngụ cả. Toàn sinh viên Căm-pu-chia và một số ít sinh viên Lào.
Sau khi tiếm đoạt quán ăn đường Monge -mà CSBV đổi tên thành Foyer Vietnamien như đã đổi tên Sài Gòn- nghe đâu Hội Thân Hữu Pháp Việt (được tái lập từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa) bị CHXHCNVN áp lực tháo gỡ bảng hiệu Institut Franco-Vietnamien làm xốn mắt Bắc Bộ Phủ. Họ muốn xóa bỏ mọi dấu tích của VNCH trên đất Pháp…
-o-o-o-
Paris, một thuở…Sài Gòn, một thời...Khi Tháng Tư còn Xanh...Khi Tháng Tư chưa Đen trên đất nước, chưa sầu thảm, uất nghẹn trong ký ức ray rứt, trăn trở của người dân Việt, trong cũng như ngoài nước...
Hãy hình dung cảnh ngộ người vợ -đang công tác ngoài nước, rụng rời nhận hung tin chồng và anh chồng bị thảm sát trong cuộc binh biến 1.11.1963 tại Sài Gòn- chưa kịp khô nước mắt, đã phải sụt sùi lau lệ khóc đứa con gái Lệ Thủy tử nạn thảm khốc, chưa đầy một năm sau chịu tang chồng...
Suốt 47 năm, người đàn bà đau khổ sống ẩn dật như một nữ tu, không hề lên tiếng trước những ồn ào náo nhiệt từ loa phát thanh của các “đấng” anh hùng hải ngoại, chuyên đấu võ mồm, mắc chứng “nổ” không ngưng nghỉ (non-stop), tự đánh bóng ngoài những giới hạn có thể chấp nhận! Nghe đâu người đàn bà rất tự trọng nầy dự tính viết hồi ký. Hàng ngũ anh hùng dỏm chắc chắn ít nhiều đang bị chấn động…
Ném một hòn sỏi xuống giòng sông, theo dõi các vòng tròn từ từ tan loãng, tôi ngước nhìn trời cao thầm cầu nguyện cho người đàn bà bạc phước, một thời Đệ Nhất Phu Nhân không ngai của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, nhưng mãi mãi vẫn ngự trị trong tâm hồn tôi như Một Phụ Nữ Việt Nam phi thường…

Thôn trang Rêu-Phong, Tháng Tư 2010
-Lê Tấn Lộc
-

Wednesday, February 10, 2010

ỐI GIỜI ÔI! CHÚNG NÓ "HIẾP" TÔI

Phiếm “loạn” (V)
Ối giời ôi! Chúng nó “hiếp” tôi!
“Kia mới là trăng! Đây chỉ là ngón tay ta chỉ trăng…”
(Lời Phật)

Tết nhứt tới nơi, một năm nhọc nhằn vất vả với bao nhiêu đối mặt cùng nhiều thứ trên xứ người, dù đã sắp vẫy tay từ biệt cõi mộng, tờ báo xuân Việt Luận trên tay, tạm gác những “tức khí” trước nhiều vụ nhiêu khê xảy ra trong năm tại quê nhà cũng như trên xứ người, tôi gắng gượng vui Xuân theo kiểu nhà thơ Nguyễn Bính trước đây đã phải “cũng cố vui ngang gái được chồng” khi lưu lạc khắp miền Nam nước Việt…
Ấy thế mà cũng chẳng thể hoàn toàn đánh mê ý thức qua vài chung hồng tửu chào mừng Xuân trên đất khách: Đang dật dờ với men rượu xuân, tôi tỉnh hẳn nghe bên kia đầu giây một giọng nữ thân quen ‘báo động’ vừa FW (chuyển tiếp) cho tôi hai bài viết trên Net mà cô rất muốn tôi mở máy đọc ngay và ‘góp ý’…
Trước đây, giáo đầu một bài viết về tôn giáo và làm việc thiện tôi đã chấp nhận làm công việc nguy hiểm “khiêu vũ trên những quả trứng”. Lẽ nào lần nầy tôi lại chùn chân, không dám liều lĩnh ‘khiêu vũ’ lần nữa, xem có chết thằng Tây nào chăng?
-o-o-o-
B
ài thứ nhất, “Quá nhiều Thích Trí Quang(?)” của J. Kiên Trung, mở đầu như sau:

“Ai cũng biết câu tục ngữ :"Chiếc áo không làm nên ông thầy tu". Nhưng biết là một chuyện; tỉnh táo, can đảm để không bị huyễn hoặc, bị lầm lạc là chuyện khác.
Không cần nói chuyện xa xưa, bài học về những kẻ "xanh vỏ đỏ lòng", đội lốt tu hành để mưu đồ đen tối, vẫn hằng tiếp diễn. Bài học máu xương dai dẳng đó, có giúp mọi người tỉnh táo, sáng suốt cho chặng đường hiện tại và tương lai không? Không! Giặc Cộng vẫn tiếp tục khai thác và ta vẫn tiếp tục bị động trong sự kiêng dè, mặc cảm trước những chiếc áo Thầy tu! Địch dùng tôn giáo như một mũi nhọn khi tấn công, và như một tấm khiên hay một cái áo giáp chắc chắn che đỡ khi bị phản kích, bị tố cáo.
Ta thì kiêng dè tôn giáo, kiêng dè quy củ, kiêng dè cái tốt, cái hay thì nói làm gì; đằng này kiêng dè cả những kẻ hung ác đội lốt, kiêng dè cả những sai trái mang mặt nạ tôn giáo (Tôn giáo và Từ Thiện là hai mặt trận quan trọng được giặc Cộng triệt để khai thác!) Có khi kiêng dè vì tin tưởng theo kiểu u mê. Cũng có khi kiêng dè vì sợ bị chụp mũ: " Kỳ thị tôn giáo"! Một trong những sách lược tinh quái của Cộng phỉ Hà Nội dùng để phá hoại công cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của VNCH trước đây và công cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền của dân tộc VN hiện nay là xâm nhập và biến những bộ phận tôn giáo thành công cụ phục vụ cho chúng.
Thực tế, sách lược lợi hại này đã rất thành công. Đã thành công mỹ mãn trong quá khứ là ngày 1/11/1963 tạo tiền đề dẫn đến đích điểm 30/4/1975 thì không lý do gì giặc Cộng không đẩy mạnh chiêu thức này trong hiện tại và tương lai. Điểm đặc biệt là khi hoạt động "tôn giáo vận", cán bộ Việt gian Cộng sản rất hiệu quả khi núp dưới chiêu bài Phật giáo! Phải chăng do tôn giáo này lõng lẽo trong tổ chức và yếu kém về tinh thần đề kháng....nên dễ bị khuynh đảo?
Trước đây người ta mù mờ về Thích Trí Quang, một gương mặt trí trá với chiếc đầu trọc và chiếc áo vàng mượn danh tôn giáo, nhận tiền bạc ngoại bang và sức lực CS đã góp phần phá sập một nền dân chủ còn non trẻ nhưng đầy sức sống của Đệ I VNCH! Những trò xách động biểu tình, dàn cảnh sát hại thường dân, dàn cảnh tự thiêu...chỉ là những bề nổi che dấu âm mưu cấu kết với ngoại bang Mỹ và CS để triệt hạ những nhà lãnh đạo nhiệt thành thương dân yêu nước....
Họ là ai?..”
(ngưng trích).
Câu hỏi, theo tôi, bắt động não…
Và loạt bài thứ hai dưới đây thực sự bắt tôi động não!

Loạt bài nầy gồm nhiều textes, vừa văn kiện, vừa bài viết, do Tỳ kheo Thích Nhật Tân tung lên Net. Cô bạn tôi tiết lộ vì thấy nội dung các textes, nhất là bài viết ký tên Albert Trần “mang nhiều tính chất hận thù, chửi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa và Cố TT Ngô Đình Diệm một cách thậm tệ, nên nhiều tờ báo ở Úc đã từ chối đăng”. Nhưng vị ‘cao tăng’ có chức phận trong một Giáo hội có tầm cỡ ở Xứ Căng-Gu-Ru nói trên -dù trong vị trí tu hành lẽ ra vì lòng từ bi, hỉ xả, phá chấp phải nên e dè, cẩn trọng hơn bổn đạo của mình- lại nhanh nhẩu và hăng hái phổ biến rộng khắp, bất chấp hiểm nguy gây va chạm mạnh mẽ giữa các cộng đoàn tôn giáo...
Trong thế chẳng đặng đừng, tôi cũng đành liều nhắm mắt đưa chân…khiêu vũ trên những quả trứng như lần trước …Chỉ xin báo trước, khi vươn vai chuyển mình, dù rất cố gắng dè chừng từng động tác, cũng chưa hẳn tôi tránh khỏi tay mình va vào mặt, chân mình chạm vào mông người khác! Mọi ‘sự cố’ đều ngoài ý muốn của người viết…
**
T
rả lời câu hỏi: “Họ là ai?”, J. Kiên Trung viết:
1. Mỹ (chủ mưu)
2. Cộng sản (cấu kết vì thù ghét TT Diệm)
3. Những kẻ lấy danh nghĩa Phật giáo gian phản (gian ác lợi dụng áo cà sa, vừa ăn tiền Mỹ vừa làm tay sai CS!)
4-Tướng tá phản quốc (ăn tiền Mỹ phá hoại đất nước. Những kẻ u mê vẫn tiếp tục giọng điệu bôi bác của 4 thành phần gây tội ác…!
Cả 4 thế lực gian ác này vẫn tung những luận điệu bịp bợm để chối tội bằng cách nói xấu Đệ I Cộng Hoà. NHỮNG NGƯỜI CÓ LƯƠNG TRI CẦN CAN ĐẢM NÓI LÊN SỰ THẬT.
(ngưng trích)
Dám hỏi những ai tung loạt bài biện minh cho một số tu sĩ lợi dụng tôn giáo trong Phong trào Phật Giáo Tranh Đấu tại Miền Trung năm 1966 và sau nầy, qua Biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế -nhất là Albert Trần (dân Tây chăng?), người chửi đổng cho sướng miệng cố TT Ngô Đình Diệm, Đệ I Cộng Hoà và QLVNCH, cũng như xúc phạm trầm trọng đến tín ngưỡng người khác mà hoàn toàn mù tịt về giáo lý và nghi thức trở thành tín hữu của tôn giáo nầy- có thể trưng bằng chứng phản bác những cáo buộc nghiêm trọng “4 thế lực gian ác” nêu trên một cách không chối cãi được chăng?
Thái độ anh hùng rơm của ông Albert Trần làm tôi nhớ lại cung cách xỏ lá của đám ‘trí thức (hay ngủ) trùm chăn’năm 1963 hung hăng con bọ xít huênh hoang ‘nổ’ sau khi ‘Ngô Tổng Thống’ và bào đệ bị thảm sát rằng họ đã từng chống đối, đả kích chế độ độc tài nầy. Bị vặn hỏi tại sao trước đó đồng bào chưa hề thấy họ xuất đầu lộ diện ‘tranh đấu’, họ tỉnh bơ như người Hà Nội hét to trấn áp rằng họ
“đã từng đóng kín cửa nhà, chửi rủa Ngô Đình Điệm”!

Quả tình tôi chẳng thấy chút hứng thú nào ‘góp ý’ với ông Albert Trần, bởi lẽ chính ông đã vấp phạm những gì mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã lưu ý trong Thông Tư số 007/VHD/VT, ngày 17.01.2010: ngôn từ thiếu lễ độ(…) cung cách bất lịch sự”, sử dụng danh từ đao to búa lớn, mạt sát người không cùng chí hướng với mình, chẳng hạn như, Ngô Đình Diệm
“bán nước”, “dụ (vô) đạo”,v.v…
Tôi chỉ muốn hỏi ông Albert Trần: ông có đi lính và có đánh đấm gì với VC chăng? Năm nay ông được bao nhiêu tuổi đời rồi? Thời Đệ I Cộng Hòa, ông mấy tuổi nhỉ? Riêng tôi thì chẳng giấu chi ông, thời ‘Ngô Tổng Thống’, tôi chỉ là một chuẩn úy trừ bị, 28 tuổi, đi hành quân ở các vùng Phú Thứ,Thùng Thư, An Sơn, An Điền (Bình Dương) -với quân trang, quân dụng thời đó chưa tân tiến lắm- thành lập ấp chiến đấuấp chiến lược. Tôi có thể khẳng định không chút do dự là quốc sách Ấp Chiến Lược lúc bấy giờ đã thực sự chận đứng sự bành trướng của MTDTGPMN, -công cụ trá hình của Hà Nội- phá vở sách lược ‘lấy nông thôn bao vây thành thị’ của CSBV, ngăn chặn hữu hiệu chúng trà trộn trong dân chúng hoạt động quấy rối chính quyền. Tiếc thay, sau khi TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, những tướng lãnh chủ mưu đảo chánh đã dẹp bỏ quốc sách nầy, tạo điều kiện thuận lợi cho địch quân trở lại bức hại dân lành vô tội vạ và gây nhiều tổn thất cho quân ta khi hành quân, vì chúng tôi không thể dễ dàng tìm diệt địch như khi còn các ấp chiến đấu và ấp chiến lược cô lập chúng. Đó là sự thật khó chối cãi ông Albert Trần ạ!
Thế mà ông ngang nhiên ‘phán’ Ngô Đình Diệm…bán nước! TT Diệm bán nước hay giữ nước, hở ông ăn nói hồ đồ? Tôi nghĩ có lẽ chỉ có một số ít người như ông và -dĩ nhiên cả CSBVnữa- gán cho TT Diệm tội…bán nước! Ông Albert Trần ơi! Xin hỏi nhỏ: ông là người quốc gia hay phe CS vậy, hở ông? Lẽ nào ông không rõ lập trường cương quyết chống cộng, đả thực, bài phong, của vị cố Tổng Thống Đệ I Cộng Hòa? Lẽ nào ông cam tâm thui chột mắt mình để khỏi nhận ra rằng hiện giờ ai bán nước, ai cắt đất dâng sông cho Tàu Cộng? Và, trước 75 ai đã tiếp tay -nếu không muốn nói là dọn đường- cho chúng nuốt trọn miền Nam vậy, thưa ông? Phủ nhận, bào chữa cho những thành phần nối giáo cho giặc nầy, đơn thuần là…
ngụy biện!
Cũng chẳng lẽ ông không rõ hai tiếng bán nước thường đi đôi với hai chữ Việt gian? Vậy theo ông ai là Việt-gian-bán-nước đây? Trong cũng như ngoài nước, hiện nay ‘cụm từ’ Việt-Gian-Cộng-Sản rất phổ quát (universel), gần như đã thay thế hẳn danh từ Việt Cộng, ông đồng ý chứ?
Tôi rất khó quên cũng nhờ ông và các bạn “tranh đấu” của ông mà vừa cởi quân phục chưa đầy 2 năm, tôi đã phải vội vã từ giã bục gỗ và đám môn sinh, khoác lại chiến y xuất trận đương đầu với cộng quân trên đường phố Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn trong đợt II tổng công kích Tết Mậu Thân của chúng. Ông ở đâu và làm gì trong tình thế dầu sôi lửa bỏng đó, hỡi ‘người hùng’ Albert Trần?
Tôi vẫn để tang muôn ngàn chiến hữu của tôi xả thân bảo vệ chính thể VNCH, nay đã vĩnh viễn nằm xuống trên quê cha đất tổ sắp bị chú láng giềng khổng lồ nuốt trửng, lớp trên chiến trường, lớp trong rừng sâu nước độc của ngục tù CS; và hơn nửa triệu đồng bào chúng ta mưu tìm tự do đã vùi thây dưới đáy biển…
Tôi hằng cầu nguyện cho anh linh họ sớm được vào cõi tịnh độ và mong ước họ hỉ xả cho ông cùng các bạn ‘đấu tranh’ xưa kia của ông!
Đọc bài “Hoan nghênh…”của ông, tôi có cảm tưởng như ông muốn thay mặt các bạn đồng chí…hướng với ông inh ỏi la làng: Ối giời ôi! Chúng nó (ám chỉ chúng tôi, những người chiến đấu bảo vệ Đệ I và Đệ II Cộng Hòa) “hiếp” tôi! Người viết sẽ trở lại mục “hiếp” nầy sau. Và…nuôi chút hy vọng mong manh rằng ông còn tí lương tri tối thiểu để đừng quá cuồng tín chụp mũ tôi là ‘dư đảng’ Cần Lao!
Tiền nhân thường khuyên nhủ: “Ăn cây nào, rào cây nấy”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ông và các bạn ‘đấu tranh’ của ông thụ hưởng biết bao tiện ích của miền Nam VNCH, quả thật đã nỡ nhẫn tâm ăn cây nào đào bứt gốc cây nấy, ăn quả quyết bẻ luôn cành cây và siết cổ luôn kẻ trồng cây, khác chi bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản sau nầy a-dua theo VC thảm sát đồng bào Huế hôm Tết Mậu Thân!
Nhận xét cuối cùng của tôi về bài viết ‘rỗn rãng’ lớn lối với tựa đề chạy chữ to quá tầm cỡ của ông:
Y như ông cáo buộc thiên hạ, ông đã lợi dụng cơ hội ‘hoan nghênh’ Thông Tư của HT Quảng Độ, “thừa gió bẻ măng” (chữ của chính ông xài) đá gió lái giới truyền thông ở Úc đang chờ ‘vác chiếu ra tòa’ do Giáo hội mà ông đang hùng hỗ ra sức ‘cứu giá’ đâm đơn kiện. Lẽ ra ông nên thận trọng hơn, vì nội vụ đang chờ được công lý xét xử cho sáng tỏ. Ông ‘khều móc’ kiểu nầy coi chừng ba tòa quan lớn ‘hỏi thăm sức khỏe’ ông đấy! Qua cách hành sử của ông, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy ông còn dám hạ bút viết: “Sống trong một xã hội văn minh, với tinh thần pháp trị, ai cũng được luật pháp bảo vệ, không ai có quyền cấm đoán hoặc “bịt miệng” ai, nếu ta không làm điều gì phạm luật”! Ít ra ông cũng còn chút sáng suốt nhận ra
tự do ngôn luận tối cần cho trắng đen được phơi bày, cho chân lý tất thắng!
***
V
ới Hòa Thượng Thích Quảng Độ tôi xin thủ lễ, chắp tay vái chào cho phải phép “kính Phật, trọng tăng”, trước khi mạn phép ‘góp ý’ với quí cao tăng. Nhưng cũng xin nói rõ chỉ trọng tăng với những bậc chân tu, bất cứ thuộc tôn giáo nào. Từ bỏ hưởng thụ mọi tiện nghi vật chất trần tục (thoát tục), người đi tu, bất cứ theo tín ngưỡng nào cũng xứng đáng cho chúng ta ca tụng và thán phục sự hy sinh cao cả vì đạo pháp. Nhưng…than ôi, bậc chân tu quí như ngọc ngà, hiếm như châu báo ở thời buổi nhiễu nhương, tranh tối tranh sáng, vàng thau lẫn lộn! Chắc hẳn Hòa Thượng không nỡ nhắm mắt làm ngơ, phủ nhận thực tế phũ phàng nầy: Các vụ lợi dụng danh nghĩa tôn giáo, lạm dụng quyền uy tinh thần của các bậc tu hành làm những điều xằng bậy nhan nhãn gần như hằng ngày trên báo điện tử cũng như trên báo giấy…Cho nên giới truyền thông đã góp phần đáng kể thông tin cho dư luận quần chúng rõ biết những tệ trạng trong hàng giáo phẩm của bất cứ tôn giáo nào. Dù lắm khi giới nầy phải gánh chịu nhiều áp lực có tính chất ‘răn đe’, trù đập, hù dọa…Nhưng đó là chuyện đại sự, kẻ hèn tự nhận thấy không đủ bản lĩnh, tài năng và hiểu biết đầy đủ để lạm bàn.
Chỉ xin phép Hòa Thượng cho người viết góp vài nhận định thô thiển về một ít sự việc được nêu ra trong Thông Tư của Ngài.

Bạch Hòa Thượng,

1) Một vài từ Ngài dùng khiến tôi hơi thắc mắc: phi dân tộc, phản tổ quốc…Thú thật, không thể nào tôi không liên tưởng tới các nhóm chữ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, Mặt Trận Tổ Quốc. Lẽ nào Ngài nghĩ rằng chống các ‘mặt trận’, các ‘liên minh’ ma-nớp nầy là…phi dân tộc, là phản tổ quốc? Đoạn văn nầy trong Thông Tư càng khiến tôi khó hiểu tôn ý của Ngài:
“(…) cố tâm vu cáo GHPGVNTN theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”.
2) Những sự việc Ngài trình bày về các đức Tăng Thống rất thống thiết, bi hùng. Về đức Đệ nhất Tăng thống, cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết tôi không có ý kiến, vì không đủ dữ kiện cần thiết để góp ý. Nhưng về đức Đệ tam Tăng thống, cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu thì, không riêng gì tôi mà đồng bào trong và ngoài nước đều không thể không biết vai trò quan trọng của đấng hòa thượng nầy trong biến cố Tết Mậu Thân tại Huế.
Riêng các sự việc liên quan đến vị Đệ tam Tăng thống mà Hòa thượng kê khai trong Thông Tư để chứng minh sự hào hùng, bất khuất của HT Thích Đôn Hậu, như:
a-“(…)băng ghi âm Đức cố Đệ tam Tăng thống kể lại thời kỳ Ngài bị Cộng sản đến chùa Linh Mụ, Huế, bắt đưa lên núi hồi Tết Mậu Thân, ép buộc đưa ra Hà Nội, cho đến giai đoạn sau 1975 Ngài lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp Phật giáo”.
b-“Trong năm 1978, sau mười lần cán bộ các cấp đến ép buộc Hoà thượng ra ứng cử đại biểu Quốc hội nhưng Hoà thượng vẫn một mực khước từ”. Ajouter une image
c-“…lời đáp uy dũng của Ngài khi có người hỏi : “Hiện nay có nhiều gia đình đã dẹp tượng Phật trên bàn thờ để thờ Bác Hồ, việc ấy có đúng và nên làm không ?”. Ngài trả lời : “Việc ấy sai, Phật tử thì phải thờ Phật chứ không thờ ai khác !”.
d-“...thời Ngài bị quản thúc giữa thủ đô Cộng sản ở Hà Nội. Ngài đã khước từ đứng gác quan tài ông Hồ Chí Minh năm 1969 (…) rồi sau này quan tài ông Tôn Đức Thắng năm 1980”.

Xin Ngài cho phép tôi đặt một vài nghi vấn và đưa ra một vài nhận xét:

*Về cuộn băng nói trên, cho dù thực sự có cuộn băng đó, không gì bảo đảm tiếng nói trong băng là tiếng nói của HT Thích Đôn Hậu. Ngày nay với kỹ thuật tân tiến, ngụy tạo tiếng nói không gì khó khăn. Biết bao băng giã tiếng nói của Ben Laden! Ngay cả chuyện HT bị ép buộc đưa ra Hà Nội là chuyện không thể nào tin được khi HT là Phó Chủ tịch của LMCLLDTDCHB do CS dựng nên khi chiếm đóng Huế! Giới CSBV cầm quyền hiện nay nghe chuyện năm 1968 chúng bắt ép HT ra Hà Nội chắc cũng sẽ cười tóe phở!
Chuyện ông HT bị ‘ép’, ông Albert Trần và các bạn ‘tranh đấu’ của ông cảm thấy bị ‘hiếp’ khiến tôi muốn phì cười nhớ tới chuyện ‘ép, hiếp’ khi xưa của bà Bút Trà, thập niên 50: Bà loan tin giựt gân chuyện hoang đường một phụ nữ miệt Cà Mau lấy..khỉ! Các báo phanh phui bà dựng đứng chuyện ly kỳ nầy để câu khách cho tờ báo Sàigòn Mới. Bà nổi dóa phản pháo các báo cấu kết ăn hiếp bà. Ngày hôm sau, một tờ báo hí hóa một con khỉ ‘đè’ một người đàn bà phốp pháp, với câu phụ chú người nữ kêu la: “Trời đất ơi! Nó hiếp
tôi!”.

*Về ba ‘sự kiện’ hào hùng, bất khuất về HT/TĐH mà Ngài nêu ra, theo tôi, cũng khó thuyết phục được số đông quần chúng, kể cả quần chúng Phật tử, nhất là tuyệt đại đa số Phật tử ở Huế! Tôi nghĩ rất khó kiểm chứng sự cang cường của HT/TĐH, “dù bao gian truân, bức bách, Ngài vẫn đứng thẳng như núi (sic!) trước chế độ khủng bố…”, như Ngài viết, ngoại trừ có nhân chứng từ phía CSBV lên tiếng xác nhận. Trái lại thái độ và lập trường thiên cộng của HT thì hầu như vô phương chối cãi. Bởi vì có rất nhiều nhân chứng khắp nơi lên tiếng cáo buộc.

*Về chuyện Ngài đánh tiếng: “Giáo hội chúng tôi đòi hỏi những cá nhân, đoàn thể, đảng phái vu cáo đức Đệ tam Tăng thống, cố Đại lão Hoà thượng Thích Đôn Hậu, và hàng giáo phẩm GHPGVNTN, nếu họ tự tin họ đúng, thì phải trưng đủ bằng cớ, tư liệu cho sự vu cáo nói trên”, lời yêu cầu nầy đã được vài nơi đáp ứng rồi đây:
HUẾ MẬU THÂN: ĐƯA VIỆT CỘNG RA TÒA QUỐC TẾ.
LIÊN THÀNH (Nguyên chỉ huy trưởng CSQG Thừa Thiên, Huế)
(01/29/2010)
LTS.- Ông Liên Thành, nguyên là chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, Huế phổ biến đến báo chí lời kêu gọi đồng bào Huế cùng hợp tác để đưa Việt Cộng ra tòa án hình sự quốc tế về tội diệt chủng.
Thời Báo hân hạnh đăng tải lời kêu gọi của ông Liên Thành.
Trân trọng,
THỜI BÁO
Công lý cho Mậu Thân

Hãy trả lại công bằng và công lý cho 1200 thường dân bị mất tích và 5327 thường dân vô tội bị Cộng Sản đập đầu chôn sống, bắn giết, trong Tết Mậu Thân 1968 tại Cố Đô Huế.
Đồng bào Huế xin hãy hợp tác với tôi, truy tố đám sát nhân này ra tòa án hình sự Quốc Tế về tội diệt chủng.
LIÊN THÀNH
Nguyên Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế
Địa chỉ liên lạc:
nguyenphuclienthanh @gmail.com
biendongmientrung@ yahoo.com
(…)
Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình tại Huế:
- Chủ tịch : Giáo sư Lê Văn Hảo.
- Phó chủ tịch: ông Thích Đôn Hậu.
Thích Đôn Hậu là cơ sở tôn giáo vận của thành ủy viên Hoàng Kim Loan.
Thích Đôn Hậu trù trì chùa Linh Mụ, là Chánh Đại Diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.
- Tổng thư ký: Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tuờng
- Phụ trách học Sinh Sinh Viên, các thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân.
Theo đài phát thanh Hà Nội, bản tin phát đi vào ngày mồng 3 Tết, tức là ngày 1tháng 2 năm 1968, thì đây là một lực lượng kết hợp “nhân sĩ, trí thức”, học sinh, sinh viên và Phật Giáo yêu nước vừa mới thành lập tại Huế, nhằm đứng lên chống đế quốc Mỹ và đám tay sai bọn ngụy quân ngụy quyền, lùng diệt, truy quét bọn ác ôn tàn binh Mỹ Ngụy, tay sai CIA.
(…) chi tiết:

1- Chủ Tịch: Ông Lê Văn Hảo, giáo sư Nhân Chủng Học, Viện Đai Học Huế
2- Phó chủ Tịch: Ông Thích Đôn Hậu Chánh Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh.
3- Tổng thư Ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên giáo sư Trường Quốc Học. Đương sự cùng với em ruột là Hoàng Phủ Ngọc Phan thoát ly lên mật khu vào tháng 6/1966, với sự tiếp tay của Trịnh Công Sơn, sau vụ tranh đấu của Thích Trí Quang tại Miền Trung.
4- Phụ trách Học Sinh, Sinh Viên Giải Phóng: Nguyễn Đắc Xuân, nguyên sinh viên Đại Học Sư Phạm, ban Việt Hán. Đương sự thoát ly lên mật khu vào tháng 7 năm 1966 sau vụ tranh đấu vào tháng 6/1966 của Thích Trí Quang.
5- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế: bên cạnh chức chủ tịch Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, Ông Lê Văn Hảo còn được Việt Cộng cho giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế.
6- Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế: Bà Đào Thị Xuân Yến tức Tuần Chi, cũng là nhân tình của ông Thích Đôn Hậu
7-Đội trưởng Đội Tự Vệ Thành: Sinh viên Nguyễn Đắc Xuân giữ chức vụ Trưởng Đoàn An Ninh và bảo vệ khu phố, gọi tắt là Đội Tự Vệ Thành.
(…)
Sáu giờ sáng, khi sương mù chưa tan, trời thì lạnh và thấp, Huế bật khóc trong phẫn uất, đau đớn, khi nhìn về phía kỳ đài Phú văn Lâu: Quốc kỳ màu vàng 3 sọc đỏ không còn nữa! Thay vào đó là một lá cờ gồm 3 mảnh: Hai mảnh hai bên màu xanh nhạt, mảnh giữa màu đỏ có ngôi sao vàng. Dân chúng Huế thì cứ ngỡ là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Thật tình không phải vậy. Cờ MTGPMN chỉ có 2 mảnh, một mảnh màu xanh nhạt, một mảnh màu đỏ giữa có ngôi sao vàng. Lá cờ treo trên Kỳ Đài Ngọ Môn là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân tộc Hòa Bình. Nói cho rõ hơn, là cờ của các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v.
(…)
1968-2009: bốn mươi mốt năm trôi qua, một quảng thời gian dài cho đời người, nhưng đối với người dân Huế và thân nhân của tổng cộng 6527 nạn nhân trong cuộc tàn sát tàn bạo do Hồ Chí Minh (HCM) và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản gây ra, thì biến cố lịch sử kinh hoàng này vẫn còn mới, còn đau và còn rỉ máu, bởi vì: nợ vẫn chưa được trả, công bằng và công lý vẫn chưa có.
Tôi, Liên Thành, người đã có mặt trước, trong, và sau khi xảy ra cuộc chiến, viết lại mấy dòng này, như là một chút bổn phận cho những người dân vô tội và đồng đội của tôi đã ngã xuống trong Tết Mậu Thân .
(ngưng trích)

Ngoài ra, ông J. Trung Kiên cũng lên tiếng cáo buộc HT/TĐH:

Một điển hình khác là Sư Thích Đôn Hậu! người ta cũng mù mờ, hoặc úy kỵ sợ bị gán là “kỳ thị tôn giáo” nên dù biết rất rõ cũng không dám đụng chạm đến Thích Đôn Hậu, kẻ đã ngang nhiên đứng vào hàng ngũ của cái gọi là Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình do CS Hà Nội dựng lên ngày 01/2/1968 chung với các tên đồ tể Lê Văn Hảo, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…. Nghĩa là hàng ngũ những tên vô lại, phản bội phản phúc, nhúng tay thảm sát đồng bào Huế, Tết Mậu Thân!
Sau đó núp dưới áo cà sa, Thích Đôn Hậu lại huy động những người mê muội cấu kết cùng giặc Cộng gây ra chướng ngại cho cuộc phản kích cuả quân đội VNCH, Thích Đôn Hậu là tên tội đồ gây ra cái chết cuả Trung Tá Lê Minh Hằng và 100 chiến sĩ Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC….( với công lao theo Cộng phá hoại đất nước, Thích Đôn Hậu đã được CS Hà Nội ban thưởng huân chương cao quý của chúng là Huân Chương Hồ Chí Minh).
(…)
Những con rối Thích Trí Quang, Thích Đôn hậu, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Huỳnh Liên..v..v.. liên tục diễn ra những hành vi làm “mất máu” miền nam, góp thêm công trạng cho giặc thù phương Bắc… Đỉnh điểm của sự lộ mặt những kẻ đội lốt tôn giáo là suy tôn Dương Văn Minh, dẫn đến ngày 30/4/1945!
(ngưng trích)

*Về chuyện quy trách trong biến cố Tết Mậu Thân tại Huế, Ngài viết: Nếu phải tố cáo hay quy trách nhiệm, thì phải quy trách nhiệm cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã không làm tròn nghĩa vụ trong việc bảo vệ dân trong Tết Mậu Thân khiến cho khắp nơi dân chúng bị đối phương tàn sát, đặc biệt ở Huế…”, tôi thấy không ổn, vì ít nhiều phảng phất chút cường điệu muốn chạy tội cho HT/TĐH và LMCLLDTDCHB…
Hòa thượng Thích Đôn Hậu và cái Liên Minh của ông, gồm các đồ tể Văn Hảo, Dương Tiềm, Ngọc Tường, Ngọc Phan, Đắc Xuân, v.v… chẳng thể nào chối bỏ sự can dự trực tiếp vào việc tàn sát đồng bào Huế!

*Về chuyện miền Nam Việt Nam lọt vào tay CS, Ngài nhận định: “Không thể nào vu cáo hàng giáo phẩm GHPGVNTN “rước Cộng sản vào Tết Mậu Thân Huế” hay “dâng miền Nam cho Cộng sản”, khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ? Trong khi ấy chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ? Chuyện mất nước không thể trút hết lên đầu đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH, quân dân miền Nam VN đều có phần trách nhiệm. Nhận định của Ngài, ngoài việc chối bỏ một phần trách nhiệm tiếp tay cho địch quân của một số tăng ni, Phật tử ‘tranh đấu’, trí thức ‘yêu nước’, còn tỏ lộ khuynh hướng chạy tội cho họ, y như một số cấp lãnh đạo VNCH giờ đây, nếu không trở cờ liếm tay giặc thì cũng tìm đủ mọi cách tự đánh bóng, đổ tội cho đồng minh, đồng đội để chối bỏ tư cách ươn hèn của mình ‘đem con bỏ chợ’ chạy thoát thân!

*Về câu HT/TĐH “nói thẳng” (cang cường thay!) với hai vị trong Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội CS (in chữ đậm trong Thông Tư): “Tình đoàn kết đó, thương yêu đó, kính trọng đó [đối với người kháng chiến, cách mạng] chỉ được 10 ngày ! Sau 10 ngày đó : tình đoàn kết xưa nay bây giờ rã hết ! Lòng thương yêu đổi thành ghét cay ghét đắng ! Sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để ! (…) Phật giáo chúng tôi sống qua bao nhiêu chế độ, bị đàn áp một cách tàn bạo. Người Phật tử luôn luôn trông mong một chế độ nào cởi mở hơn, biết điều hơn, để đem lại cho họ một phần cuộc sống đã bị mất. Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”, xin mạn phép Ngài cho tôi nói lên điều không những riêng tôi nghĩ mà có lẽ cũng là điều rất được nhiều quân dân cán chính miền Nam đã ‘kinh qua’ đủ mùi ca ngâm với lũ quân Bắc phương kéo tới ‘giải phóng’ họ, cùng chia sẻ với tôi: HT/TĐH cũng như TT/TTQuang cùng một số đồng chí của hai ‘đấng’, sau khi hoàn thành sứ mạng hỗ trợ cho Bắc Bộ Phủ cưỡng chiếm miền Nam, đã bị thất sủng, đâm ra ê chề, não nề chán ngán vì đã nông nổi hí hửng tưởng ‘ngon xơi’ với chế độ XHCN, nuôi mộng ước tín ngưỡng của mình biết đâu có cơ hội được biệt đãi như…Quốc Giáo! Nào ngờ chính sách ‘ưu việt’ của CS muôn đời vẫn bất biến: Vắt chanh bỏ vỏ! “Tôn giáo là liều thuốc phiện của nhân dân!”. Với CS, chỉ một quốc giáo độc nhất được phép phát triển, tồn tại: Đảng Cộng Sản. Mọi tôn giáo khác chỉ được dung thứ nếu được ‘cải tạo’ thành…QUỐC DOANH GIÁO, cốt để trang điểm hoa lá cành, ngụy tạo cho chế độ CHXHCN được tiếng trên chính trường quốc tế là có tự do tôn giáo! Thiền sư ‘vĩ đại’ Thích Nhất Hạnh cũng đã cực kỳ hí hửng thế đó với Bát Nhã Thiền Viện của Ta!

Thưa Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN,
Ngài nghĩ xem chúng ta có cần lập lại câu nói để đời của cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu:
“Đừng nghe những gì cộng sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”, “Đất nước còn, tất cả còn. Đất nước mất, mất tất cả!”…chăng?
-o-o-o-
N
hững gì tôi viết ra trong bài nầy không nhằm “đôi co” (chữ của HT/Thích Quảng Độ dùng) mà nằm trong ý hướng làm sáng tỏ một vài sự kiện thực sự diễn ra trước mắt mọi người dân miền Nam VN trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các hành vi và thái độ của một số cá nhân, lợi dụng danh nghĩa hay ẩn núp sau lá chắn tôn giáo, nối giáo cho giặc phương Bắc giết hại đồng bào, tưởng đâu chẳng thể nào chối cãi được. Thế mà tới nay vẫn còn có phong trào nầy, đoàn thể nọ kiên tâm ‘cạo sửa’ các sự kiện có tính chất lịch sử , lý luận quanh co bóp méo sự việc, đổi đen ra trắng bào chữa cho những cho những ‘cá-nhân-bàn-tay-vấy-máu-anh-em-Huế’ chẳng hề biết ăn năn sám hối tội lỗi vì…chẳng còn chút nhân tính nào hết!

“Thông tư hôm nay, HT/TQĐ viết, là lần đầu tiên Giáo hội Trung ương lên tiếng, mà cũng là lần cuối cùng cất lên…”. Có nghĩa là HT khóa chặt cửa thiền. Không những tôi mà bất cứ ai muốn lên tiếng, Ngài cũng sẽ im tiếng. Nhưng, với tôi diễn đàn vẫn chưa đóng. Bởi vì, bên bênh vực cũng như bênh chống bênh vực đều ước muốn chân lý tất thắng!
Riêng tôi, tôi có chờ đợi bị phản bác đã ‘dám’ đụng tới các Thầy, với luận cứ khó lay chuyển “đụng tới Tăng là…chạm tới Phật, là phá hoại Phật Giáo” của một thiểu số đồng hoá các Sư với Đức Phật! Chính vì thiểu số quá khích nầy mà tôi đã mở đầu bài viết với Lời Phật dạy. Có nên hiểu giới tăng ni chỉ là ngón tay chỉ trăng… “kia mới là trăng”chăng?
Chót hết, tôi muốn hỏi những ai cùng cảnh ngộ, từng đổ xương máu đương đầu với quân Bắc phương, đã từng hứng chịu biết bao tủi nhục trong hỏa ngục ‘cải tạo’ của CS, đã từng vượt qua cái chết tìm đất sống tạm dung với muôn ngàn gian truân, khổ hạnh: Sau khi xông pha nơi tiền tuyến với hiểm nguy gục ngã trên chiến trường, chúng ta trở về hậu cứ không có lấy một giờ phút yên tĩnh dưỡng quân, với một hậu phương lúc nào cũng bị xáo trộn bởi những vụ xuống đường tranh đấu thì… thử hỏi “Ai ‘hiếp’ ai đây?”. Những Sư-chuyên-viên-xách-động Trí Quang, Đôn Hậu…ông Albert Trần cùng các đồng chí…hướng của ông, lũ đồ tể Văn Hảo, Dương Tiềm, Ngọc Tường, Ngọc Phan, Đắc Xuân và đồng bọn, v.v… ‘hiếp’ chúng ta hay chúng ta ‘hiếp’ họ? Có thể nào chúng ta hiểu nổi khi họ la toáng lên: “Ối giời ôi! Chúng nó ‘hiếp’ tôi!”…chăng?

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, mùa đông 2010
Lê Tấn Lộc























Monday, January 11, 2010

BỮA CƠM HÀN MẶC TỬ

Bên lề
Bữa cơm Hàn Mặc Tử
“Niềm tin là tin những gì không thấy
và rồi niềm tin sẽ cho thấy những gì đã tin”.
(Thánh Augustinô)

Lời giáo đầu: Đề cập tới hai đề tài ‘nhức nhối’ -một: Tôn Giáo, hai: Làm Việc Thiện- là ‘khiêu vũ trên những quả trứng’. Vẫn biết thế, nhưng trong thế chẳng đặng đừng, người viết đành “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, hy vọng được những ‘tâm hồn đồng điệu’ cảm thông, bao dung, chia sẻ…


Theo thông lệ, Dòng Phan Sinh Tại Thế Vùng Montréal hàng năm đều tổ chức Bữa cơm Hàn Mặc Tử, hy vọng đón nhận được vài món tiền ủng hộ tương đối ‘khiêm nhường’ giúp những anh chị em chẳng may mắc bịnh cùi tại quê nhà đỡ phần cơ cực hẩm hiu. Năm nay Cha Trợ Úy của Dòng, Aimé Đỗ Văn Thông, ofm, thực hiện Bữa cơm nầy ngày 17 tháng 10 năm 2009 qua một đêm văn nghệ tại nhà hàng Ruby Rouge…
Đặc biệt, lần nầy ‘Bữa cơm’ không được quảng bá rộng rãi trên các báo. Cho nên rất nhiều người không hay biết. Thế mà, cùng đêm đó, với ba bốn vụ ‘gây quỹ’ giúp thiên tai tại VN qui tụ trên dưới hai ngàn thực khách, hội trường Ruby Rouge vẫn gần bít hết các lối đi với 450 dòng viên và thân hữu tham dự ‘bữa cơm’! Uy tín của Cha Thông một lần nữa được minh chứng! Danh xưng ‘Bữa cơm Hàn Mặc Tử’ cũng như ‘Bánh chưng Hàn Mặc Tử’ trong dịp Tết Nguyên Đán hầu như đã quá thân quen với cư dân Montréal và các vùng phụ cận cũng như với một số khá đông cư dân Ottawa và Toronto…
“Bữa cơm…”. Nghe sao hết sức, khiêm tốn, gần gũi, dễ thương …
-o-o-o-
H
iện tượng ‘trăm hoa đua nở’ gây quỹ làm việc thiện giúp người nghèo khổ, nạn nhân thiên tai, kể cũng lạ. Vô lẽ người Việt Nam ở hải ngọai đột nhiên giàu lòng từ bi quá đỗi với mỹ từ ‘khúc ruột ngàn dậm’ do nhà đương cuộc trong nước ‘ban cho’ mà động lòng trắc ẩn bỏ ra nhiều món tiền kếch sù (đôi khi lên tới năm, mười ngàn đô như chơi) cứu khổ cứu nạn ‘khúc ruột quê hương’, nạn nhân của Nhân Tai cường hào ác bá mới? Không rõ quí ‘ân nhân giai đoạn’ nầy thành tâm bỏ tiền ra ‘chẩn bần’, ‘bố thí’ vì bác ái hay thực ra chỉ vì thích ‘chơi trội’ phô trương (sô-ốp)? Đó là chưa kể quá nhiều vụ gây quỹ xây chùa, cất miễu, đại tu bổ nhà thờ, xây cất trường học, v.v… Thiếu điều muốn xây luôn nhà tù, tránh cho cha con nhà nước khỏi mở cái hầu bao riêng vàng rồng và đô la lớp lớp chất chồng cao như Hy Mã Lạp Sơn! Chưa kể một ‘vĩ đại’ thiền sư (vợ con đề huề) ôm của bá tánh về xây thiền viện để rồi bị san bằng! Cơ hồ như thiên hạ quên câu ‘cứu một mạng người hơn xây mười kiểng chùa’. Giá như ‘vĩ đại nhân’ dùng số tiền khổng lồ đó cứu nhân độ thế thì còn có chỗ châm chước. Đằng nầy… Quả thật hết ý! Ước gì thiền sư vĩ đại ‘tham-sân-si đủ mùi ca ngâm’ nầy và những ai muốn quyên góp tiền bạc của ‘khúc ruột ngàn dậm’ -kệ xác đám bần dân nơi quê nhà đói rách cùng khổ khao khát đợi chờ ơn mưa mốc- mang hiện kim hiện vật về VN xây cất chùa chiềng, nhà thờ cho thật ‘hoành tráng’, cho thật ‘ấn tượng’, chịu khó bỏ chút thì giờ đọc câu chuyện dưới đây mà người viết tìm thấy trên internet:
Có một người tên Tetsugen. Ông là một tâm hồn Thiền ở Nhật bản mơ ước in các tập kinh điển Thiền Sutra cho dân Nhật. Bấy giờ kinh điển của Thiền mới có bằng tiếng Trung Hoa bên Tàu. Ông lặn lội khắp nơi xin tiền. In bằng bản khắc trên gỗ, công trình rất cam go, tốn phí. Sau mười năm dành được tiền, sắp đem in kinh, dòng sông Uji ngẫu hứng dâng nước tràn ngập, lụt lội khắp miền. Dân chúng lâm cảnh màn trời chiếu đất, mất mùa khốn khổ. Băn khoăn trước số tiền mười năm quyên góp được, in kinh hay cứu người?
In kinh để truyền bá một triết lý, gầy dựng cả một suy tư tôn giáo. Cứu người chỉ là giai đoạn nhất thời. Rồi ai mà không chết ? In kinh có thể lưu danh lại tên tuổi. Ấy vậy mà Tetsugen không đành lòng đem tiền in kinh. Ông bỏ hết số tiền tích góp mười năm trời giúp nạn nhân lụt lội của dòng sông Uji. Thế là công trình mười năm với giấc mộng truyền bá Zen cho dân tộc Nhật theo dòng sông nước đục chảy vào hư vô.
Tha thiết với tấm lòng, ông lại lên đường hành khất xin tiền lần nữa. Mấy năm sau, dành dụm được một số tiền, ai ngờ một nạn dịch lan tràn, bao nhiêu người chết, động lòng trắc ẩn, ông lại đem hết tiền in kinh giúp người khốn khổ. Thoáng qua đã mười mấy năm. Tuổi đời theo thời gian ngắn lại.
Hết tiền in kinh, lòng ông vẫn tha thiết, ông lên đường xin tiền lần thứ ba. Mất mấy năm nữa, lần thứ ba này ông in được bộ Sutra. Thấm thoát hai mươi năm. Bản in gốc của bộ Sutra hiện còn lưu giữ tại Obaku, thiền viện ở Kyoto.
Trên đây không phải câu chuyện dụ ngôn để dạy thiền sinh. Nó là tấm lòng có thật. Một trái tim bồ tát, trái tim Chúa Kitô. Có những dòng sông và những định mệnh. Có nhiều dòng nước phù sa, lụt lội. Dòng sông và lời kinh ở đâu cũng có. Nhưng những tấm lòng dám hy sinh lời kinh vì lấy con người làm chính lời kinh thì không nhiều. Bởi nó là một lối suy tư rất khác. Ôi! những con người với những tấm lòng.
Hôm nay, nhắc nhở đến Tetsugen, dân Nhật giáo dục con cái họ là Tetsugen đã in ba lần bộ kinh Sutra. Lần thứ nhất ông in bộ kinh ấy trong trận lụt của dòng sông Uji. Lần thứ hai in trong cơn bệnh dịch của xứ sở. Lần thứ ba in bằng mực. Hai lần trước vô hình không nhìn bằng mắt xác thịt được, nhưng hai lần ấy cao cả linh thiêng hơn lần thứ ba.
Đền thờ Jerusalem đẹp thế, các môn đệ xít xoa khi đi ngang qua, thế mà Chúa chẳng để ý. Chúa bảo đền thờ là một tấm lòng.
Trong bối cảnh hôm nay, giả sử Tetsugen là linh mục, là ông trùm, có thể ở Việt Nam, ở Ấn Độ hoặc bất cứ nơi đâu, ông sẽ xử trí ra sao? Giả sử bạn là Tetsugen bạn sẽ xử trí ra sao?
Phong trào (hay dịch) gây quỹ làm việc thiện ‘bùng phát’ ở hải ngoại gây nhiều tranh luận, bênh vực có, chống đối có. Bên nào cũng cho mình có lý. Và bên nào, khi tranh luận cũng ít nhiều cường điệu. Trước khi lạm bàn, người viết muốn trình bày một vài cảm nghĩ thô thiển về ‘bữa cơm’ nói trên.
**
N
hìn chung, hầu hết mọi việc đều diễn tiến tốt đẹp, từ tiếp tân, hoạt náo, ẩm thực, sinh hoạt văn nghệ…Điều đáng nói là -đúng như ý Cha Trợ Úy Dòng ao ước- tất cả anh chị em dòng viên và thân hữu đến trợ lực đều vui vẻ chung sức điều hợp cho công việc từ thiện tiến hành nhịp nhàng và…nhẹ nhàng (không nhất thiết phải đạt kết quả tối đa về tài chánh), khiến cho tất cả tham dự viên không cảm thấy bị gò ép đóng góp, trái lại cảm thấy thoải mái ‘trước chung vui sau làm việc nghĩa’…
Cha Thông luôn di động trong hội trường để có mặt với hầu hết dòng viên và thân hữu. Đâu đâu Cha cũng được săn đón, mời mọc nồng hậu. Cha hoàn toàn hòa nhập với toàn thể tham dự viên, khi thì cùng ăn một vài món, lúc cùng nhấm nháp một vài ly rượu chào mừng nhau… Người viết nghĩ rằng linh mục phải đi bước trước đến tiếp cận chẳng những với giáo dân và còn với tất cả mọi người. Cha Thông thuộc hàng linh mục nầy. Kết quả tài chánh bữa cơm vượt xa ước đoán của Ban Tổ Chức, đa phần do cảm tình và lòng tin tưởng mà hội trường đã dành cho Cha Thông bấy lâu nay. Ngay cả kinh phí cho Ban nhạc, dàn âm thanh cũng được một Mạnh Thường Quân ẩn danh tự nguyện trang trải. Được biết tổng số thu, sau khi trừ chi phí nhà hàng, lên tới hơn 30.000 đô la Canada. Một thành tích đáng kể đối với một Dòng tu tại thế mà tôn chỉ là khiêm hạ và nghèo khó! Và sẽ là một niềm an ủi vô biên cho những anh chị em bất hạnh mang bịnh cùi tại quê nhà, ít được ai ngó ngàng tới, sống chết bỏ mặc (laisser pour compte)…Chắc hẳn những anh chị em cửu cùng bát khổ nầy sẽ vô cùng xúc động trước biểu lộ tình người của những ân nhân hiện diện trong Bữa cơm chan chứa ân tình đêm ấy. Người viết mường tượng những con người bị xã hội ruồng bỏ nầy, như Hàn Mặc Tử trước đây, sẽ rơi nước mắt, ngước nhìn trời cao vô vàn cảm kích:
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ.
(Hàn Mặc Tử,Thánh Nữ đồng trinh Maria)

Hãy thử tìm hiểu phương thức sử dụng số tiền trên đây sao cho đúng mục tiêu nhắm tới.

Trong một lần sinh hoạt linh hướng, Cha Thông ngỏ ý với anh chị em dòng viên (ACE ) muốn làm việc thiện hữu hiệu -và đúng nghĩa từ thiện- tại VN thì chớ có ‘gióng trống thổi kèn rầm rộ’, thành lập phái đoàn nầy, hướng dẫn phái đoàn kia ‘chính thức’ ra mắt chính quyền địa phương xin phép ‘hoạt động’. Nên kín đáo, âm thầm đến với đối tượng cần giúp đỡ. Phúc Âm đã không ngừng khuyến nhủ tay phải bố thí thì tay trái chớ nên biết sao? Ẩn danh vừa an toàn cho đôi bên cho và nhận vừa tránh cho người từ tâm khỏi mang tiếng khoa trương. Chưa kể số tiền quyên góp làm việc thiện dọc đường bị thất thoát gần hết vì kinh phí di chuyển, ăn ở và nhất là vì…thủ tục ‘lịch sự ra mắt’! Bởi thế, từ lâu Cha Thông và các ACE cộng sự áp dụng cách thức ‘kín đáo, âm thầm’, không qua các trạm trung gian, trực tiếp với đối tượng…Nhất là những ACE tự nguyện làm công tác từ thiện cho Dòng PSTT tại quê nhà đều phải tự túc các khoản chi tiêu cần thiết cho chuyện làm việc thiện nầy, sao cho số tiền quyên góp được không bị ‘sứt mẻ’! Cho nên, người viết phần nào cũng an tâm khi đọc bài viết dưới đây được tung lên ‘mạng’, tựa đề “Những tổ chức từ thiện muốn giúp đỡ thiên tai tại VN cần đọc” (không rõ tên tác giả):
Miền Nam Việt Nam (MNVN) trước 1975, không có sản xuất quan trọng, không mỏ dầu, chỉ nhận trung bình 700 triệu Mỹ kim một năm nuôi 17 triệu người và gồng gánh bộ máy chiến tranh. Trung bình 42USD / 1người / 1 năm.
Thế nhưng, MNVN là con rồng Đông Nam Á. Trường học MNVN từ mẫu giáo đến Đại học đều được hưởng quy chế miễn học phí. Người bệnh vào bệnh viện từ xã phường đến trung ương đều được miễn phí. Thiên tai năm nào cũng có nhưng cả nước đùm bọc lấy nhau. MNVN không cần ngửa tay xin tiền ngoại quốc.
Từ 1989 đến nay đã 20 năm nay, VN vẫn lẽo đẽo phía sau các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tụt hậu 35 năm so với VNCH năm 1975.
Việt Nam ngày nay ở vào thời đại WTO, thời đại mở cửa, không còn là thời đại thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ thuở trước 1989. Trước 1989 việc cứu trợ thiên tai tại VN là việc cần. Sau thời đại mở cửa 20 năm nay, VN phát triển vượt bực. Những người về VN đều thấy việc hàng quán đầy đường, người xe kín lối, nhà chọc trời đầy dẫy, tất cả các nhà hàng đều đông nghẹt, khách sạn giá quốc tế, địa ốc ngang tầm hay mắc hơn cả Tokyo, Sydney, Whasington DC ....
Mọi người đều biết triệu phú USD ở Việt Nam nhiều hơn triệu phú trong Cộng đồng người Việt Hải ngoại.
Số tiền trong nước đổ ra nước ngoài mỗi năm rất lớn đều tuôn vào các ngân hàng và các trương mục tư bản đỏ.
Do vậy việc cứu trợ và từ thiện Việt Nam đã đến lúc cần được xét lại một cách đúng mức.
Giúp đỡ thương phế binh VNCH bị bỏ rơi tại VN là cần.
Giúp đỡ những cơn bệnh hiểm nghèo VN không có phương tiện chữa trị là không thể bỏ.
Giúp đỡ những trường hợp cá biệt là cần.
Giúp đỡ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân và dân quyền là không thể thiếu.
Tuy nhiên việc tổ chức thành những phong trào rầm rộ dưới hình thức từ thiện mang tiền về nước cống nạp cho CSVN là chuyện phải chống vì vi phạm luật lệ VN và không phục vụ lợi ích đích thực của cộng đồng hải ngoại. Luật lệ CHXHVN ghi rõ không tổ chức nào trong nước và ngoài được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan Cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Những tổ chức vận động lạc quyên hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn mà nói rằng có thể mang về mua quà cứu trợ trao tận tay nạn nhân hết số tiền này, đó là vấn đề cần được các tổ chức khác nhau trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại nghiên cứu và tìm hiểu thích đáng.
Thay vì mang tiền về! Chúng ta chỉ giải quyết ngọn mà không giải quyết gốc.
Tại sao chúng ta không vận động chính phủ, vận động các nhà hảo tâm, vận động các nhà tư bản đỏ trong nước để họ tự đùm bọc giúp đỡ nhau?
Tại sao không vận động chính phủ tổ chức cứu trợ đúng mức cho nạn nhân trong nước?
Việc cứu trợ có thể giải quyết thỏa đáng bằng quy hoạch của chính phủ chứ không bằng các vận động ồn ào bòn rút của cải hải ngoại. VN trước 1975 không cần xin hải ngoại như hiện nay để giải quyết thiên tai, thế nhưng người dân vẫn no ấm và “phồn vinh giả tạo”.
35 năm qua chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào ruột thịt của mình tại hải ngoại và cho tổ quốc mới của chúng ta.
Đừng nên quá ôm đồm.
Cộng đồng VN hải ngoại còn nhiều người “mù vi tính”. VN sắp sang giai đoạn xoá mù vi tính.

Chúng ta đã giúp VN từ 1975 đến nay.
35 năm cũng đã quá tròn tình nghĩa đối với người đã đưa tiễn chúng ta khi ra đi bằng đại liên trực xạ và trìu mến gọi ta bằng “ngụy quân, ngụy quyền, ham mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc, chây lười lao động, vượt biên phản quốc ...”
Đã qua thời 20 năm mở cửa (1989 – 2010).
Chúng ta đã làm đủ mọi thứ cho Việt Nam .
Xây cầu. Cất trường. Nuôi dạy trẻ mồ côi. Nuôi dưỡng người tàn tật. Giúp đỡ người nghèo, người bệnh. Xây chùa, nhà thờ ...
Thời gian 35 năm qua Bộ Thương Binh Xã hội VN đã báo cáo nhiều thành tích tốt mà không cần động đến móng tay và không cần quan tâm chăm sóc phúc lợi người dân trong nước vì ... mọi thứ đã có “bò sữa” hải ngoại chăm lo.”
***
C
òn lại vấn đề ‘nhức nhối’ Gây Quỹ (Tây gọi Levée de fonds, Mỹ nói Raising fund), một vấn đề vừa xã hội vừa ‘tôn giáo’, rất đáng được đề cập tới, cho dù có phải ‘khiêu vũ trên những quả trứng’!
Người viết muốn lạm bàn lắm, nhưng e ngại mình không được bình tĩnh, chịu ảnh hưởng cảm tính hơi nhiều, sanh ra chủ quan: vấn đề raising fund nầy đã làm hắn xốn mắt, ngứa mồm khá lâu mà vì tôn chỉ ‘an hòa’ của Dòng PSTT hắn phải cố dồn nén, để rồi cam đành ‘bịt mắt câm miệng’…Cho nên người viết xin mời ACE và bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây:
Một trong những lời căn dặn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trước khi qua đời là: Tiếng chuông và những làn khói.
Họ đến Roma để chứng kiến giây phút lịch sử. Chờ công bố Giáo Hoàng mới.
Nếu không vỗ tay khi làn khói bay lên, lỡ là khói trắng, họ mất cơ hội là những người đầu tiên reo mừng vì chứng kiến làn khói lịch sử.
Nếu vỗ tay mừng mà là khói đen thì giây phút lịch sử ấy lầm lỡ quá.
Media, truyền thông khắp thế giới quay ống kính vào làn khói. Không biết bao nhiêu nghìn phóng viên quốc tế chỉ chờ giây phút lịch sử ấy để mình là người đầu tiên loan tin về một làn khói. Không biết mấy trăm triệu người theo dõi truyền hình về một làn khói.
Người ta bực mình về một làn khói. Không đen, không trắng.
Thế kỷ này, người ta chứng kiến, người ta sống một trời lịch sử về những làn khói.
Con người hôm nay đang khủng hoảng về những giá trị không rõ trắng, rõ đen.
Trước khi vĩnh biệt trần gian, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để lại tiếng chuông trước những làn khói.
*** **
Khói ở công trường Roma không nhiều, hai mươi sáu năm nay mới lại xảy ra. Khói ở cuối sân nhà thờ thì nhiều.
- Nhóm quyên tiền giúp người nghèo.
- Nhóm quyên tiền bảo trì đền thờ.
- Giáo dân tổ chức raising fund.
- Linh mục tổ chức raising fund.
Nhóm nào cũng muốn khói mình bay cao, bay xa. Nhóm nào cũng muốn mọi người chú ý đến ống khói của mình. Lúc này cuối sân đền thờ rất nhiều thứ khói.
- Có khi giáo dân trách linh mục về raising fund. Cuộc đời họ là chạy theo nhu cầu để raising fund rồi, ít được học về Chúa, khi đến nhà thờ, họ xin các ngài hãy nói cho họ về Chúa.
- Có khi giáo dân lại xin các ngài raising fund. Họ rủ các ngài vào nhóm raising fund. Họ tập cho các ngài raising fund. Họ dựa vào các ngài mà raising fund.
- Có khi linh mục muốn raising fund nhiều hơn giáo dân.
Cuối sân giáo đường hôm nay, khói bay muôn hướng.
Rồi từ những làn khói bay. Có người cay mắt. Có tiếng kêu. Có người mắt cay mà không kêu. Có người kêu mà khói vẫn bay. Từ những làn khói, có người bỏ cuối nhà thờ đi chỗ khác. Thì cũng từ những làn khói, có những người bỏ nhà thờ từ lâu, nay lại tìm đến. Đó là kỳ diệu của những làn khói. Có làn khói làm người đi xa. Có làn khói đem kẻ khác lại gần.
LỜI KINH VÀ NHỮNG LÀN KHÓI
Cha Nguyễn Văn Quang, một linh mục người Việt Nam, coi một họ đạo lớn người Mỹ ở Greeley, gần Denver, Colorado. Một ngày chúng tôi lên núi Rocky Mountains. Trong câu chuyện đời sống linh mục. Chúng tôi nói chuyện với nhau.
- Mình là linh mục mà 60 phần trăm thời gian phải lo administration mất rồi. Có cuối tuần mất hàng tiếng đồng hồ chỉ ký checks cho nhân viên. Thế này thì hỏng, phải xét lại.
Linh mục được huấn luyện để nói về Chúa. Vai trò quan trọng của linh mục là sứ ngôn. Công bố Lời Chúa. Chúng tôi không được huấn luyện để raising fund. Nếu có linh mục kém raising fund, xin giáo dân đừng trách, đừng đòi buộc và so sánh. Khi có những linh mục raising fund giỏi, giáo dân ca tụng. Họ nhờ, họ xin các linh mục đó raising fund. Ca tụng linh mục này raising fund giỏi, chê linh mục kia kém, từ đó, giáo dân đưa dần làn khói, rất tiếc, không đen, không trắng vào cuối giáo đường, và có thể làm cay mắt nhiều tâm hồn.
Linh mục mà phải lo administration, phải lo đối phó với nhóm này, nhóm kia, phải raising fund, phải lo trả lời phỏng vấn, phải lo nhiều thứ quá, làm sao có thời giờ soạn bài giảng, làm sao có thời giờ đọc văn kiện Giáo Hội, làm sao có thời giờ nhận định xem khói đang bay về đâu, khói luân lý, khói đức tin, khói văn hóa, khói xu hướng, khói trong Giáo Hội, khói ngoài cuộc đời.
Trong những cuộc raising fund, làm cách nào để tránh được khói cạnh tranh?
Khi linh mục có mặt trong các chương trình này, dù tốt đến đâu, nếu có sự cạnh tranh, sẽ có “triệu người vui, và triệu người buồn.” Khói sẽ làm kẻ này đến nhà thờ, khói cũng làm kẻ khác bỏ đi. Nếu một việc mà như thế, một mục tử có nên làm không? Hay là trở về với bục giảng, để an ủi kẻ này bị khói làm cay mắt đừng bỏ nhà thờ đi, và cảnh tỉnh kẻ kia đừng lấy khói làm ai cay mắt.
Đức tin không có lòng xót thương, nó không có địa chỉ để về.
Lòng xót thương dễ ngộp thở trong một thế giới cạnh tranh.
Muốn giết lòng xót thương, có lẽ không khó. Cứ khen cha kia tổ chức giỏi, chê cha này giảng dài. Khen ông chủ tịch cũ, nhờ ông mà cộng đoàn mua được miếng đất. Hỏi ông chủ tịch mới, khi nào hội đồng mục vụ mới xây tượng đài? Nói Rollo hay thế sao kỳ này họ không mời? Cứ so sánh, khen và chê, sẽ thấy sinh hoạt xứ đạo ngộp thở, nhiều tâm hồn khốn khổ và lòng xót thương có thể sẽ chết tự bao giờ.
Khi một đoàn thể Công giáo tiến hành mà chỉ mong đoàn thể mình thành công hơn đoàn thể kia, thì đâu là Công Giáo tiến hành? Khi một dòng tu mà chỉ muốn dòng mình phát triển. Thành công của Phúc Âm là gì? Đối với việc tông đồ, làm sao có thể cổ võ kẻ khác bỏ tiền vào quỹ người nghèo do mình lập nên, đừng bỏ tiền vào quỹ kia? Nếu thế, đâu là lý chứng biện minh cho lòng bác ái và hành động như vậy? Nếu không, cứ khuyến khích người ta bỏ tiền vào quỹ kẻ khác, thì đâu là quỹ do mình lập nên? Đó là thách thức của lời kinh và những làn khói.
HỌC THUYẾT PHAOLÔ: ĐƯỢC LÀM KHÁC VỚI NÊN LÀM
Trong cộng đoàn Côrintô đã xẩy ra những chuyện được làm nhưng không nên làm. Phaolô viết:
“Được phép làm mọi sự” nhưng không phải mọi sự đều có ích. “Được phép làm mọi sự” nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng. Đừng ai tìm lợi ích riêng nhưng hãy tìm lợi ích chung. Tất cả những gì bán ngoài chợ anh em cứ việc ăn… Nhưng nếu có người bảo: “Đây là của cúng” thì đừng ăn. Tôi không có ý nói lương tâm anh em, nhưng vì lương tâm người khác.(1 Cor. 10:23-33 - Xem chú thích câu 29,
bản dịch Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ).
Phaolô cẩn thận cắt nghĩa là ăn của cúng không sao, nhưng nếu vì gương xấu cho người khác thì đừng ăn. Phaolô viết:
“Không phải của ăn làm chúng ta gần Thiên Chúa. Không ăn những thứ đó, chúng ta chẳng thiệt, mà có ăn cũng chẳng lợi gì. Nhưng hãy coi chừng kẻo sự tự do của anh em nên dịp cho người yếu đuối sa ngã.” (1 Cor.10:8-9).
Trường hợp cụ thể xẩy ra ở cộng đoàn Côrintô là vấn đề ăn thịt cúng. Nếu dựa vào hiểu biết của mình, cứ làm, không cần biết gương mù có thể gây ra, nghĩa là biết ăn của cúng không có tội, cứ ăn, còn ai nghĩ thế nào kệ họ, Phaolô viết rất rõ về thái độ đó như sau:
“Thế là sự hiểu biết của bạn làm hư mất một người yếu đuối, một người anh em mà Đức Kitô đã chịu chết để cứu chuộc. Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô. Vì thế, nếu của ăn mà làm cớ cho anh em tôi sa ngã, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt nữa, để khỏi làm cớ cho anh em tôi sa ngã (1 Cor. 11-13)..
Không phải chỉ gởi cho cộng đoàn Corintô. Trong thơ gởi cộng đoàn Rôma, chúng ta cũng gặp những căn dặn tương tự:
“Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Đừng vì chuyện ăn uống mà làm cho người anh em của bạn phải hư mất, vì Đức Ki-tô đã chết cho người ấy.
Vậy đừng để cho thiên hạ chê bai điều mà anh em cho là tốt.Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ai phục vụ Đức Ki-tô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng. Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. Đừng vì một thức ăn mà phá huỷ công trình Thiên Chúa. Đã hẳn, mọi thức ăn đều thanh sạch; nhưng ăn mà gây cớ vấp ngã, thì là điều xấu” (Rom. 14:15-20).
Trong hoàn cảnh xã hội hôm nay. Các vấn đề raising fund cần thận trọng. Nhưng tìm đâu tiêu chuẩn thận trọng? Có nên tìm hiểu thêm trong học thuyết này của Phaolô như một tiếng chuông không?
NHỮNG NGUY CƠ
Trong hoàn cảnh đặc biệt của người Công Giáo Việt Nam hải ngoại, raising fund là chuyện rất thường. Có khi cần. Nhiều người muốn đóng góp để xây dựng. Vấn đề là để được tốt, phải nói đến những nguy cơ để bảo vệ điều tốt kia.
1. Nguy cơ thứ nhất: Power
Đằng sau công việc từ thiện. Tiền bạc ngấm ngầm cho người ta power. Power ở đây mang nhiều mầu sắc:
- Power thứ nhất là chứng tỏ tài năng. Ai raising fund được nhiều, càng chứng tỏ nhiều power. Nhóm nào raising fund được nhiều càng chứng tỏ uy tín. Vì xã hội khen như thế. Đây là tiêu chuẩn xã hội, chứ chưa hẳn là đúng vì có những giá trị thành hình là do sự lầm lẫn của kẻ khác. Có người thành công trong raising fund, rồi cho là mình có tài năng. Có kẻ thấy người khác raising fund giỏi rồi cho rằng người đó có uy tín. Có nhiều cách raising fund. Nếu khen nhóm này đóng tiền nhiều để khích cái tự ái của nhóm kia thì đấy có là do tài năng và uy tín không? Nếu vì sự dễ tin của những tâm hồn chân thành mà dẫn họ vào những con đường vòng quanh mập mờ thì đấy có là nhân đức không? Giáo Hội đã có từng thời kỳ nhân danh ân xá để kiếm tiền, và đấy là một trong những nguyên nhân lớn trong cuộc ly giáo do Luther khởi xướng. Có đường lối thật, có đường lối sai. Phúc Âm gọi những tài năng giả, đường lối sai đó là những ngôi mộ tô vôi.
- Power thứ hai là được có quyền chi tiền cho ai. Thứ power này êm dịu, kín đáo vô cùng. Nó kín đáo lẻn vào lòng người, nhưng nó lại tỏ lộ trong thái độ sống. Người ta kín đáo che đậy, nhưng nó lại êm dịu như ánh trăng chiếu ra, không giấu được.
- Power thứ ba là được người chịu ơn ca tụng. Ai cũng bảo mình không muốn kẻ khác cám ơn. Nhưng ít người chỉ raising fund mà lại không muốn “đích thân” mình về Việt Nam trao tiền thì mới chắc chắn. Có hai thứ “đích thân”. Một là đến từ lòng nhiệt thành. Hai là kín đáo đến từ thứ power này.
Những power này, nó thầm kín, nhưng người ta dễ nhận ra. Những thứ Power trên đây không loại bỏ ai, giáo dân cũng như tu sĩ.
Khi không ai cắt cử mình vào công việc raising fund mà cứ có động lực thúc đẩy, thì cần cẩn thận vì có thể đàng sau động lực bác ái, đang bị những power trên đây thúc đẩy.Và đối với người dâng cúng tiền bạc cũng nên khôn ngoan nhận định những động lực này.
Tiêu chuẩn để canh chừng chính hồn mình, hoặc để khám phá ra các thứ power trên đây, thánh Phaolô đã viết cho cộng đoàn Galát:
“Hoa trái của Chúa Thánh Thần là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (Galát 5:22-23). Như thế, khi công việc dẫn tới những gì ngược với hoa trái trên đây, đấy là dấu chỉ cần thức tỉnh về những làn khói.
2. Nguy cơ thứ hai: Power
Đằng sau công việc từ thiện. Tiền ngấm ngầm lấy mất power của người ta. Nguy cơ thứ nhất, tiền cho người ta power có chất độc, nguy cơ thứ hai, trong power nó cho, nó lấy mất power nhân đức mình có. Power bị mất ở đây cũng mang nhiều mầu sắc.
- Power bị mất là không còn thời giờ cho đời thong thả, vì quá khắc khoải làm sao công trình của mình thành công. Với linh mục, thêm những mất mát khác, thiếu thời giờ thăm bệnh nhân, soạn bài giảng, học hỏi thêm. Và làm mình “chia trí”. Tại sao Đức Kitô quả quyết tiền bạc ở đâu thì lòng dạ ở đó. Nếu linh mục rơi vào tình trạng này thì lời giảng của linh mục mất nhiều power. Đây là mất mát rất lớn.
- Power bị mất là có thể mất lương tâm trong sáng. Tiền dễ đi tới gian lận. Lỗi đức công bình. Cắt nghĩa quá rộng cho lương tâm của mình vào vấn đề xử dụng quỹ bác ái. Ngày còn là các chú tiểu chủng viện Têrêsa, Long Xuyên. Cha giáo Vũ Sửu, bây giờ ngài vẫn còn sống, nhưng cha già yếu rồi, ngày đó, hơn ba mươi năm về trước, miền Tây thường lụt lội, ngài nhờ chúng tôi đi ủy lạo người nghèo bị lũ lụt. Tôi nhìn những thùng xà bông. Nhiều như thế kia, nghĩ làm công tác xong, thế nào cha chẳng cho mỗi đứa một bánh xà bông. Vậy mà ngài không cho một bánh nào. Lúc đó, đứa nào mà không buồn. Nhưng ngài dạy chúng tôi, dù một bánh xà bông, phải giữ tấm lòng trong sạch. Tôi vô vàn biết ơn những linh mục rất nhân đức
trong đời tôi.
- Power bị mất là không còn trái tim bao dung. Họ sẽ cạnh tranh với kẻ khác, gây gương mù. Có thể đi đến phá đám nhau. Gây chia rẽ cộng đoàn vì cần các đoàn thể khác ủng hộ mình. Người ta có thể gây chia rẽ và kiếm được trăm ngàn dễ dàng. Nhưng không dễ dàng dù chi trăm ngàn để chữa được vết thương đã chia rẽ. Trái tim bao dung và sự hiệp nhất có là tiêu chuẩn thành công theo cách thế của Nước Trời không? Việc làm của họ không còn siêu thoát. Giáo dân cũng vậy, tu sĩ cũng thế. Không nói đến tiền bạc, cách đây hơn hai mươi năm, vào năm 1984 cha Julian Elizalde, người Tây Ban Nha, hiện nay còn sống, đang làm việc ở Roma, một mình lái xe khắp các tiểu bang nước Mỹ lo tĩnh tâm cho giới trẻ Việt Nam. Tôi còn làm thày, xin theo ngài để học hỏi. Một chuyến hai cha con lái xe xuyên bang, ngài tâm sự:
- Có cha Việt Nam bảo giới trẻ nằm trong tay ông cha người Tây! Họ sợ tôi ảnh hưởng. Là pastor tốt thì phải lo cho giáo dân, đáng lẽ họ nên nhờ tôi đến giúp họ, họ lại cho rằng cho tôi đến giảng là một ân huệ.
Tôi còn nhớ mãi lời này. Xã hội này phải cạnh tranh mới sinh tồn. Cạnh tranh lẻn chui vào cả vấn đề thánh thiện của tôn giáo. Có những cộng đoàn giáo dân thiệt thòi chỉ vì pastor của họ như thế.
NHỮNG LÀN KHÓI HOANG MANG
Khi giáo dân hoang mang về những làn khói, không biết đen hay trắng, giáo đường sẽ là nơi rất buồn. Thánh Phaolô bảo ăn của cúng không sao. Nhưng nếu gây gương mù thì đừng ăn. Nhiều giáo dân thắc mắc, tại sao linh mục cứ phải bỏ thời giờ vào những việc mà giáo dân làm được, hay vì họ thiếu khả năng? Mỗi người tự chọn cho mình một chọn lựa. Nhưng đây là nguyên tắc không thể thay thế: Dù tu sĩ hay giáo dân khi tham dự vào các raising fund thì công việc này phải là những làn khói trắng vô cùng rõ ràng, không thể xám.
Ơn gọi của người hướng dẫn tâm linh là phân biệt cho người ta khỏi lầm lẫn về những làn khói. Phân biệt cho người khác không lầm lẫn những làn khói đã khó. Chính mình làm làn khói thì phải rất trắng để người khác không thể lầm lẫn.
Mê ngủ nơi thiền sinh thì khác nơi thiền sư.
Tín đồ lầm lẫn, họ mong các vị linh hướng giúp họ phân biệt khói trắng hay đen. Khi người hướng dẫn tâm linh lầm lẫn, mong ai phân biệt dùm mình.
Đức Giáo Hoàng Gioan – Phaolô II trước khi chết, Ngài thay đổi một nghi thức rất lạ. Để báo Tin Mừng cho thế giới là có Giáo Hoàng mới, đền thánh Roma không được để khói bay mà thôi. Trải qua nghìn năm lịch sử, thế mà bây giờ Ngài thêm vào: Khói trắng cũng phải có tiếng chuông kèm theo.
Công việc raising fund nhiều khi không rõ đen mà cũng không rõ trắng.
Khói bay ở sân nhà thờ hôm nay nhiều khi không rõ trắng, không rõ đen.
Đức Hồng Y Thuận đã phân biệt CHÚA và Công việc của chúa.
Để tránh lầm lẫn, mong ai phân biệt dùm mình?
- Phải có tiếng chuông!
Đối với giáo dân, làm sao linh mục giúp họ nhận ra tiếng chuông?
Đối với linh mục, đâu là tiếng chuông cho chính mình?
- Phải có tiếng chuông!
Đó là lời căn dặn của một con người đã làm xoay chiều lịch sử hôm nay.
Xin Đức Thánh Cha cầu bầu cho chúng con. Vì cuối sân giáo đường hôm nay có nhiều làn khói khác nhau.
Phụ Chú
Cần một tiếng chuông. Chính đời Đức Giáo Hoàng là một tiếng chuông rồi.
Có một phụ chú. Có thể chỉ là trùng hợp thôi, nhưng là trùng hợp rất đáng suy nghĩ. Ngôn ngữ Phúc Âm Gioan ở đây là tiếng chuông rất lạ, cho thấy kẻ đánh mất lý tưởng, phản bội Chúa và anh em mình là kẻ giữ túi tiền, chi tiền, quản lý tiền, là kẻ quan tâm đến người nghèo.
“Một trong các môn đệ của Đức Giêsu là Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người liền nói: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng bạc mà cho người nghèo.” Y nói thế không phải vì y lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: Y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung.” (Gioan 12: 4-6).
Power nào đã lẻn vào con người Giuđa?
Power nào Giuđa đã đánh mất?
(“Tiếng Chuông Và Những Làn Khói”, Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J)
-o-o-o-
B
ài viết Bữa cơm…nầy chỉ nhằm khơi dậy một vài điều rất tế nhị, rất nhạy cảm, nhất là rất…phức tạp, dễ gây va chạm trong việc làm công tác từ thiện và gây quỹ, mà theo người viết hình như càng lúc càng trở thành nếp sinh hoạt rất phổ biến, nếu không muốn nói là cái mốt (mode) rất ‘thịnh hành’ trong Cộng đồng Người Việt Hải ngoại, để cần lưu tâm hơn hầu tránh bị lợi dụng, bị khai thác sái mục tiêu từ thiện. Tuyệt nhiên, người viết không nhằm đả kích hay có ác ý châm chọc một đoàn thể hay một cá nhân nào hết. Việc tranh luận giữa hai phía bênh và chống các cá nhân hay đoàn thể hải ngoại về Việt Nam làm việc thiện chắc chắn còn tiếp diễn dài dài… Nói như Tây: Cuộc tranh luận vẫn còn triển mở (Le débat est encore ouvert)!
Tuy nhiên, thiết nghĩ có thể tạm kết bài viết rằng:
“Ồn ào ít khi làm nên điều tốt, việc thiện rất ít khi gây tiếng động” (Saint-François de Sales)

Thôn trang Rêu Phong, Xứ Tuyết, Đầu năm 2010
-Lê Tấn Lộc-