Thursday, November 25, 2010

CHÍNH TRỊ HAY TỪ THIỆN?





Nhân đọc một bài viết của bậc thức giả Vũ Ngọc Tân.

CHÍNH TRỊ HAY TỪ THIỆN ?
-Lê Tấn Lộc-

Càng lúc tôi càng nghiệm đúng xứ Chuột Túi quả là đất động nên nhiều “hiện tượng” (“phénomènes”) liên tục xuất hiện:
Vừa qua cơn bão nổi răn đe “không có cơ sở” bà con trong và ngoài nước chớ có rục rịch “âm miêu” lật đổ chế độ XHCNVN mà đứt cổ đấy, do một khuôn mặt rất có “tầm cỡ” trong Cộng Đồng Người Việt tại Úc quảng bá, thì nay lại tới phiên một đại thức giả -xin chớ đảo ngược thành giả thức mà mang tội châm chọc- hiên ngang cổ võ nhào vô làm từ thiện phi chính trị ở một nơi chốn độc tài chuyên chính là cơ cấu chính trị được đúc bằng bê tông cốt sắt 100%, chứ không bằng đất bùn trộn cát quấn chặt cốt tre đâu nhé, thường được nhà đương cuộc dùng xây cất cầu cống trong nước!

Thức giả Vũ Ngọc Tấn quả thực đã bỏ nhiều công sức và nhiệt tâm viết một bài nhận định rất công phu, thoạt nhìn rất… “sâu sắc” -xin chớ nói lái kiểu người miền Nam VN,  kẻo mang tội ác khẩu!
Kẻ ngu giả tầm thường nầy xin mạo muội góp vài ý thô thiển với bậc thức giả phi thường, nhân tiện trao đổi tầm nhìn hạn hữu của mình với bạn đọc  của bán tuần báo Việt Luận.

Rất may cho đọc giả và tôi, khi chọn đăng bài viết “Từ thiện & Chính trị: Việc giúp những người nghèo khổ ở Việt Nam & Chuyện cô Tim Aline” của đại thức giả Vũ Ngọc Tấn (VL #2509, thứ sáu 12 tháng 11/2010), Ban Biên Tập VL đã  lên tiếng trước trong LTS: “…quan điểm trong bài viết này không hẳn là quan điểm của Việt Luận”…
Vậy thì các góp ý của tôi cũng không nhất thiết được  BBT/VL tán đồng. Đọc giả cũng như tác giả Vũ Ngọc Tấn vẫn có thể phản bác. Cho rộng đường dư luận vậy mà!

-0-0-0-

Để quí bạn đọc tiện theo dõi, xin phép trình bày vài phần góp ý của tôi dưới hình thức “đối thoại”giữa ngủ giả-giả ngủ tôi và thức giả-giả thức Vũ Ngọc Tấn:

1)Về “việc giúp những người nghèo khổ ở VN”.

a) Thí dụ “trớt quớt”, lý luận quái chiêu!

-VNT: Ta đi qua một vùng ngoại ô thành phố - một đứa bé bị xe đụng – và tài xế gây ra tai nạn bỏ chạy luôn- Đứa bé nằm bên đường, dập ngực, chờ mong ta dừng xe lại, cứu giúp và đưa em vô nhà thương. Ta nhìn quanh, thấy em nằm rên la trước cửa một căn nhà. Ta lái xe đi luôn, lòng tự nhủ: chủ nhà đó ở gần em hơn, thì chắc chắn là phải giúp em. Còn ta- ta chỉ là kẻ qua đường, không phải là chuyện của ta.
Câu chuyện trên nêu lên hai chiều hướng suy luận: về mặt pháp lý- ta có thể không bị truy tố trước pháp luật khi ta nhìn thấy một người trong cảnh khốn cùng nhưng đã bỏ chạy. Nhưng về mặt lương tâm- nếu ta còn chút lương tâm- ta có nghĩ là sẽ bị ám ảnh suốt đời vì sau đó em bé có thể đã chết do lòng vị kỷ của ta?

-LTL: Quả thật tôi không hiểu nổi cao kiến của thức giả. Đưa thí dụ về đứa bé bị tai nạn, chủ nhà kế cận và người đi đường, phải chăng thức giả muốn mọi người hiểu đứa bé bị tai nạn là người dân nghèo khổ ở nội địa, chủ nhà gần nơi xảy ra tai nạn là nhà cầm quyền và bọn tư bản đỏ trong nước giàu sụ; còn người đi đường là… “khúc ruột ngàn dặm-con bò sữa hải ngoại” của bọn chúng? Ngu giả tôi xin hỏi thức giả phải chăng tài xế gây tai nạn rồi “vô tư” bỏ mặc nạn nhân là tay chân của đám giàu sụ kia, chẳng thèm động móng tay cứu người lân cận mà họ đã tận tình trấn lột; để rồi thức giả quy trách “con bò sữa hải ngoại” là vô tình, là…ích kỷ? Khúc ruột ngàn dặm nếu không có cơ may vượt trùng dương đến bờ bến tự do thì cũng cùng chung số phận như em bé bị tai nạn thôi! Thức giả còn nhắc khéo “nếu ta còn chút lương tâm”… Ta mới cần có chút lương tâm. Còn họ thì được miễn? Em bé bị tại nạn chết vì “lòng vị kỷ của ta”! Ta, chứ họ -người ruồi gieo máu lửa- thì không vị kỷ đâu, vì…vô can mà! Ngu giả hết phương theo nổi lý luận cao siêu của thức giả!

-VNT: Để cho chính phủ VN và các tư bản đỏ lo từ thiện:
Nay xin trở về với những người nghèo khổ bất hạnh tại Việt Nam ngày hôm nay. Một lập luận thường nghe lặp đi lặp lại nhiều lần- mà có nhiều người- kể cả các vị trí thức khoa bảng cho là chí lý: VN hiện nay có biết bao tư bản đỏ. Bọn chúng mỗi kẻ có cả tỷ đô la Mỹ trong ngân hàng. Mỗi năm VN có 23 tỷ đô la do viện trợ nhân đạo: Viện trợ quốc tế 3 tỷ, người Việt hải ngoại gởi về mỗi năm 10 tỷ, 10 tỷ do 500,000 Việt kiều du lịch về nước mỗi năm. Vậy tại sao ta không kêu gọi chính quyền CS Việt nam, các tư bản đỏ tại VN giúp người nghèo khổ? tại sao ta phải giúp? Giúp như vậy là ta đã gián tiếp tiếp tay cho chính quyền CS Việt nam, các tư bản đỏ- mà phần lớn là các cán bộ cao cấp- để chúng rảnh tay làm chuyện khác.
Xin thưa là lập luận như vậy – cũng giống như lập luận của kẻ lái xe bên đường nêu trên: nhìn thấy em bé hấp hối, nhưng không hề mảy may muốn cứu giúp em và đổ cho kẻ có nhà ở gần đó nếu không giúp em – thì tại sao ta phải giúp.
(…)Nay nói là những kẻ đó để cho chính phủ lo – và ta không cần phải biết tới- thì rõ ràng là ta đổ lỗi quanh để cho lòng ta thanh thản vì ta đã không muốn giúp ai.

-LTL: Hết cỡ nói! Thức giả quả thật có cách liên kết ý tưởng (association des idées) kỳ lạ (…lập luận như vậy…) và lối diễn dịch tuyệt chiêu -nếu không muốn nói là quái chiêu!- (ta đổ lỗi quanh để cho lòng ta thanh thản vì ta đã không muốn giúp ai. )!!! Suy bụng ta ra bụng người chăng, thức giả?

b) Ai “đáng xấu hổ”? Ai… “nên tỉnh lại”, thưa thức giả?

-VNT: Nước Mỹ, Úc là những nước giàu có, lợi tức đổ đồng mỗi đầu người một năm là từ 15 tới 20 ngàn đô la, nhưng tại sao dân Úc, dân Mỹ không đòi chính phủ dẹp các cơ quan từ thiện? và người Úc người Mỹ mỗi năm đã gây quỹ, làm từ thiện, cho từ thiện biết bao nhiêu lần, không phải là chỉ để giúp người ngoài- mà chủ yếu là giúp người khốn cùng trong nước họ. Và mỗi năm các cơ quan từ thiện như St Vincent De Paul, Austcare, Red Cross... đã giúp cho bao nhiêu người nghèo khổ tại Úc và Mỹ? Nói theo luận điệu là chính phủ có tiền thì để chính phủ lo- và tư bản đỏ có tiền sao không lo- rồi phủi tay quay đi- là một điều rất đáng xấu hổ.
-LTL: Thức giả đại nhân ơi! Phần nào thôi chứ! Các cơ quan từ thiện kể trên từ lâu đã được danh tiếng thực sự làm công tác từ thiện đích thực. Và được khắp năm châu tin tưởng trao gởi hiện kim, hiện vật. Các đoàn từ thiện “phe ta” có vươn lên tới tầm cỡ quốc tế đó chăng? Đó là chưa kể “phe ta” trước khi về trình diện nhà đương cuộc VN cũng thường hay kèn trống inh ỏi lắm. Cho nên “thủ tục đầu tiên ra mắt” khó thể né tránh. Đó là chưa kể “chi phí điều hành” của “phái đoàn” từ thiện, cho dù là thiện nguyện. (Red Cross không có mục chi tiêu nầy, cũng như không cần “hủ tục tiền đâu” lấy từ số tiền quyên góp của bá tánh giàu lòng bác ái). Xin đại nhân chớ nên kiêu căng quá mức mà đâm ra hấp tấp...phán : “Nói theo luận điệu là chính phủ có tiền thì để chính phủ lo- và tư bản đỏ có tiền sao không lo- rồi phủi tay quay đi- là một điều rất đáng xấu hổ”(?!). Họ -chính phủ và tư bản đỏ- ‘thanh thản” phủi tay quay đi sau khi chí cốt trấn lột đồng bào, phó mặc dân khố rách áo ôm thì có gì đáng xấu hổ đâu! Ta thì không được hành sử như thế, dù ta cũng suýt nằm trong đám đông khố rách áo ôm đó! Ta phải “xung phong” làm chuyện “lá rách đùm lá rách”. Có phải tiên sinh định hô hào như vậy khi khuyên nhủ “Ta có nên tỉnh lại với thực tại hay chăng?”. Dám hỏi tiên sinh: “Ta” đây là đọc giả và tôi hay là…thức giả nên…tỉnh lại?

c) Thức giả… “đâm hơi” chăng?

-VNT: Tất nhiên việc thiện nào cũng là việc thiện, nghĩa là giúp cho những khổ đau của nhân loại là điều nên làm, nhất là khi ta có phương tiện, thời gian và tấm lòng. Việc trả ơn những ân nhân của chúng ta là việc phải và đúng. Tuy nhiên nói là: Ta giúp người nghèo ở VN như vậy là quá đủ, nay ta phải quay đi giúp đỡ đền ơn những người khác- thì đây là một lời khuyên nhủ không phải là dễ nghe: Tôi đang yêu thương một người đàn bà, và lòng tôi chỉ rung động vì cô ta- nay bảo tôi đừng yêu, đừng rung động vì cô nữa mà phải rung động vì một bà khác – thì làm sao tôi rung động nổi. Mỗi người trong chúng ta có những ưu tiên riêng, cảm xúc và niềm lưu luyến riêng. Nay nếu một kẻ chỉ thấy cái khổ cuả người VN tại đất nước làm cho anh ta se lòng và muốn giúp- thì nên để cho anh ta yên thân làm cái điều anh ta muốn- vì có ép anh ta giúp nơi khác thì chưa chắc đã được khi mà lòng anh ta không muốn. Hơn nữa, anh ta đã chẳng làm một cái gì sai trái khi giúp người, bất kỳ người đó ở đâu.

-LTL: Bình tĩnh lại đi thức giả ơi! Lý luận kiểu thức giả dễ đưa tới chủ nghĩa sô-vanh (chauvinisme) mù quáng (dân tộc ta là NHẤT, ta phải luôn luôn tự hào dù phải tự hào trên đóng xương khô và đói meo bên đóng rác rưởi khổng lồ!). Nạn nhân thiên tai thì bất cứ nơi nào cũng đáng giúp. Càng lúc những ai giàu lòng bác ái càng hướng về các cơ quan từ thiện quốc tế để chọn mặt gửi vàng. Thức giả lẽ nào không thức tỉnh nhận ra nơi quê nhà đồng bào ta bị NHÂN TAI (cường hào ác bá mới) vạn lần kinh khiếp hơn thiên tai? Lẽ nào bậc cao kiến như thức giả không ý thức việc thiện đương nhiên là việc phải làm và cần làm NHƯNG…Bác ái mà không công bằng là… mù quáng, dù biết rằng công bằng mà không bác ái là…sắt máu!
Thức giả coi làm việc thiện như chuyện “yêu thương một người đàn bà”, tôi nghe sao mang máng như chuyện “xáo trộn văn chương với chả cá” của cụ Nguyễn Vỹ ngày xưa quá! Cho nên tôi nghĩ thức giả “đâm hơi” như chuyện chọc cười của cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch khi xưa: “Trời ơi! Cha tui chết! Mẹ tui chết! Vợ tui chết! Con tui chết! Bởi vậy cho nên…(thiên hạ chờ nghệ sĩ xuống vọng cổ!) VUI MỪNG VUI QUÁ VUI…SÁU BẢY NGÀY TUI VẪN CÒN VUI!”
Dĩ nhiên, tôi tôn trọng sự chọn lựa của thức giả  “muốn giúp ai thì là chuyện cuả ta- không nên ép người khác”. Thức giả cứ tự nhiên nhưng hy vọng thức giả cũng chớ nên ép đọc giả và tôi nhào vô làm từ thiện phi chính trị tại VN. Vì, thưa thức giả, phi chính trị cũng là một hình thức làm chính trị, không chọn lựa gì hết cũng là một hình thức chọn lựa: chọn lựa cách không chọn lựa  làm chính trị, nhưng làm chính trị  theo cách phi chính trị. Thức giả chắc hẳn còn nhớ: “Con người là một con vật chính trị-L’homme est un animal politique!” (Aristote).

d) Ai “giận lây”… “từ bỏ luôn…” vậy, thức giả?

-VNT: Điều quan trọng là ta đừng vì một vài kẻ có quyền thối tha, ăn cướp cơm chim này mà giận lây và từ bỏ luôn những người nghèo khổ.

-LTL: Ô hô! Ô hô! Hết ý! Điềm nhiên tọa thị phớt lờ cho tập đoàn mafia CSBV triều cống đất nước cho bọn Tầu Phù, trên xương tủy của dân đen, rồi vứt đồng bào dở sống dở chết vì thiếu dinh dưỡng ra đường cho khúc ruột ngàn dặm chập chộ cho hồi sinh để bọn bán nước tiếp tục trấn lột thì…xin hỏi  ai từ bỏ ai vậy, thưa thức giả? Đất nước mà bọn chúng -tập đoàn mafia CSBV- còn ngang nhiên  “từ bỏ luôn” huống hồ gì “những người nghèo khổ” -chuyện nhỏ, đối với chúng! Cha nhẽ thức giả kêu gọi chúng tôi hà hơi tiếp sức cho lũ ác quỉ càng lúc càng vinh thân phì gia, sinh sôi nẩy nở, luôn to mồm tự hào chúng…YÊU NƯỚC?

e) Về Nghị định số 64/2008/NĐ-CP

*Hình như thức giả VNT không tin tất cả các hoạt động từ thiện, trong cũng như ngoài nước đều phải nằm dưới sự phối kiểm của Mặt Trận Tổ Quốc. Tôi xin miễn bàn tới quan điểm cá nhân của thức giả. Nhưng cũng xin thức giả lưu ý Nghị Định nầy đã khiến các cơ quan từ thiện quốc tế (ONG) ít nhiều chùn chân, giảm bớt cường độ “dấn thân” cứu nghèo đói tại VN. Đa số công tác từ thiện tại VN giờ đây hầu hết do những đoàn thiện nguyện người Việt trong và ngoài nước phối hợp hoạt động với các đoàn thể tôn giáo và các tư nhân-Mạnh Thường Quân…nín thở qua sông đảm trách, dưới trướng của MTTQ! Không riêng gì ở VN, mà cả ở những nước bị thiên tai khác, các ONG nầy cũng ít nhiều “ê càng” với các “hủ tục đầu tiên” quá “kích xúc” với họ!
*Chuyện thức giả nói về Viet Vision Projet (VVP), cũng như chuyện mổ cờm mổ mắt cho đồng bào do quí BS hảo tâm thiện nguyện tại Úc, tôi cũng xin miễn góp ý vì tôi không ở Úc. CĐNV tại Úc chắc chắn rõ biết hơn ngu thức tôi.
*Tuy nhiên, về điểm sau đây, tôi xin được góp ý:

-VNT: “…vậy thì ta thử hỏi những người mang tiền của về VN xây chùa, đào giếng nước, xây cầu họ đã phải nộp cho nhà nước CS bao nhiêu? –Và những người xây chùa, đào giếng nêu trên, có biết Mặt Trận Tổ Quốc là ai?

-LTL: MTTQ không chỉ ở Sài Gòn hay Hà Nội. Hệ thống tổ chức của họ lan rộng tới chính quyền cấp phường, xã, ấp! “Những người mang tiền về…” nầy không nhất thiết biết MTTQ Trung Ương, nhưng không thể qua mặt phường xã ấp! Tuy nhiên, họ tương đối (nói rõ: tương đối) thoát nạn “hủ tục đầu tiên” vì những công tác từ thiện nầy không là món “béo bở” xứng đáng với khẩu vị của tập đoàn mafia. Vả lại có người bỏ công, bỏ của làm công việc mà chính chính phủ phải làm (trừ khoản xây chùa, nhà thờ…) thì việc gì họ phải dấy vào cho mất thời giờ dành “đánh mùi” các áp phe kếch sù hàng tỉ đô la?
Cho nên, tôi vẫn nghĩ rằng cách thức cá nhân “không kèn trống inh ỏi” làm việc thiện vẫn là phương thức hữu hiệu nhất để hiện kim hiện vật tới thẳng đối tượng cần cứu giúp mà không bị “thất thoát dọc đường”!
Cũng xin thức giả đừng quên, thời VNCH, không có chuyện chính phủ “bán cái” cho dân chúng hay kiều bào hải ngoại xây cất trường học, thiết lập cầu cống, đường xá, đào giếng, vét mương, v.v…Mà lúc bấy giờ đất nước đang chiến tranh, chứ đâu được thanh bình như hiện nay!
Xin hỏi thức giả, VN hiện nay có thiếu hiện kim để cứu nghèo đói chăng? Bỏ qua mục tài sản tiền rừng bạc bể mà các cán bộ CS gộc “cha mẹ dân” vùa hốt, tới đứa con nít cũng rõ biết vì nó nhan nhản trước mặt mọi người, mới đây chẳng hay thức giả có xem trên Net chuyện họ vay hàng chục tỷ đô để xây cất Cầu Sao Sa chăng? Lẽ nào thức giả quên họ gán cho VNCH trước đây là…”phồn vinh giã tạo”?

2) Về  “Chuyện cô Tim Aline Rebeaud và căn Nhà May Mắn”

Thú thật, tôi hết sức kiên nhẫn đọc tới đọc lui đoạn văn khá “ấn tượng” nầy của thức giả VNT để tìm hiểu cao kiến đứng trên mọi lập trường quốc-cộng, cùng sự can đảm của người dám suy nghĩ ngược chiều với suy nghĩ của đa số tương đối cao của đồng bào, trong cũng như ngoài nước, về chuyện từ thiện phi chính trị tại VN. Nhất là chuyện quyên góp tiền bạc của khúc ruột ngàn dặm giúp khúc ruột nghèo khổ nơi  quê nhà, do cô Tim Aline Rebeaud phát động rầm rộ khắp năm châu: Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Đức…

a) Câu chuyện  Cờ Vàng và cô Tim

Chuyện các ONG hoạt động được trong thời chiến, khi đôi bên giao tranh là chuyện thực sự xảy ra. Chuyện chào cờ và suy tôn Ngô Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa cũng là một sự kiện lịch sử khó phủ nhận tính cách quá lố của nó. Nhưng việc cố TT Ngô Đình Diệm bị thảm sát không kèn trống inh ỏi so với việc dân Nga Sô, Bắc Hàn, Việt Cộng, Trung Cộng được xách động đổ xô ra đường nhào lăn, giẫy giụa, quằn quại khóc kể thảm thiết khi bác Staline, bác Kim Nhật Thành, bác Hồ Chí Minh, bác Mao Trạch Đông qua đời, ít ra cũng ít lố bịch hơn nhiều.
Tuy nhiên, thức giả lôi chuyện ONG và chuyện suy tôn Ngô Tổng Thống ra để biện minh cho thái độ xấc xược của cô Kim đối với tập thể người Việt tại vùng đất định cư được mặc nhiên coi như “Thủ đô của Người Việt Tị Nạn Cộng Sản” là…trật lất, vừa không phải chỗ vừa không phải lúc!

*Thứ nhứt: Trước 75, VNCH và VC giao tranh trên đất nước VN. Sau 75, VC ngự trị sắt máu trên quê hương. Người dân bỏ phiếu bằng chân theo lý tưởng VNCH ra định cư trên vùng đất tự do nơi đất khách…Mô thức không treo cờ bên nầy hay bên kia khi hai bên đang lâm chiến không còn ứng dụng nữa…Hãy thử về VN trương cờ vàng ba sọc đỏ xem!
Ngược lại muốn trương cờ đỏ sao vàng tại Little Saigon hay tại Đại Hội Giới Trẻ ở Úc cách đây vài năm, ắt sẽ thấy ngay phản ứng của các phe liên hệ! Khác nào mang cờ Á Rập vô nhà thờ Do Thái và ngược lại! Y như muốn mang cờ Vatican cắm trên nóc chùa và đem cờ Phật cắm trên nóc nhà thờ!

*Thứ hai: Từ đó, tôi nhận thấy cô Tim tùy tiện hành sử như chỗ không người. Hình như cô quên chuyện nhập gia tùy tục. Đồng ý chào cờ hay treo quốc kỳ nên trong khung cảnh trang nghiêm. Nhưng có lẽ thức giả chưa biết hết chi tiết về chuyện xảy ra ngày 25/10/2008 tại Trụ sở CĐNV vùng San Fernando:
Đó là trụ sở sinh hoạt của hội đoàn nầy, nên Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đương nhiên được treo thường xuyên, biểu hiện “căn cước” của tập thể đó. Cô Tim đến tập thể nầy quyên góp tiền bạc. Cô bước vào nhà của tập thể nầy để xin tiền cho căn Nhà May Mắn do cô “chủ động” dựng nên ở VN. Cô là người đi xin, chủ nhà là người cho. Ấy thế mà cô trịch thượng ra lịnh cho gia chủ hạ cờ vàng ba sọc đỏ của họ thì cô mới…chịu nhận tiền! Cô nầy ngon nhỉ? Chưa hết, cô đòi triệt hạ hết các huy hiệu liên quan tới tập thể nầy treo trên tường! Sẵn trớn, cô “tới luôn bác tài”, yêu cầu Ban Tổ Chức gở huy hiệu CĐNV San Fernando mà họ đang gắn trên ve áo và đeo huy hiệu Tim-Maison de Chance của cô lên! Điều không thể hiểu nổi là BTC thỏa mãn tất cả yêu sách của người đến xin…bố thí! Có lẽ các vị không nỡ vì thái độ quá hách xì xằng của cô Kim mà “giận lây và từ bỏ luôn những người nghèo khổ” như thức giả đang khuyến nhủ chúng tôi chăng?
Hãy thử đặt ngược vấn đề: Cô Kim về Hà Nội, đến một cơ quan công quyền xin tiền giúp cô nhi quả phụ VN ở hải ngoại và yêu cầu họ hạ cờ đỏ sao vàng xem sao!
Tôi thấy thức giả cố gắng đến tuyệt vọng, quanh co bào chữa cho thái độ phách lối vô song của cô Kim đến độ bất công với tập thể người Việt hải ngoại….
Thế mới biết “bác ái mà không công bằng là…mù quáng”!

*Thứ ba: Dám hỏi thức giả có dịp nào đến tận nơi để xem các cư dân được tuyển chọn vào căn Nhà May Mắn của cô Kim chưa? Riêng tôi, được hai người bạn làm việc từ thiện với tư cách “cá nhân” đến tận nơi quan sát: Như một thế giới huyền diệu của Alice. Các em, một số bị khuyết tật, được ăn mặc tươm tất, lo lắng từ miếng ăn, thức uống, có máy vi tính riêng…Nói nhanh, các em được chăm sóc như tuyển sinh trong Quốc Tử Giám! Một ốc đảo sang trọng lẻ loi mọc lên giữa vùng sình lầy khốn cùng, nghèo đói, bệnh tật bao quanh!
Đó là chưa kể, nếu có thì giờ chịu khó tra cứu -và nếu được phép tìm hiểu- lý lịch của các tuyển sinh, chắc sẽ khám phá nhiều ngạc nhiên đến sững sờ! Ở chế độ XHCN không gì có thể đương nhiên mọc lên khơi khơi, nếu không có sự gật đầu cho phép của “trên” (nói theo ngôn từ của cán bộ trung kiên với chế độ)!

b) Nhận xét của thức giả về cô Tim:

-VNT: “Vậy xin nhìn cô Tim dưới khía cạnh thực tế của sự việc- và những suy nghĩ về cô nên có hai chiều: cô không phải tới đây chỉ để làm vừa lòng ta, để gây được chút quỹ cho các em mồ côi, tật nguyền - nhưng cô cũng phải làm sao cho chính quyền cộng sản để cho tổ chức cuả cô được sống còn và cô có thể tiếp tục công việc từ thiện của cô”
-LTL: Thức giả nhận định thế không phải là không có lý có tình: lý là hiểu cô ưu tư về việc duy trì cơ ngơi của đã bỏ công dựng nên; tình là thông cảm cho cô về những khó khăn có thể gặp phải với CSBV về việc tiếp cận với cờ vàng. Thế nhưng, chẳng lẽ CSBV khi cấp giấy phép hành nghề từ thiện cho cô lại không rõ là cô ra nước ngoài xin tiền, chủ yếu là nhắm vào tập thể người Việt bỏ nước ra đi vì…muốn trốn CSBV? Mà muốn xin tiền thì dù muốn dù không cũng phải lấy lòng tập thể nầy chứ! Thế mà cô ngang nhiên kêu họ “dẹp cờ vàng”! Nếu không phải có dụng ý thóa mạ người tị nạn CS (theo khuyến cáo hay theo chỉ thị của CSBV) thì là gì vậy, hở thức giả VNT? Không cần làm vừa lòng người cho mà cốt yếu là làm đủ cách để được lòng người cấp phép cho cô hoạt động, dù người nầy chẳng bỏ ra một xu cho cô dựng nên căn Nhà May Mắn! Người chẳng thấy như thế là quá bất công với chúng ta chăng?

c) Nhận định kết thúc

-VNT: Nay nếu một số người trong cộng đồng VN hải ngoại đã quá chán ngán chuyện chính trị- mà chỉ muốn làm việc nhân đạo- phi chính trị- thì xin để cho người ta yên thân làm công việc của người ta và đừng bắt người ta phải làm việc dưới bất cứ một biểu tượng chính trị nào, dù rằng biểu tượng đó đối với chúng ta là thiêng liêng, là tốt đẹp như thế nào đi nữa.

-LTL: Tôi thực sự “hết hồn” với đoạn kết thúc có tính phát quyết chung cuộc của đại thức giả VNT! Tôi chưa rõ thân thế và sự nghiệp của người nên tôi chưa dám “phán quyết” về người, e ngại người cho tôi có ý định “chụp mũ” người muốn hồi sinh cái thây ma “hòa hợp hòa giải dân tộc” chết đã từ lâu mà chưa chịu đem chôn!
Tôi nghe thoang thoảng đâu đây giọng điệu của các đấng tự cho là “thành phần thứ ba-đứng trên mọi lập trường” -vì...có lập trường đâu mà đòi đứng trên!- một thời ong óng ra rả trên chính trường VNCH trước 75...
Chưa nói đến chuyện tìm hiểu người có nếm đủ mùi ca ngâm sau ngày Bắc quân tràn  ngập miền Nam VN, như cải tạo, kinh tế mới, đổi tiền, đánh tư sản, đốt sách, vượt biên, v.v...Chỉ xin tạm hỏi người có muốn xù bài, bôi xóa hay sửa chữa lịch sử trước và sau ngày 30 tháng 4/1975 chăng?
Có phải người muốn “con cháu của chúng ta: những người sinh sau năm 75 (...)là những người không hề biết và có kinh nghiệm xương máu gì với cộng sản, những người di dân theo diện đoàn tụ gia đình, những sinh viên học sinh du học và xin ở lại,v.v...” hoàn toàn mù tịt về câu chuyện vô tiền khoán hậu của hàng triệu người VN bỏ nước ra đi vì lý do gì chăng?
Hitler tiêu diệt 6 triệu dân Do thái. Staline, mấy chục triệu dân Nga. Mao Trạch Đông, suýt soát trăm triệu. Bắc Hàn tràn sang vĩ tuyến 38 tấn công Nam Hàn. CSBV tràn sang vĩ tuyến 17 cưỡng chiếm miền Nam VN! Không ai sửa đổi các sự kiện lịch sử nầy...
Lịch sử vẫn còn đó, thức giả VNT ạ!
-0-0-0-
Thức giả Vũ Ngọc Tấn ơi!
“Không phải ai cũng được may mắn làm dân Thụy Sĩ” (J-P Sartre)
Và xin người nhớ cho:
“Ồn ào ít khi làm nên đều tốt, việc thiện ít gây tiếng động”! (St-Françcois de Sales)

Thôn trang Rêu Phong, cuối thu 2010
-Lê Tấn Lộc-






Thursday, November 4, 2010

HỌA PHÚC KHÓ LƯỜNG

Họa phúc khó lường…
Quyền họa phúc trời tranh mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai
Cái quay bún sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

Sư rằng phúc họa không lường…”. Câu thơ ngày nào thì thầm đọc trên đường về lại Hòn Ngọc Viễn Đông từ Kinh Đô Ánh Sáng, non nửa thế kỷ về trước, chợt lóe lên trong đầu tôi đang ngồi trên ghế đá công viên Bạch-Mã, cúi nhìn giòng nước nhánh sông Saint-Laurent cuộn xoáy tuôn chảy xuyên qua Thôn Trang Rêu-Phong (Pierrefonds), ngoại ô thành phố Mộng-Lệ-An (Montréal) Xứ Tuyết Gia-Nã-Đại (Canada)…
Ngỡ ngàng như giấc chiêm bao!

Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau

“Ông đồ già kiêm lính yếu”, biệt danh “Thạch Động Cuồng Hĩệp sĩ” tôi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không…”, cúi nhặt viên sỏi ném xuống giòng sông -chứng nhân biết bao lần hắn cuồng nhiệt trút đổ cuồng nộ qua âm thanh gầm thét của cơn nước lũ- ngao ngán lắc đầu thở dài:

Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu…
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê…
-0-0-0-

“Dạy học không phải là nghề, mà là nghiệp.
Tôi đam mê dạy học”
-LTL-
Ngày đó, 44 năm về trước, phẫn nộ nhận sự vụ lệnh của Bộ Giáo Dục chỉ định nhiệm sở mới, tôi tức tối lái xe đến Trường Trung học Trịnh Hoài Đức (Bình Dương) nhận việc, hậm hực cảm thấy mình chịu một sự bất công quá sức vô lý, sau khi đã hoàn tất 4 năm mặc áo trận như mọi công dân tới tuổi nhập ngũ theo lệnh động viên:
Theo thể lệ hiện hành về công vụ, tôi được ưu tiên chọn phục vụ tại Sàigòn, Gia Định hay ít ra cũng tại Chợ Lớn, so với các đồng nghiệp chưa thi hành quân dịch. Ấy thế mà họ lại ưu tiên hơn kẻ đã từng xông pha nơi chiến trận! Đáng giận hơn nữa, trong đơn xin thuyên chuyển tôi ghi rõ, vì lý do an ninh, yêu cầu Bộ GD tránh đưa tôi về một nơi mà tôi đã từng đối mặt chiến đấu với địch quân: Bình Dương!
Càng buồn lòng hơn nữa là lúc bây giờ BTX, thằng bạn học cùng trường với tôi phụ trách hồ sơ chỉ định nhiệm sở, ông Tổng Trưởng NVT là người láng giềng cùng tỉnh, ông Đổng Lý Văn Phòng LCT, trước đó 6 năm, là người chứng kiến Phái Bộ Văn Hóa Pháp (Mission Culturelle Française) phỏng vấn, tuyển chọn cấp học bổng cho tôi du học!
Khi tôi lên tiếng phản đối bị đối xử bất công, cả ba “ngài” cho biết không muốn mang tiếng “nâng đỡ” người thân quen! Ấy thế mà mãi về sau tôi mới rõ ra ba vị “chí công vô tư” của tôi chẳng có vô tư chí công chút nào hết: Một lô thân quen khác của các “ngài” được điều động từ các tỉnh xa xôi về…thủ đô! Dễ hiểu hết sức mà lúc bấy giờ tôi chẳng hiểu ra: Tôi không nằm trong “phe nhóm” cần thiết cho “sự nghiệp chính trị” của các ngài trong tương lai!
Thế nhưng cái mà tôi cho là vận xui, là “họa” dần dần hiển lộ là…một cơ may, một diễm “phúc”: Không ngờ “nhờ” cách đối xử bất nhẫn của ba vị “thân quen”nầy, từ ngày đặt chân xuống khuôn viên trường THĐ, đời tôi chuyển biến ngoài dự liệu của ba vị “chí công vô tư” giả hiệu, cũng như của chính tôi!
***
Con đường từ ngã ba Bình Triệu chạy qua các địa danh Đồng Chó Ngáp, Lái Thiêu, Bình Nhâm, Búng, Phú Văn, dẫn tới tỉnh lỵ Bình Dương là lộ trình quá quen thuộc với tôi suốt thời gian phục vụ tại Sư đoàn 5, lúc bấy giờ bản doanh đặt tại Biên Hòa.
Ngày đó -ngày đầu tiên tôi lên đường đáo nhậm đơn vị, tiểu đoàn 3/8, trấn đóng tại Phú Thứ và Thùng Thư- tôi cùng các chiến hữu thuộc quyền ghé qua chợ Bình Dương mua lương khô mang theo đi hành quân: Mỗi người chúng tôi đều choàng vai một poncho cuộn tròn như một khúc dồi khổng lồ, bên trong chứa gạo, bao quanh dây ba chạc với vài trái lựu đạn treo lủng lẳng…
Tình cờ một người “dân sự” trố mắt nhìn tôi, kêu lên:
-Trời ơi! Sao đến thế nầy hở L.? NTQH -bạn cùng khóa Đại Học Sư Phạm Đà Lạt lắc đầu ngao ngán như “thương hại” cho thân tôi!
-Có gì đâu bạn hiền! Phận sự công dân trong thời chiến thôi! Tôi trả lời người bạn đồng môn, lúc bấy giờ là giáo sư Pháp văn của trường Trịnh Hoài Đức.
Nào ngờ 4 năm sau đó, cởi chiến y, tôi lại quay về “chốn cũ”! Nhưng lần nầy trong tay không một tấc sắt để…tự vệ! Dường như tôi có duyên nợ chi đây với “linh địa” Bình Dương !
Những diễn biến sau nầy cho thấy quả thật những thăng trầm trong đời tôi hầu như gắn liền với ngôi trường dần dà trở thành gia đình thứ hai của tôi. Những gì tôi nghĩ là họa, nghiệm ra là phúc và…ngược lại!
***
Buổi tiếp xúc đầu tiên -khá “đặc biệt”- với học sinh diễn ra tại khu Trường Nữ, cách khu Trường Nam khoảng 2 cây số, chưa kể lối dẫn vào khu trường ốc nằm giữa “đồng không mông quạnh”, cách lộ chính (QL 13) non nửa cây số, gần Chợ Búng, nơi có doanh trại của một đại đội Địa Phương Quân và một Cuộc Cảnh Sát đối diện. Sát bên Cuộc là quán bán bún nem nướng, nem chua nổi tiếng vừa ngon vừa lịch sự với cô chủ quán, thôn nữ dịu hiền, niềm nở, sắc diện “ưa nhìn”, nên khách thập phương ra vào tấp nập…
Bước xuống chiếc Dauphine cà tàng (thuở ấy đã là le lói lắm, trong giới gõ đầu trẻ), kính đen chễm chệ trên sóng mũi, một tay cầm ống điếu, tay kia chống dù, dáng điệu hơi “hiên ngang” (mới cởi quân phục mà!), tôi “hùng dũng đếm bước quân hành” lên cầu thang tiến về hướng lớp học. Nhưng kỳ lạ thay, các nữ môn sinh của tôi không xếp hàng dọc bờ tường, chờ tôi ra hiệu cho vào lớp. Trái lại, các em xếp hai hàng làm thêm một hành lang thứ hai trên dãy lầu…Rồi tự động quay mặt đối diện nhau, đồng loạt đưa một tay lên cao, tạo nên một hành lang danh dự đón chào tôi! Y như hàng rào danh dự làm bằng tay kiếm tuốt trần của các bạn đồng khóa đón chào vị sĩ quan xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia choàng tay cô dâu trong ngày cưới! (Mãi về sau, tôi mới rõ cách “dàn chào” đặc biệt nầy chỉ diễn ra một lần duy nhứt, trước tôi và sau tôi không hề có…)
Kể từ giây phút đó, tôi cảm nghiệm đã kết hôn với tập thể THĐ, như đã ước hẹn từ lâu với một duyên số đã được an bài tự thuở nào!
Tâm trạng u uất như bị “lưu đày” vụt tan biến như đám mây đen bị gió cuốn đi. Trời trở lại quang đãng trong tâm hồn kẻ vừa tạm giã từ vũ khí trở về với công tác giáo dục thuần túy mà hắn đã được đào luyện từ lâu…
Họa “bất công” bất ngờ biến dạng thành phúc tìm được đúng môi trường phục vụ…

Nhưng mây đen lại kéo về hăm dọa người cựu chiến binh vào mùa Xuân đầu tiên của tôi (Xuân Đinh Mùi, 1967) với Trường THĐ: Tôi đang trình bày “Khoái lạc và Đau khổ’” cho lớp Đệ Nhất A1 Nữ thì có hai thanh niên VC giả dạng nam sinh THĐ sang bán báo Xuân đột nhập khuôn viên trường, ép buộc giáo sư và các nữ sinh tập họp ở sân cờ để tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước”. Bất ngờ có hai chuẩn úy trẻ của đại đội ĐPQ đèo nhau trên xe gắn máy Suzuki chạy ngang cổng trường, có lẽ chỉ muốn ngắm nhìn vô tội vạ các nữ sinh xinh xắn thôi, chẳng hay biết chuyện gì đang xảy ra trong sân trường. Hai tay VC rượt theo, nổ súng sát hại…Tới nay tôi vẫn chưa quên cảnh tượng hai nụ cười tươi tắn của hai chàng sĩ quan trẻ vụt tắt ngấm vài giây sau đó, cả hai hoàn toàn “vô tư” tử nạn, không một tấc sắt trong tay!
Chắc chắn mấy ông “quan” giáo dục “chí công vô tư” của tôi chẳng thể nào hình dung nổi những hiểm nguy đang rình rập người lính chiến, “tay không” trở về nơi đã từng in dấu giày trận của hắn, giờ đây phải mặt đối mặt thường xuyên với kẻ cựu thù gần như vô hình nhưng cực kỳ nguy hiểm!

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí: Hơn nửa giờ sau, viên trung úy già, đại đội trưởng ĐPQ (gốc giáo phái đồng hóa) ở chợ Búng mới dẫn quân tiếp cứu! Hai tên sát nhân đã cao bay xa chạy! Không rõ ông quan hai nhà ta nghĩ gì mà thẳng thừng ra lịnh bắt tôi và đồng nghiệp LĐC giải giao cho Cuộc Cảnh Sát, với lời cáo buộc “hai ông giáo nầy dẫn VC vào trường (sic!) phục kích giết sĩ quan” !
Họa dồn dập tới tấp tưởng chừng “thân bại danh liệt” tới nơi. May phước thay ông Trưởng Cuộc Cảnh Sát bác bỏ lời cáo buộc vô lý của ngài quan hai gốc giáo phái: Ông ngỏ lời xin lỗi “hai thầy” đã phải chịu nhục bị giải giao cho nhân viên công lực, rồi quyết định trả tự do cho hai chúng tôi. Cũng kịp thời, vì giáo sư và học sinh nam nữ THĐ đang chuẩn bị “xuống đường” kéo tới chợ Búng “biểu tình” phản đối chuyện bắt giữ vô cớ “hai thầy” của Trường…
Quả thật, họa phúc khó lường! Và vòng lẩn quẩn phúc-họa-họa-phúc còn tiếp diễn dài dài, suốt thời gian tôi phục vụ tại trường THĐ…
***
Q
uả nhiên! Nghỉ ăn Tết xong, trở lại bục gỗ, tôi lại mắc “họa”. Lần nầy không do “du kích xã” rình mò ám hại mà bị “đồng minh” Đại Hàn, trong toán Công Binh Ong Biển (Sea Bee) sang giúp VN thiết lập hay sửa chửa đường xá, cầu cống trong các làng xã xa xôi, hẻo lánh -đặc biệt giúp tu bổ phòng ốc cho trường THĐ- công khai đe dọa tính mạng! Sáng hôm đó, du kích-đặc công gài chất nổ sát hại một binh sĩ Đại Hàn đang sửa soạn tu bổ giếng nước trong sân trường Nam…(Tôi nghi ngờ có sự tiếp tay bên trong từ phía một vài học sinh, cảm tình viên -hay bị ép buộc cộng tác, vì gia đình cư ngụ trong vùng xôi đậu- của MTGPMN).
Khoảng nửa giờ sau, một tiểu đội Đại Hàn kéo tới xả súng loạn xạ, đau lòng và tức bực vì đồng đội bị sát hại trong lúc mang thiện chí ra làm công tác xây dựng. May thay, không ai trong trường bị thương hay tử nạn. Chỉ chiếc Dauphine cà tàng của tôi thọ nạn, kiếng bể hết vì trúng đạn! Riêng tôi và một nữ đồng nghiệp sắp lâm bồn bị đồng minh Đại Hàn chỉa súng quát nạt: “VC? VC?”... Kề cận cái chết trong gang tấc, chỉ cần súng cướp cò bất tử!
Hiểm họa mất mạng vì đối phương chực chờ hãm hại chưa thực sự xảy ra , nhưng rủi ro lâm nạn vì “phe ta” và “đồng minh”, xem ra rất có thể xảy đến với chàng cựu sĩ quan SĐ5/QLVNCH bất cứ lúc nào! Tai họa nầy khiến tôi nhận ra được sống tương đối an ninh trong vùng do chính phủ VNCH kiểm soát quả là một diễm phúc và càng thêm cảm thông cùng thương xót sâu đậm những ai không may phải sinh sống ở các vùng xôi đậu. Trước đây, khi hành quân, tôi đã từng chứng kiến những nhục nhằn, cơ cực của người dân bị kẹt giữa hai lằn đạn! Nào ngờ vừa cởi chiến y, tôi lại phải… sống cảnh “trên búa dưới đe” trong khuôn viên Trường THĐ, khi tôi chỉ đến để phổ biến văn hóa!
Trong khi chờ đợi mối họa thọ nạn từ hai phía, như đợi chờ thanh gươm Damoclès treo lủng lẳng trên đầu bất chợt đứt dây rơi xuống đột ngột chấm dứt cuộc hành trình nơi trần thế, tôi vẫn đều đặn bước lên bục gỗ, hăng say truyền đạt những gì tôi thu nhận được từ các tôn sư tiền bối cho các môn sinh hậu duệ. Tôi yêu thích không khí học đường và ý thức dạy học, với tôi, là một đam mê!
Hiểm họa “giữa đường gẫy gánh” giảm cường độ kinh hãi trong tôi; bởi sự kiện các môn sinh và tôi càng lúc càng gắn bó cho thấy, trong không khí chiến tranh khốc liệt, hận thù sôi sục, còn yêu thương được và còn được yêu thương quả là…phúc đức vô cùng!
***
T
ừ ngày tôi về THĐ tới nay, các vụ “bên xâm nhập nghiệt ngã dọa dẫm; bên ngăn chặn, phản ứng dữ dội” (đa phần nhầm đối tượng) xảy ra hầu như cơm bữa, mà nạn nhân lãnh đủ tai ương vẫn là thầy trò THĐ. Đôi khi cư dân quanh trường cũng bị vạ lây. Súng đạn nào biết phân biệt ta hay địch!
Trước tình thế quá “khẩn trương”, dễ dàng bị vu oan dóa họa từ hai phía, lúc bấy giờ, khi được biết tại trường THĐ chỉ có tôi là cựu sĩ quan đã từng tác chiến tại các địa danh thuộc tỉnh Bình Dương, bạn bè khuyên tôi nên tìm cách rời “chiến trận không có phương tiện tự vệ” càng sớm càng tốt…
May phước thay, dịp may bất ngờ đến với tôi trong cơn nguy ngập: Tôi đứng đầu danh sách 3 đồng nghiệp được chính phủ Tây Đức tuyển chọn -trong các giáo sư Triết và Pháp văn toàn quốc- cấp học bổng du học…tiếng Đức tại Đức để trở thành giáo sư Đức… ngữ! Con đường thoát hiểm xem ra có nhiều triễn vọng…
Cố nhiên, tôi không đành lòng rời bỏ đám môn sinh THĐ mà tình nghĩa ngày càng thắt chặt. Nhưng chính sự cảm mến của học sinh dành cho tôi sẽ là cái gai trong con mắt của phe đối phương thù nghịch. Thế nên tôi nghĩ nên tạm rời trường THĐ đôi ba năm trong suốt học kỳ của tôi ở Đức, cho bọn “xâm nhập” quên lững tôi một thời gian. Lúc trở lại với phương vị giáo sư Đức ngữ, có thể họ ít “theo dõi” tôi hơn là tôi ở lại với tư cách giáo sư triết (rất nguy hiểm, rất “phản động” trong cái nhìn lệch lạc của các đồ đệ trung kiên với chủ thuyết Mác-Lê “bách chiến bách thắng”, thực chất là “mắc chiếm mất thắng”: Mãi lo xâm chiếm, mà quên đạp thắng, tiếm đoạt không ngưng nghỉ -non stop- có ngày cũng…tuột dốc lọt xuống hố thôi!).
Thế nhưng…mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên. Phúc sắp đuổi được họa thì biến cố Tết Mậu Thân tang tóc, sắt máu, lôi đại họa tới phủ chụp lên quê hương! Chuyện xuất ngoại coi như hạ hồi phân giải. Trước mắt, tôi lại phải khoác chiến y lên đường tái ngũ, cận chiến với địch quân trên đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn…
Đợt II của cái gọi là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” do giặc Bắc phương chủ xướng chấm dứt, tôi được trả về nhiệm sở cũ. Chạy trời không khỏi nắng! Càng lúc tôi càng nghiệm đúng THĐ quả là duyên số của tôi: Rứt ra rồi lại buột vào như chơi!
Cùng lúc tôi càng thấy rõ hơn phúc-họa, họa phúc quả thật khó phận định rạch ròi. Tưởng là phúc, biết đâu là họa, nghĩ là họa, biết đâu lại là phúc! Câu chuyện mất ngựa của cổ nhân xem ra vẫn còn hữu dụng để suy gẫm thế sự…
***
V
ề lại trường cũ được một năm, hoàn cảnh đưa đẩy tôi nhận trách nhiệm mới: điều khiển trường THĐ! Phúc hay họa đây? Ngày trước tôi cho là gặp “vận xui” (họa?) bị các quan “chí công vô tư” dỏm đày ải tới đây. Bây giờ “lên” Hiệu trưởng thì… “số hên” (phúc?) chăng? Chắc chắn cả tôi lẫn các “quan” của tôi chẳng thể ngờ chuyện lưu đày trước kia giờ đây chuyển biến thành “lên chức”!
Suy diễn thêm: Tôi lỡ mất cơ may xuất ngoại, tái ngũ, có thể tử trận (họa) nhưng thật ra là cơ hội ngàn năm một thuở để nhận diện chính xác hơn chân tướng đối phương (phúc). Nếu tôi được trót lọt đi Đức thì làm gì có chuyện làm Hiệu trưởng để có nhiều phương tiện phục vụ trường THĐ hữu hiệu hơn?
Nhưng…(lại nhưng), phúc đến chưa kịp hưởng thì họa lại kéo ập tới nữa! Mùa Xuân Đinh Dậu (1969), lần đầu tiên trường THĐ tổ chức ra mắt Hiệu Đoàn, quan khách và tôi suýt vong mạng mà không hề hay biết! Vài hôm sau buổi lễ, lực lượng an ninh Tiểu khu Bình Dương khám phá 5 du kích MTGPMN còn đầy đủ vũ khí (chém vè sau Tết Mậu Thân) lẩn trốn trên trần nhà lầu 2 của dãy phòng học có cửa sổ mắt bò (cho thoáng hơi) nhìn xuống ngay khán đài trước đây đầy quan khách tham dự lễ! (Nếu lúc đó họ nổ súng thì…huyết lưu mãn địa không thể không xảy ra!)
Trực thăng quần thảo áp đảo tinh thần buộc họ buông súng qui hàng, nếu không sẽ xạ kích tiêu diệt. Họa chờn vờn trên không trung…May phước thay họ ưng thuận đầu hàng, nếu không dãy lầu mang nhiều tính chất di tích lịch sử thành lập trường THĐ đã tan tành theo mây khói!
Sau hai lần “tổng công kích”, mang chiến tranh vào thành phố đông dân cư, gieo rắc tang thương, tử biệt sinh ly, “những người anh em phía bên kia” (chữ của thành phần thứ ba -tục gọi thành phần “chàng hảng”) có lẽ thấm mệt (hay kiệt lực?) nên trường THĐ, nói riêng, không còn bị khuấy nhiễu; tỉnh Bình Dương, nói chung, tương đối an ninh hơn trước Tết Mậu Thân rất nhiều. Tôi có thể ở lại trường làm việc rất trễ, rồi ban đêm vẫn an toàn lái xe về Sài Gòn không vấn đề. Trước đó, anh chị em đồng nghiệp và tôi cùng các em học sinh thường nôn nóng đón xe đò hoặc xe lam trước 4 giờ chiều, hối hả rời trường…e ngại “mấy ổng” đột nhập bắt xếp hàng nghe tụng kinh… “kách mệnh”!
Tình hình chiến sự khắp miền Nam VN cũng lắng động thấy rõ. Hạ tầng cơ sở của MTGPMN-công cụ của CSBV đa phần đã bị “triệt tiêu”, các thành phần nằm vùng hầu hết cũng đã xuất đầu lộ diện, nếu không tử vong cũng đã rút vào mật khu theo quân Bắc xâm thảm bại trong chiến dịch “tổng dấy loạn” …chờ thời được thưởng công khi tình thế xoay chiều thuận lợi cho các quan thầy Mác-xít-Lê-nin-nít sắp tuyệt chủng!
Do đó, tôi có thể yên tâm thực hiện các dự án tu bổ, phát triển trường sở, cải thiện tương quan giữa các đồng nghiệp, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo nơi các môn sinh nhưng vẫn duy trì niềm cảm thông, hỗ trợ mọi sinh hoạt thuận lợi cho sự gần gũi, thân thương giữa thầy trò để cùng chia sẻ vui buồn như thân bằng quyến thuộc trong một đại gia đình…
Họa càng lúc càng lu mờ, phúc càng lúc càng rõ nét: Quả thật, tôi rất may mắn trong nhiệm vụ mới, nhờ sự cộng tác chân thành và hết mình của các cộng sự viên trong Ban Giám Đốc, của hầu hết các đồng nghiệp và nhân viên văn phòng, của phụ hynh học sinh cũng như của toàn thể môn sinh THĐ. Không có sự cộng tác nầy, các dự án kể trên đã không thể thành tựu ngoài dự liệu! Người anh em phía bên kia có xốn mắt cũng hết phương động thủ. Các thành phần địch “cài” vào trường để bí mật hoạt động “bể” hết: Bị chận đánh ngay Ngã tư Xa lộ Biên Hòa, họ đã phơi xác trên các chuyến xe lô chở họ vào tấn công Sài Gòn trong biến cố Tết Mậu Thân!
Nhận định về thời điểm nầy, đầu Xuân Canh Dần 2010 đồng nghiệp NVP - Hiệu trưởng kế vị tôi vào năm 1971- viết cho tôi:
“Cách đây còn chưa lâu, đã có một thời anh em mình được sống những ngày thật tươi đẹp và tràn đầy hy vọng, cùng làm một công việc thật đáng tự hào và điều quan trọng hơn hết là luôn nhận được sự cộng tác, trợ lực của thật nhiều những con người quá đỗi tuyệt vời. Những con người quý hóa đó (…) và bao nhiêu những con người đáng thân mến khác, từ công việc họ làm đến tác phong phục vụ, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức… tất cả đều đáng trân trọng và ngợi khen dù họ ở bất cứ vị trí công tác nào. Chúng ta chưa một lần nào thất vọng về họ, chúng ta cũng chưa hề nghe họ phàn nàn hay yêu sách bất cứ một điều gì cho riêng bản thân họ”.
Phúc thay cho tập thể THĐ trước 1975 được cơ hội đem hết công sức và tâm can đầu tư vào niềm tin đã góp phần cho một nền giáo dục nhân bản, khai phóng…
Nhưng …niềm vui chưa tận hưởng thì họa lại kéo tới xóa tan mọi vết tích vùng hoài niệm xanh tuyệt vời đó.
Mới đây ST, một cựu môn sinh THĐ đưa tin:
“…Ngày hôm qua em về ngang trường Nam, dừng xe đứng bên ngoài thật lâu mà lòng em thật buồn… Vì văn phòng cũ đã bị đập nát chỉ còn trơ một đống gạch vụn. (…) Phía sau văn phòng là nhiều cây ‘đa già’ rợp bóng mát. Thật ra đó là một hàng điệp tây (tên khoa học là cây cồng) già rợp bóng khoảng sân cát trắng mênh mông kéo dài tới cột cờ trước dãy lầu. Dưới gốc những cây điệp nầy bao nhiêu là kỷ niệm tuổi học trò hồn nhiên trong trắng. (Giờ đây) phía sau văn phòng trống quơ trống quác, (hàng) cây ‘đa già’ … cũng cùng chung số phận (bị đốn ngã). Khi được tin văn phòng trường Nam và cây ‘’đa già’’ không còn nữa (…) em thật buồn, vì đó là mất mát không nhỏ trong khung trời kỷ niệm ngày xưa cũ”.
Tôi bồi hồi xúc động đến nhói tim, dù biết trước chuyện đau xót nầy sớm muộn gì cũng phải xảy ra: Những ông chủ mới cầm quyền hiện nay vốn chủ trương xóa sạch mọi dấu tích liên quan tới chế độ VNCH, kể cả những công trình giáo dục. Mùa Xuân Quý Mùi 2003, nhân chuyến về thăm lại trường xưa bạn cũ, tôi được em cựu học sinh THĐ, lúc bấy giờ là giám hiệu, cho biết dãy lầu đầu tiên của trường sẽ bị đập bỏ, nhưng văn phòng hiệu trưởng sẽ được giữ lại như di tích văn hóa. Nhưng “trên” quyết định khác, nên ông giám hiệu được “cám ơn” sau đó. Bao giờ sẽ tới phiên tượng đài ông Trịnh Hoài Đức bị bứng đi cho trọn chu kỳ đập phá, triệt hạ tất cả những gì còn nhắc nhớ có thời trườngTHĐ đã được hưởng một truyền thống giáo dục hoàn toàn…tự do, bình đẳng, miễn phí?
Cứ cái đà biến mọi ngành nghề cả nước thành buôn bán “vô tư”, ngành giáo dục “đào tạo” trong nước hiện nay đã trở thành một “đại-học-miễn-học” vẫn tốt nghiệp…tiến sĩ! Tên hành nghề “nhổ răng và thiến heo”, học lực chưa quá lớp ba trường làng -qua quá trình “hồng hơn chuyên”- chỉ cần 30 giây làm thủ tục “đầu tiên-tiền đâu”, chung-qua- chung-lại với nhau (tiền trấn lột bá tánh mà!) là có thể được “hô biến” kiểu “biên chế” thành tiến sĩ, thạc sĩ có văn bằng hẳn hoi, do Trường “Hạ” Đẳng Thương Mại Quốc Doanh đóng dấu cấp phát… như chơi!
Mọi thứ đều có thể bán buôn, kể cả trinh tiết của nữ sinh! Tống tình tống tiền hiện giờ nhan nhãn xảy ra như mục đưa tin “từ quê ra tỉnh, chó cắn xe, xe cán chó” trên các nhật báo, không còn được coi như tin “giựt gân” (sensationnel) có thể gây “ấn tượng” cho ai nữa hết!
Hỡi ơi! Mới ngày nào “Đất nước còn, tất cả còn…”
Mà nay thì…Tang thương đến cả hoa kia cỏ nầy!
***
C
hậm thế nào rồi cũng tới lúc tôi phải ra đi vào mùa Xuân Tân Hợi 1971, nhường chỗ cho anh NVP, một công sự viên rất xứng đáng tiếp tục công trình phát triển trường THĐ vì anh ấy là người địa phương, lại còn là cựu học sinh khóa đầu tiên của trường, dĩ nhiên có nhiều lợi điểm hơn tôi…
Hơn nữa, ngoài chuyện bị “người anh em phía bên kia” cảnh cáo cùng với vài đồng nghiệp nhân vụ tổ chức Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ 1970, tôi nhận thấy không được “hoan nghinh” lắm về cách làm việc nhằm bảo toàn tính độc lập của trường trước những yêu sách đôi khi quá quắc của chính quyền địa phương…Không khéo lại rước họa vào thân từ hai phía, cả thù lẫn bạn! Nghiệp chướng…chăng?
Nhưng…phúc thay thay thành quả đáng kể trong việc chỉnh đốn nội bộ và phát triển trường sở không thể phủ nhận của tập thể THĐ được Bộ Giáo Dục ghi nhận. Và một lần nữa, tôi được chọn nhận lãnh trách nhiệm mới (Trưởng Khu III Học Chánh) để thực hiện một dự án cải cách cơ cấu quản trị của Bộ, hoàn toàn mới lạ và vô cùng phức tạp: kế hoạch địa phương hóa giáo dục…
Mới lạ vì Bộ muốn tản quyền thay vì tập quyền. Phức tạp vì những va chạm chắc chắn không tránh khỏi từ trung ương tới địa phương, với những cơ chế lâu đời, rất bảo thủ, nhứt là khi những đặc quyền, đặc lợi được hưởng thụ từ lâu do những cơ chế đó chu cấp sẽ không còn nữa khi kế họach mới của Bộ được hoàn chỉnh. Kể sao cho hết những gian truân, khổ ải của các tân Trưởng Khu Học Chánh, vừa đương đầu với các giới chức địa phương vừa phải đối phó với phản ứng tiêu cực của các “quan” trung ương, để sau cùng thành công trong việc thiết lập các Sở Học Chánh tại các tỉnh!
Thành quả đạt được trong gian lao cơ cực chưa kịp hưởng…phúc thì họa bị ngấm ngầm khuấy phá từ chính quyền địa phương đến trung ương, với sự im lặng đồng lõa của các “quan” tại Bộ GD đưa tới hậu quả các Khu Học Chánh bị “bức tử” (giải thể), các Sở Học Chánh xuống cấp thành Ty GD, đặt thuộc quyền Tỉnh sở tại, như Ty Tiểu Học trước khi... “cải cách”! Thay vì tản quyền xuống, bây giờ lại họ…tản quyền lên! Oái oăm chưa!
Nhưng một lần nữa, tai họa bị “hạ tầng công tác” cho tôi cơ hội tốt tìm lại được diễm phúc thoải mái, say mê… dạy học!
Trước tôi, không ít đồng nghiệp đã “kinh qua” cảnh tiến vi quan, thoái vi sư! Tôi nhận ra không gì khiến tôi hạnh phúc hơn được kề cận đám môn sinh trong khung cảnh tuyệt vời trìu mến, quyến luyến giữa thầy và trò của một lớp học. Kỳ dư, các vụ thăng quan tiến chức chỉ là …phù phiếm, cạm bẩy chông gai luôn chực chờ ám hại, hiểm họa vấp ngã thường xuyên vây bủa tứ phía!
Thế nhưng bỏ qua các “bất tiện” hay “tai nạn nghề nghiệp”, trách nhiệm mới tạo cho tôi điều kiện mở rộng tầm mắt trước những khó khăn, những thiệt thòi của các đồng nghiệp giảng huấn cũng như các đồng nghiệp trong Ban Giám Đốc các trường trong Học Khu bao gồm 12 tỉnh miền Đông Nam Việt, mà họ phải không ngừng “khắc phục” vượt qua với ít nhiều quên mình, nếu không muốn nói là “hy sinh” đáng kể…Tuy nhiên, lực bất tòng tâm, tôi đành hát khúc…Rằng xưa có gã từ quan, Lên non tìm động hoa vàng ngủ say…phó mặc thế sự thăng trầm!
Tưởng thế đã yên, nhưng cái vòng lẩn quẩn phúc-họa-họa-phúc lại tái diễn không ngừng với tôi, con người “nửa thầy nửa lính”: Thảm họa “ba mươi tháng tư” long trời lở đất từ phương Bắc kéo tới úp chụp xuống toàn dân miền Nam Việt Nam. Hỏa ngục cải tạo giết dần quân cán chính VNCH, biển Đông nhanh chóng cướp mạng sống hơn nửa triệu dân Nam, Trung, Bắc “vượt biên” mưu tìm…tự do!
***
S
uy đi nghĩ lại, giờ đây còn đủ tay chân, chưa lẫn lộ, chưa mất trí, quả thật tôi quá may mắn -trải qua bao thế sự thăng trầm phúc-họa- còn được tạo hóa ưu đãi so với biết bao đồng bào, vạn lần ưu tú hơn kẻ bất tài vô tướng như tôi, đã tức tưởi lìa đời trong cuộc chiến dai dẳng trên quê hương ngập tràn khói lửa chiến chinh. Và ngay cả sau cuộc chiến đẫm máu, nếu không vùi thây trong hỏa ngục trần gian “cải tạo” thì thân xác cũng tan rã làm mồi cho cá trên biển Đông!
Sau 5 năm sống “nửa kiếp thầy tu nửa kiếp tù”, giờ đây trên đất khách, tay nâng ly rượu xuân tưởng nhớ những chiến hữu đã khuất, ôn lại chặng đường sướng khổ suốt 75 xuân, “nửa thầy nửa lính” tôi nhận thức đã đích thực trở về từ cõi chết: Một lần toan tính…tự tử trong trại tù Trảng Lớn; một lần suýt vùi thây trong rừng sâu nước độc Long Giao khi bị té từ cây cao chục thước, lúc bị thúc ép đốn cây làm cũi mừng “quốc khánh” của những kẻ đày đọa anh chị em mình; một lần lạc trên biển cả suốt một tuần, đói khát đến hôn mê khi “vượt biên”; một lần mổ tim trên đất tạm dung Canada…
Nhưng mỗi lần cận kề họa tử vong trong gang tấc lại cho thấy tôi được phúc trường tồn! Tự tử bất thành trong tích tắc khi bất thần nghe chuông nhà thờ đổ ngoài vòng rào kẽm gai, tôi ngưng tay lúc sắp tự treo cổ: Thoát họa tự hủy, tôi đắm chìm trong hồng phúc tìm lại được Niềm Tin!
Thoát họa tai nạn lao động, tôi may phước khỏi bị đưa ra Bắc khi tỉnh lại trong trạm y tế “không thuốc men”, giữa các bạn đồng tủ đang hấp hối, bị bỏ lại khi giữa đêm ấy bọn cai ngục chuyển hết số tù trong trại Long Giao ra phương Bắc!
Sắp lâm họa vùi thây dưới đáy biển u minh thì phước đức thay thoát nạn nhờ gió biển thổi ghe tôi đã chết máy, gẫy chưn vịt trôi dạt tới dàn khoan dầu của Nam Dương!
Trên bàn mổ, chặp chờn hiểm họa vĩnh viễn xuôi tay thì ơn phước cứu độ đến lôi ra khỏi tay Thần Chết, lay động nơi tôi lòng sốt mến hành đạo vốn đã nguội lạnh khá lâu…
Nhấp ly rượu mừng Xuân Tân Mẹo 2011, tôi lần giở cuốn nhật ký viết tiếp sau khi ra tù, đến được bờ bến tự do, chứng kiến thêm lần nữa cảnh tượng xốn mắt “đổi đời” nơi quê nhà đang tái diễn trên đất khách, giữa những người Việt tị nạn, thầm đọc:

Trong cơn hấp hối lìa trần
Xin cho tôi được gọi thầm “quê tôi!”
Bao nhiêu nước mắt mồ hôi
Cho tôi gửi lại quê người …cưu mang

Nghĩ cho cùng, phúc hay họa tùy cách tôi nhìn sự đời: Thoát khỏi gông cùm tù ngục chưa hẵn đã vượt thoát được địa ngục. Đến được bến bờ tự do chưa chắn là đã đạt đến thiên đàng! Bởi lẽ thiên đàng hay địa ngục đều nằm trong đầu ta cả. Nói vắn tắt, tùy cái Tâm của ta: Tâm trong sáng thì ý trong lành!
Một điều sớm muộn gì mình cũng sẽ khám phá được: Nhân nào thì quả nấy!
Từ lâu rồi tôi lười suy luận như trước đây tôi thường làm, do ảnh hưởng còn rơi rớt lại của thời gian còn…say mê triết lý. Càng lúc tôi càng thấy hầu như tôi tin có số mạng: Cái quay bún sẵn trên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm…
-0-0-0-
Ba mươi lăm năm nhìn lại, đau buồn suy gẫm, nhận chân: “Đất nước mất, mất tất cả”...

Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng huyễn côn trùng cũng hư!

Lướt nhìn những ảnh kỷ niệm về thời gian phục vụ tại trường THĐ, chạnh nhớ lần về thăm quê nhà, tận mắt nhìn thấy những cảnh não lòng, chợt nhớ cựu học sinh ST báo tin những đập phá mới đây tại trường cũ, tôi nhắm mắt thở dài…

Rồi cả một thời xưa tan tác đổ
Dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu
Thời gian chảy đá mòn sông núi lở
Lòng ta luôn còn mãi vết thương đau

Thôn trang Rêu-Phong, 30 Xuân biệt xứ
-Lê Tấn Lộc
-






Wednesday, September 1, 2010

VỀ TỪ MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH

Về từ một chuyến hải hành…“Quá ồn ào vì chuyện không đâu!”
(Beaucoup de bruit pour rien!)
Cha ơi!”…
Tiếng kêu khẽ trong đêm trừ tịch không khuấy động nổi sự im ắng cố hữu của căn nhà ngoại ô, một thuở nhiệt tình tiếp đón anh chị em thân thương đã quây quần bên nhau, trìu mến tặng nhau từng nụ cười ròn tan, như từng nụ-hồng-yêu-đương-cho-không-biếu-không nhất tề rộ nở…
Nói một thuở, vì con linh nghiệm những nụ hồng ấy hình như ngày càng héo hắt do những “đặt điều” so đo hơn thua, bắt bẻ, hoạnh họe, cố chấp, áp đảo… bắt nguồn từ khuynh hướng bất khả chế “lắm chuyện” của vài “bậc” tự cho là “mẫu nghi thiên hạ”,Bảo hoàng hơn Vua”, “Thánh thiện hơn Các Thánh”, “Công giáo hơn Đức Giáo Hoàng”, làm ô nhiểm không khí trong lành, khắn khít bên nhau như anh em một nhà! Những ốc đảo “duy ngã” lợn cợn nầy, tuy đơn lẻ, nhưng thừa khả năng kết nạp khá thành công những ai vốn ưa thích nghe chuyện bàn qua tán lại, thêm mắm thêm muối cho những mẩu chuyện “hư cấu” thêm phần hấp dẫn, ly kỳ -chiêu thức nhuần nhuyễn của những chuyên viên “rỉ tai”- ngấm ngầm gây mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ (đôi khi dẫn tới đấu khẩu kịch liệt)!

Những “ồn ào” như ruồi nhặng vo ve làm đinh tai điếc óc con sau chuyến hải hành với một số anh chị em thân thương cùng chung lý tưởng tu đức, chuyến hải hành tiếng là du ngoạn nhưng diễn ra trong nhóm nhỏ chúng con như một chuyến vượt biên “bỏ túi” nhiều tai biến!Những “ồn ào” khua động nầy diễn ra ở thời điểm sắp tới kỳ hạn tĩnh tâm thường niên, lại rơi đúng vào lúc sắp bầu lại Ban Phục Vụ-Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế! Mà thường thì ở thời điểm nầy con dễ bị xáo trộn nội tâm vì những xét lại lập trường trong dòng đạo và dòng đời, về hướng đi sắp tới của mình trong tương quan với tha nhân, sao cho bác ái luôn đi đôi với công bằng, tình không hề bỏ rơi lý!Lần nầy trầm trọng hơn gấp bội hai lần con “choáng váng” khi khấn hứa! Vì con cảm thấy tín lý bị lung lạc. Con bị khủng hoảng Niềm Tin về các chuyện không xuôi chèo mát mái giữa những bậc chăn dắt giáo dân, trong và ngoài nước…Nhưng đây là chuyện trọng đại, ngoài tầm tay và tầm hiểu biết của con, nên chúng không gây tác hại trầm trọng lắm trên con. Trái lại, những nghịch lý giữa các tín điều con học được (như khiêm nhường, hiền hòa, nghèo khó, yêu thương…) với những biểu lộ cụ thể mà con thường xuyên chứng kiến từ các bậc tự coi là mẫu nghi thiên hạ (như tự cao tự đại, kênh kiệu, bới móc, chỉ trích, gây hấn…) càng lúc càng làm con…chóng vánh!
Niềm đau đớn nhất với con là nhận ra anh chị em trong đại gia đình KHÔNG HOÀN TOÀN THẬT LÒNG đối xử với nhau! Không thật lòng thì…Đức Ái chỉ là chót lưỡi đầu môi, một bóng mờ chặp chờn làm bình phong che khuất những tị hiềm nhỏ nhoi, đặc điểm của lối sống theo hướng phe nhóm, “bộ lạc” (clan)!*
* *
T
rước khi rời Mộng Lệ An lên tàu du ngoạn, con đã mang tâm trạng chán chường, hụt hẫng, trong đầu manh nha ý định rời hẵn Canada sang Âu Châu tổ chức lại cuộc sống ở buổi hoàng hôn của cuộc đời.
Không giấu gì Cha, con rất dị ứng với những ai tự cho là “đạo đức toàn hảo”. Càng lúc con càng nhận thấy thái độ tự phong cho mình tước hiệu “mẫu nghi thiên hạ” là loại bệnh hoang tưởng rất dễ lây! Và con khởi đầu đặt nghi vấn nơi chốn lâu nay con nương náo có còn là chỗ dung thân cho những ai nghĩ rằng phận mình là “hèn mọn”, “mõng dòn”, với tâm nguyện hoán cải, “ăn năn đền tội”… chăng?

Nhưng rồi xảy ra tai nạn một chị trong nhóm con trượt té trên tàu, gẫy cổ tay! Chị là người lớn tuổi nhất và đi một mình. Một chị trẻ tuổi nhất -khuôn mặt rất quen thuộc trong đại gia đình Phan Sinh- bỏ tất cả cuộc vui trên tàu, tự nguyện đứng ra lo cho người lâm nạn…Và kỳ diệu thay! Những ý tưởng chán chường, tiêu cực về Huynh Đệ Đoàn mà con mang theo lên tàu vụt tan biến! Như chị Phan Sinh trẻ tuổi xung phong cứu nạn, anh Phan Sinh bức xa tuổi thất thập như con đây cũng cấp tốc xông vào nhập cuộc trợ giúp chị Phan Sinh ngộ nạn của chúng con!
Suốt thời gian trên tàu, người chị bị tai nạn luôn được anh chị em trong nhóm -kể cả những chị bị say sóng, bị rối loạn đường tiêu hóa hành hạ, đi đứng không vững- thường xuyên lui tới thăm nom, chăm sóc, phục dịch…
Ai ngờ, nhờ tai họa nầy, con nhận ra đôi lúc mình hấp tấp nhận định sai lầm về anh chị em. Trước khi xảy ra tai nạn, con không một chút thiện cảm với người thọ nạn! Những ngày tay gẫy quàng treo trên cổ, người chị nầy không một tiếng rên than, lúc nào cũng tươi cười, trấn an nhóm “chị không sao, không đau” -ai đã “kinh qua” gẫy xương, ắt biết rõ nó đau nhức thể nào!- luôn khuyến khích nhóm cứ tự nhiên vui chơi, đừng quá bận tâm về chị. Lòng quả cảm của chị là một bài học cho nhóm biết đặt tiện ích tập thể trên lợi ích cá nhân. Tuy vậy, con vẫn tinh ý nhận ra chưa hẳn đa số trong nhóm đã thấm nhuần nguyên lý sơ đẳng nầy!
Tháp tùng nhóm chúng con, có hai cặp vợ chồng khác tín ngưỡng. Họ nhiệt thành bày tỏ lòng cảm phục người bị tai nạn và tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau của anh chị em Phan Sinh khi gặp khó khăn!
Riêng con, con nhận định cách ứng xử của con với anh chị em phần nào cũng do đã thấm nhuần các giá trị tích tụ từ những buổi linh đạo Phan Sinh. Một số kỷ niệm thân thương suốt thời gian sinh hoạt huấn đức, tĩnh tâm sống lại mạnh mẽ trong tâm khảm con…Chắc con chưa đến độ hoàn toàn tuyệt vọng hội nhập với anh chị em…
-0-0-0-
L
úc trở lại đất liền, người thọ nạn cứ luôn miệng cảm ơn nhóm. Con đề nghị mọi người ngồi lại với nhau, cho con có dịp ngỏ lời:
-Đề nghị anh chị em chúng ta đọc các kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh để tạ ơn Chúa quan phòng cho chúng ta an lành trở về sau chuyến hải hành với vài chuyện bất trắc.
Chuyến đi nầy chúng ta được dịp gần gũi nhau nhiều hơn, nhận biết điểm yếu, điểm mạnh của nhau. Cá nhân tôi thấy rõ mình thiếu sót rất nhiều trong giao tiếp với các chị em. Lẽ ra tôi phải tích cực lo chu đáo hơn nữa cho nhóm vì tôi là người nam duy nhất. Đằng nầy tôi lại để lộ cái tính khó chịu, hay càu nhàu khi các chị nhờ tôi giúp vài việc linh tinh…Mong các chị niệm tình tha thứ, bỏ qua cho!
Riêng người chị bị tai nạn, xin đừng cảm ơn chúng tôi. Chính chúng tôi phải cảm ơn chị. Nhờ chị té ngã mà chúng tôi mới được cơ hội thuận lợi xét nghiệm mình có còn xứng đáng là người Phan Sinh Tại Thế chăng? Tôi nghĩ chị nên Tạ Ơn Chúa hơn. Và mọi người trong nhóm cũng nên dâng lên lời sốt mến Ca ngợi và Đền Tạ Ơn Người …
-0-0-0-
Cha ơi!
Trên đây là những lời bộc bạch tự đáy lòng con sau chuyến hải hành khá gian truân, cơ hội quá tốt cho con “phản tỉnh”, dọn mình tìm đường quay về tổ ấm với anh chị em. Nhưng rồi con lại chùn chân trước những “ồn ào”, khua chiêng giống trống gây tranh cãi gay gắt sau chuyến hành hương-du ngoạn vui vẻ trên vùng đất thơ mộng, rừng núi chập chùng, sông nước mênh mông, biển hồ lênh láng... “Thanh tịnh nhăn nhó” (sénérité crispée) va chạm nảy lửa với “Thanh tịnh tươi cười” (sérérité souriante). Chuyện tiếng bấc tiếng chì nầy khiến con đau lòng nhớ lại trích đoạn trong bài viết nhân lần họp mặt thân mật đầu năm 2007 tại căn nhà ngoại ô Thôn Trang Rêu-Phong của con:
“Có lẽ chúng ta phần nào nên bớt khắt khe quá độ để bao dung nhận ra chúng mình là Phan Sinh, nhưng là…Phan Sinh Tại thế chăng? Chúng mình vẫn ước muốn Nên Thánh nhưng…muốn nên thánh rầu rĩ, cáu có hay muốn nên thánh tươi vui, thư giản đây?”(Một bông hồng cho nhau, LTL, NSGĐPS, số 39, ngày 04 tháng 02 năm 2007).
Lần va chạm quá náo nhiệt nầy khiến con rủn chí, vì các bậc mẫu nghi đã trịch thượng phê phán hàng giáo sĩ!

Bao lần con toan tính lẵng lặng “tháo lui” khỏi tổ ấm, nhưng rồi cuối cùng con vẫn còn ở lại với anh chị em tới ngày hôm nay. Nhưng lần nầy xáo trộn nội tâm của con cực kỳ nghiêm trọng: Trước đây, buổi đầu tiên con đến với anh chị em, con rụt rè, lấp ló ngoài cửa vì khớp vía nhận diện hàng hàng lớp lớp “thánh nhân” đang tu luyện trong tổ ấm. Giờ đây con rụng rời đứng trước lối vào đã được các bậc mẫu nghi thiên hạ dàn hàng ngang làm rào cản, canh gác nghiêm ngặt , “nhỏ bé thôi” như con không dễ gì bước qua!
Trên biển cả con hứng khởi bao nhiêu thì vào đất liền con nản lòng bấy nhiêu, chạnh nhớ lời một dòng viên, mà con kiến như “sư phụ”, thường căn dặn:
-Anh chớ có lý tưởng quá, sẽ có ngày thất vọng ê chề!*
* *
R
a khơi, cặp bến đều không giúp con đạt tiêu chuẩn “có thể hội nhập”. Chỉ còn nước “lên non tìm động hoa vàng ngủ say”, ra sức luyện công cho bằng được ba điều: KHÔNG NGHE, KHÔNG THẤY, KHÔNG NÓI, để “nhỏ bé thôi” có thể giả dại qua ải chui qua rào cản kiểm lưu của các đấng “khổng lồ” mẫu- nghi-thiên-hạ-thánh-thiện-cáu-có!
Cha ơi!
Con nhớm bước đi nhưng chưa nỡ rời, bởi lẽ những anh chị em tuy không cùng huyết thống đã lập nên một gia đình thứ hai cho con có nơi dừng chân trước khi lên đường VỀ NHÀ CHA…
Con vẫn còn nắm nuối, vẫn còn hy vọng ý chí hoán cải sẽ thắng thế trong đại gia đình Phan Sinh để cuối cùng TÌNH YÊU thắng lướt những hục hặc, tranh chấp vô bổ, cho TÌNH HUYNH ĐỆ PHỔ QUÁT mãi mãi là keo sơn gắn bó anh chị em chúng con…
Đây chỉ là ước vọng nồng nhiệt lâu nay của con, một dòng viên Phan Sinh còn quá xa “tiêu chuẩn” tối thiểu để được các bậc mẫu nghi vĩ đại nhìn nhận có khả năng “đồng hành” trên đường tu đức. Nhỏ-bé-thôi con đây nào dám “hoang tưởng” ôm tham vọng lạc thực “ta” dư sức làm công việc “đội đá vá trời” nầy! Con chỉ còn biết rốt lòng nguyện cầu và…phó thác thôi!

Cha ơi!
Con vẫn biết “Ồn ào ít khi làm nên điều tốt, việc thiện ít khi gây tiếng động” (Saint-François de Sales)…Nên rất khổ tâm! Biết đâu những bộc bạch cuồng nhiệt tuôn trào trên đây của con chẳng qua cũng chỉ là…quá ồn ào vì chuyện không đâu?!
Thạch động Rêu-Phong, cuối hạ 2010
“nhỏ-bé-thôi” LTL

Thursday, April 22, 2010

ĐỆ NHẤT PHU NHÂN...KHÔNG NGAI!

Chạnh nghĩ về một
“Đệ Nhất Phu Nhân”… không ngai!



===================================================================


*Lời mở đầu*Ý định của tác giả khi quyết định viết bài nầy là chợt nhớ những gì Bà Ngô Đình Nhu đã tuyên bố vào đầu thập niên 60, với ước muốn cùng quí bạn đọc suy nghĩ xem có phải là những lời tiên đoán quá đúng về những gì xảy ra trên đất nước triền miên đau thương của chúng ta, sau ngày binh biến 1.11.1963, tất yếu dẫn tới thảm họa 30 tháng Tư 1975 cho cả dân tộc:-"Thầy chùa nướng BBQ" và... Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu tại miền Trung do Thượng tọa Thích Trí Quang chủ xướng sau đó...-"Các sĩ quan Mỹ là những tay phiêu lưu (aventuriers)" và..."Khi đồng minh tháo chạy", bỏ rơi VNCH cho CSBV "làm thịt" sau đó…
Ngoài ra, tưởng cũng cần suy nghĩ thêm về sự tranh đấu của Bà chống ly dị, chống tệ trạng 5 thê 7 thiếp để bảo vệ gia đình và để bình quyền nam nữ. Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, trước đây bị đả kích, bôi bác, xuyên tạc nặng nề. Các phụ nữ VN hải ngoại cũng như trong nước giờ đây tưởng cũng nên điều chỉnh lại cái nhìn về vấn đề nầy: Bà Trần Thị Lệ Xuân phải chăng đã đi bước tiên phong tại VN so với Phong Trào Bảo Vệ Phụ Nữ (Féminisme) phát triễn rộng khắp thế giới ngày nay? -LTL-


===================================================================



Tháng 4 năm 1961, trăm hoa xuân đua nở khoe sắc thắm, kết thành áo choàng ngoài muôn màu bao phủ những bức tường xám xịt, ám khói đen của Viện Pháp-Việt (InstitutFranco-Vietnamien), nằm trong quartier latin de Paris:
Là nơi trú ngụ của nhóm 16 sinh viên VN trong đợt đầu được chính phủ VNCH chấp thuận cho xuất ngoại du học ngày 26 tháng 10 năm 1960 (Nghị định số 988-TTP/KH ngày 8 tháng 10 năm 1960 của Phủ Tổng Thống) -gồm 10 nam nữ sinh viên các ban Triết học, Pháp văn, Sử địa, năm thứ 3 Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và Đà Lạt, 1 nữ sinh viên sang làm luận án Tiến sĩ, cùng 5 nam nữ sinh viên theo học các trường đào tạo kỹ sư hóa học, cơ khí, thủy điện, công kỹ nghệ, với học bổng do chính phủ Pháp cấp sau một thời gian khá dài hai nước gián đoạn “giao lưu văn hóa”, hậu quả của không khí ngoại giao nguội lạnh từ khi Tây bị Mỹ hất cẳng khỏi VN- ngôi nhà hai tầng với sous-sol, tọa lạc số 269 rue Saint-Jacques nầy (góc Feuillantines, gần Hôpital du Val-de-Grâce, sát vách Schola Cantorum, trường dạy khiêu vũ Ballet, cách Trường Sorbonne, cùng đường, không xa lắm) đang sửa soạn tiếp đón các vị thượng khách từ VN sang thăm viếng. Nhóm anh chị em sinh viên chúng tôi chỉ được thông báo về vụ tiếp tân nầy vào giờ chót, nên phải tất bật bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các thứ. Tôi được giao phó phụ trách phần âm thanh cho khách “đàm đạo” với sinh viên và cho buổi dạ vũ sau đó, cũng như trang hoàng hoa đăng cho buổi dạ tiệc -rất đơn sơ, với thức ăn nhẹ- trong khuôn viên tuy nhỏ bé nhưng rất xinh xắn,
ấm cúng, phía sau Institut…
(Người viết và Martha, bạn đồng môn-Paris, Xuân 1961)-o-o-o-
G.S. Giám đốc Viện Gustave Meillon và phu nhân -cả hai đều nói tiếng Việt lưu loát, ông giọng miền Bắc, bà, giọng miền Nam- cùng cô con gái và Ban Điều Hành Institut nghênh đón, hướng dẫn phái đoàn khách quí về hướng khuôn viên lộ thiên. Tháp tùng Ông Cố vấn và Bà Ngô Đình Nhu -nhủ danh Trần Thị Lệ Xuân- cùng ái nữ Ngô Đình Lệ Thủy -17 tuổi, đẹp nhu mì- có Ông Đại sứ và Bà Phạm Khắc Hy cùng cô con gái cưng tên Uyên, trang lứa với Lệ Thủy, cũng khá đẹp, nhưng cung cách hầu như không còn chút Á Đông nào hết.
Kinh nghiệm đương đầu với đám sinh viên VN thân cộng thường lỡn vỡn trước phạn điếm đại học (restaurant universitaire “Maison des Mines”), đối diện Institut -nơi anh chị em sinh viên chúng tôi đến dùng bữa trưa và cơm tối sau giờ học- để gây sự, đôi khi đưa tới xô xát, tôi linh cảm thế nào chúng cũng tìm cách trà trộn vào buổi tiếp tân để phá thối…Quả nhiên!

Đoán biết chúng sẽ bị nhận diện ngay, nếu chúng mưu toan len lỏi vào Institut -bởi chúng thường chận đường nhét truyền đơn chống VNCH vào tay chúng tôi trước cửa quán ăn sinh viên; và nếu chúng tôi vứt bỏ không cần xem là bị chúng áp lại hành hung tức khắc- chúng bèn đổi chiến thuật: đưa các cảm tình viên loại “gộc” của CSBV, bên ngoài trông rất đạo mạo, “trí thức”, ăn mặc rất “chic”, nói năng chững chạc, hòa nhã…vào tham dự buổi tiếp tân!
Chính tôi cũng không rõ những tay nầy thiên tả “có bằng cấp”; không chừng dám là cán bộ CS chính hiệu con nai vàng nữa đấy! Trông họ rất đứng đắn, sang trọng, tiền bạc rủng rỉnh, tiêu xài rất “mát tay”. Họ thường lân la tìm cách giúp đỡ những sinh viên VN bị tạm cúp sổ chuyển ngân vì ngã theo CS tuyên truyền chống VNCH và hăng hái tham dự các sinh hoạt văn nghệ hay du ngoạn do các bộ phận CSBV trá hình tổ chức, nhằm thu phục cảm tình đám sinh viên nhẹ dạ rời xa quê hương khá lâu, không am tường hiện tình đất nước, với hậu ý khuyến dụ đám “nai tơ” nầy trở về miền Bắc phục vụ sau khi thành tài -những con nai tơ đã được miền Nam VN ưu đãi tài trợ cho xuất ngoại tiếp tục dồi mài kinh sử. Thế đấy: một lũ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” mà vẫn hiu hiu tự đắc mình “cao siêu” hơn bọn sinh viên theo “Diệm-Mỹ”!
Các đợt sinh viên kế tiếp do VNCH cho xuất ngoại hưởng học bổng của chính phủ Pháp nâng cao nhân số cư trú tại Institut, khiến chúng tôi cảm thấy đỡ lẻ loi trước sự hung hãn của bọn sinh viên theo VC luôn chờn vờn trước Maison des Mines: Những bậc đàn anh, như BS Nguyễn Phước Đại, GS Trần Văn Tấn, GS Hồ Thới San, v.v… trước đây đã từng du học tại Pháp, Bỉ… sang đây chuẩn bị tiến thêm về học vị quả thực có giúp chúng tôi thấu đáo hơn các mưu chước quỹ quyệt của CSBV nhắm vào giới sinh viên VN mới chân ướt chân ráo tới kinh đô ánh sáng.
Dĩ nhiên , các giới chức trách nhiệm an ninh cho “thượng khách” biết trước sẽ có “địch thủ” thâm nhập, nhưng vì nơi đây là xứ tự do, không lý do gì ngăn cản họ tới tham dự cuộc tiếp tân dành cho giới chức cao cấp của VNCH, một chính thể…tự do! Chúng tôi chỉ còn biết hy vọng ông cố vấn Ngô Đình Nhu đủ bản lĩnh và thao lược đương đầu với các phần tử tập tành trung kiên với chế độ độc tài đảng trị Bắc Bộ Phủ!
May mắn thay, lòng tin tưởng vào khả năng đối đáp của vị Cố vấn Tổng Thống VNCH trước những câu hỏi hốc búa của hai sinh viên “yêu nước” -yêu XHCN!- trong khuôn viên Institut được đền bù xứng đáng:
-Thưa ông Cố vấn, sinh viên yêu nước thứ nhứt hỏi. Xin ông vui lòng xác nhận hay phủ nhận chuyện ông cho chuyển ngân bất hợp pháp hai tỷ đô-la sang một ngân hàng ở Thụy Sĩ. Có phải ông định dùng số tiền nầy kinh tài để củng cố chế độ “gia đình trị” do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ xướng chăng?Có tiếng vỗ tay lét đét từ phía “cò mồi” do các phần tử “yêu nước” gài.
Ông Cố vấn chờ tiếng vỗ tay chấm dứt, điềm tĩnh trả lời:
-Có! Chúng tôi có một ngân khoản ở Thụy Sĩ. Nhiều hơn con số anh đưa ra. Tôi không tiết lộ con số chính xác vì nó liên quan tới An Ninh Quốc Phòng. Đó là một ngân quỹ bí mật. Muốn sử dụng phải hội đủ 5 nhóm mật mã của 5 vị trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mà tôi là một thành viên. Có lẽ anh ở ngoại quốc quá lâu, nên không theo dõi hiện trạng đất nước. Người Mỹ đang áp lực chúng tôi theo đường lối chính trị của họ. Chúng tôi không muốn hoàn toàn lệ thuộc vào họ, đánh mất chủ quyền quốc gia. Nên quỹ bí mật nầy nhằm đảm bảo sự độc lập của chúng tôi trong việc điều hành quốc sự…Hy vọng tôi đã trả lời thỏa đáng điều anh thắc mắc…Cử tọa không vỗ tay rầm rộ, nhưng gật gù tán thưởng. Sinh viên “yêu nước” bẽn lẽn rời khuôn viên Institut.
-Thưa ông Cố vấn, sinh viên “yêu nước” thứ hai sừng sõ “chất vấn” tiếp. Ông vẫn chưa trả lời dứt khoát Tổng Thống Ngô Đình Diệm có áp dụng chế độ “gia đình trị” tại miền Nam không?Lại có tiếng vỗ tay lét đét!
-Như ông bạn anh vừa hỏi tôi, tôi nghĩ rằng anh cũng đã xa quê hương rất lâu. Tôi xin tóm lược hiện tình đất nước từ ngày Ngô Tổng Thống về chấp chánh đến nay, để đặt câu hỏi ngược lại với anh:
Giả thử anh là Thủ tướng Ngô Đình Diệm, về nước năm 1954 khi thực dân Pháp còn tiếp tục khuyến khích các phần tử thân Pháp lật đổ chính quyền, cũng như yểm trợ, xúi giục các giáo phái có thành tích bất hảo như thổ phỉ đánh phá quân đội quốc gia, trước cảnh dầu sôi lửa bỏng do các phần tử đối nghịch tạo nên, rắp tâm tiêu diệt anh, nếu phải chọn cộng sự viên sẵn sàng chết sống có nhau vì đại cuộc, giữa hai người đồng tài, đồng sức, đồng chí hướng, một bên không là thân bằng quyến thuộc, một bên là cật ruột, anh có cảm thấy gần như không cách chi anh không hành sử như Tổng Thống Ngô Đình Diệm chăng?
Sinh viên “yêu nước” thứ hai âm thầm lủi mất.
Mọi người lần lượt rời khuôn viên bước vào hội trường tham dự dạ vũ...
**
Ô
ng Tuyên, tùy viên văn hóa (attaché culturel) Tòa Đại Sứ VNCH có lẽ là người duy nhứt trong cơ cấu đại diện quốc gia được anh chị em sinh viên chúng tôi quý mến. Ông rất cởi mở, chia sẻ và cảm thông những khó khăn của sinh viên du học, giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của họ nơi xứ người. Nhờ vậy chuyện mất thiện cảm của kiều bào trước thái độ ít nhiều lãnh đạm, nếu không muốn nói là kiêu căng, hách dịch của các viên chức ngoại giao tại tòa đại sứ giảm sút thấy rõ từ lúc ông nhận trách nhiệm. Cũng nhờ ông chăm chú cải thiện việc tiếp đón thực khách mà số sinh viên lâu nay thường la cà ở tiệm ăn khu Maubert của CSBV dần dà trở lại quán cơm Việt Nam đường Monge của VNCH!
Nhưng trong buổi tiếp tân nầy, trông ông có vẻ bối rối ra mặt trước phản ứng bất bình của một sinh viên VN đến mời cô con gái cưng của ông Đại sứ ra sàn nhảy, bị cô khước từ với lý do cô không biết…nhảy. Nhưng sau đó cô ta lại “nhảy” liên tu bất tận với…sinh viên Tây! Trong khi đó tôi cũng đến lịch sự mời ái nữ ông bà Cố vấn khiêu vũ và cũng bị từ chối, cũng với lý do rất lễ phép:
-Thưa anh! Rất tiếc Lê Thủy không biết khiêu vũ…Nhưng khác hơn cô Uyên, Lệ Thủy không khiêu vũ với ai cả. Tôi không cảm thấy bị mất mặt nhưng anh bạn sinh viên VN của tôi thì cho rằng anh bị xúc phạm nặng nề…Trước tình thế căng thẳng có thể gây bất lợi cho việc thu phục nhân tâm của chính quyền VNCH tại hải ngoại, ông bà Đại sứ vẫn không chút nao núng…Hầu như ông Đại sứ quên mất trách nhiệm của ông trước một “rối rắm” (incident) bất ngờ.
Và…không ai ngờ Bà Cố vấn Ngô Đình Nhu đã nhanh trí ra tay làm công việc của ông Đại sứ VNCH! Với một phong cách “ngoại giao đầy nữ tính” (diplomatiquement féminine) hết sức duyên dáng, Bà Cố vấn nhẹ nhàng giải tỏa bế tắc (dénouer l’impasse): -Lệ Thủy! Ban chiều con đi Kermesse (chợ phiên) bắn bia trúng được hai chai rượu. Mau đem ra mở mời các anh đi con!
Lệ Thủy đích thân khui hai chai rượu đỏ, rót mời “các anh”. Con nhà gia giáo có khác! Một điểm son cho người mẹ quá tinh tế trong giao tiếp…
Vì Tổng thống Ngô Đình Diệm suốt đời độc thân, nên do vị thế khá đặc biệt của người phụ nữ trong xã hội VN thời đó, Bà Ngô Đình Nhu -vừa là vợ Ông Cố vấn, vừa là Dân biểu Quốc hội- mặc nhiên được thiên hạ coi như “Đệ Nhất Phu Nhân”…không ngai!Nhờ sự “can thiệp” khéo léo của người phụ nữ đã có thời dạy piano cho các nữ sinh Couvent des Oiseaux (Đà Lạt), sự căng thẳng chùng hẵn và không khí vui tươi trở lại bao trùm cả hội trường. Chủ, khách trò chuyện râm rang, thoải mái.
Khi hội trường trở lại hoang vắng, tôi liếc nhanh đồng hồ: 3 giờ sáng! Cũng may là…Chúa Nhật! Khỏi phải thức sớm!
***
C
ó tiếng gõ cửa phòng tôi. Còn ngáy ngủ, tôi vẫn cố ngồi dậy: người gác dan Institut báo “une dame vietnamienne” muốn gặp sinh viên. Anh gõ cửa tất cả các phòng, không ai trả lời; chắc họ đi chơi hết rồi. May thay tôi chưa “sortir”. Hỏi có biết danh tánh người đến tìm gặp sinh viên chăng; được trả lời người ấy chỉ nói đêm qua có đến dự tiếp tân…
Gấp rút làm vệ sinh, thay áo quần mới, tôi tự hỏi “Madame” nào bí ẩn dữ vậy, chẳng lẽ…Vô lý. Bởi nếu đúng như tôi nghĩ thì phải nghi lễ rườm rà, tiền hô hậu ủng chứ!
Từ thang lầu vội vã bước xuống, tuy khách quay lưng về phía tôi, ngắm nhìn dàn hoa oeillet hai bên lối đi dẫn tới cổng Institut, tôi muốn đứng tim: dáng dấp nầy chỉ có thể của một người rất “tinh tế”…Nhưng sao không mặc áo dài cổ hở -dấu ấn độc đáo của “người ầy”? Quần tây sậm, sơ mi trắng giản dị, tóc buông thả phủ vai như Graziella, chân mang ballerines…Tôi tiến gần đến độ ngửi được hương tóc thoang thoảng mà người thiếu phụ vẫn chưa quay mặt lại vì mãi mê ngắm hoa. Vẫn giữ khoảng cách tối thiểu, tôi tuyệt đối im lặng cho tới khi “phu nhân” xoay người lại…
-Kính chào và hân hạnh được đón tiếp Bà Cố vấn
Quả thật khó khăn lắm tôi mới nói được suông câu, trong lòng bán tin bán nghi có phải mình chào đón đúng người chăng vì… “Bà Cố vấn” hôm nay sao hình như…quá trẻ? Tôi cảm thấy như đang tiếp chuyện với một nữ đồng môn ở Sorbonne!
Tôi hỏi sao không ai báo trước cho chúng tôi bà đến thăm. Bà cho biết muốn đến tự nhiên với anh chị em sinh viên, muốn đích thân tìm hiểu cuộc sống chúng tôi xem có gì cần giúp đỡ cải thiện thêm chăng.
Sau khi hướng dẫn bà đi quan sát phòng ốc, tiện nghi vệ sinh, v.v…tôi thực sự quí mến và cảm phục lòng ưu ái chân thành của bà đối với đám sinh viên xa quê hương, còn bỡ ngỡ trước những khác lạ trong nếp sinh hoạt thường nhật nơi xứ người. Tình thật tôi không cảm thấy chút kiêu căng, hách dịch, xa cách, “quan liêu” nào toát ra từ người phụ nữ rất phong lưu, rất có “classe” nầy! Có lẽ phần nào bị ảnh hưởng về cách phục sức y như sinh viên chúng tôi của vị khách quí bất chợt đến, tôi miên man liên tưởng tới hình ảnh người nữ một thời thanh thoát ngồi trước dương cầm, thả hồn phiêu lãng theo đôi bàn tay tuyệt trần bay lượn trên các phím ngà, cho hàng chuỗi giai điệu réo rắt vang lộng khắp các hành lang Couvent des Oiseaux Xứ Hoa Đào thơ mộng thuở nào…
****
H
ai mươi tám năm sau, từ dạo tiễn Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Không-Ngai ra cổng Institut Franco-Vietnamien, lặng nhìn “Madame” đơn độc đếm bước về hướng métro Port Royal dưới ánh nắng xuân vàng ấm, tôi có dịp trở lại con đường Saint-Jacques đầy ắp kỷ niệm, sau khi ngồi tù cải tạo CS năm năm, vượt biển lưu lạc sang Xứ Tuyết Canada định cư.
Tiệm Tabac, góc Saint-Jacques-Feuillantines, nơi bọn sinh viên chúng tôi thường đến điểm tâm trước khi đi cours vẫn còn, nhưng chắc cũng đã nhiều phen đổi chủ. Cũng nơi nầy, 28 năm về trước, tôi dự tính mời Madame-khách-quí ghé qua để nghe giọng lanh lảnh của nữ chủ tiệm Tabac duyên dáng lập lại “còm-măng” quá quen thuộc của tôi:
-Một cà-phê sữa to và 2 miếng bánh mì nướng! (Un grand crème et deux tartines!)
Nhưng vào giờ chót tôi bỏ ý định vì sực nhớ phương vị rất “bề thế” của Madame, sợ không tiện lắm.
Schola Cantorum vẫn bất biến, luôn kín cổng cao tường. Trái lại ngôi nhà mang số 269 St-Jacques, tuy vẫn còn ở nguyên vị trí, đã hoàn toàn thay hình đổi dạng, từ ngoài tới trong! Bảng đồng mạ vàng khắc hàng chữ xanh Institut Franco-Vietnamien được thay thế bằng tấm gỗ sơn mài, tô hàng chữ đỏ chói Maison du Sud-Est Asiatique! Phòng ốc bên trong cũng đã đổi thay toàn diện . Và hình như chẳng có sinh viên VN nào trú ngụ cả. Toàn sinh viên Căm-pu-chia và một số ít sinh viên Lào.
Sau khi tiếm đoạt quán ăn đường Monge -mà CSBV đổi tên thành Foyer Vietnamien như đã đổi tên Sài Gòn- nghe đâu Hội Thân Hữu Pháp Việt (được tái lập từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa) bị CHXHCNVN áp lực tháo gỡ bảng hiệu Institut Franco-Vietnamien làm xốn mắt Bắc Bộ Phủ. Họ muốn xóa bỏ mọi dấu tích của VNCH trên đất Pháp…
-o-o-o-
Paris, một thuở…Sài Gòn, một thời...Khi Tháng Tư còn Xanh...Khi Tháng Tư chưa Đen trên đất nước, chưa sầu thảm, uất nghẹn trong ký ức ray rứt, trăn trở của người dân Việt, trong cũng như ngoài nước...
Hãy hình dung cảnh ngộ người vợ -đang công tác ngoài nước, rụng rời nhận hung tin chồng và anh chồng bị thảm sát trong cuộc binh biến 1.11.1963 tại Sài Gòn- chưa kịp khô nước mắt, đã phải sụt sùi lau lệ khóc đứa con gái Lệ Thủy tử nạn thảm khốc, chưa đầy một năm sau chịu tang chồng...
Suốt 47 năm, người đàn bà đau khổ sống ẩn dật như một nữ tu, không hề lên tiếng trước những ồn ào náo nhiệt từ loa phát thanh của các “đấng” anh hùng hải ngoại, chuyên đấu võ mồm, mắc chứng “nổ” không ngưng nghỉ (non-stop), tự đánh bóng ngoài những giới hạn có thể chấp nhận! Nghe đâu người đàn bà rất tự trọng nầy dự tính viết hồi ký. Hàng ngũ anh hùng dỏm chắc chắn ít nhiều đang bị chấn động…
Ném một hòn sỏi xuống giòng sông, theo dõi các vòng tròn từ từ tan loãng, tôi ngước nhìn trời cao thầm cầu nguyện cho người đàn bà bạc phước, một thời Đệ Nhất Phu Nhân không ngai của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, nhưng mãi mãi vẫn ngự trị trong tâm hồn tôi như Một Phụ Nữ Việt Nam phi thường…

Thôn trang Rêu-Phong, Tháng Tư 2010
-Lê Tấn Lộc
-

Wednesday, February 10, 2010

ỐI GIỜI ÔI! CHÚNG NÓ "HIẾP" TÔI

Phiếm “loạn” (V)
Ối giời ôi! Chúng nó “hiếp” tôi!
“Kia mới là trăng! Đây chỉ là ngón tay ta chỉ trăng…”
(Lời Phật)

Tết nhứt tới nơi, một năm nhọc nhằn vất vả với bao nhiêu đối mặt cùng nhiều thứ trên xứ người, dù đã sắp vẫy tay từ biệt cõi mộng, tờ báo xuân Việt Luận trên tay, tạm gác những “tức khí” trước nhiều vụ nhiêu khê xảy ra trong năm tại quê nhà cũng như trên xứ người, tôi gắng gượng vui Xuân theo kiểu nhà thơ Nguyễn Bính trước đây đã phải “cũng cố vui ngang gái được chồng” khi lưu lạc khắp miền Nam nước Việt…
Ấy thế mà cũng chẳng thể hoàn toàn đánh mê ý thức qua vài chung hồng tửu chào mừng Xuân trên đất khách: Đang dật dờ với men rượu xuân, tôi tỉnh hẳn nghe bên kia đầu giây một giọng nữ thân quen ‘báo động’ vừa FW (chuyển tiếp) cho tôi hai bài viết trên Net mà cô rất muốn tôi mở máy đọc ngay và ‘góp ý’…
Trước đây, giáo đầu một bài viết về tôn giáo và làm việc thiện tôi đã chấp nhận làm công việc nguy hiểm “khiêu vũ trên những quả trứng”. Lẽ nào lần nầy tôi lại chùn chân, không dám liều lĩnh ‘khiêu vũ’ lần nữa, xem có chết thằng Tây nào chăng?
-o-o-o-
B
ài thứ nhất, “Quá nhiều Thích Trí Quang(?)” của J. Kiên Trung, mở đầu như sau:

“Ai cũng biết câu tục ngữ :"Chiếc áo không làm nên ông thầy tu". Nhưng biết là một chuyện; tỉnh táo, can đảm để không bị huyễn hoặc, bị lầm lạc là chuyện khác.
Không cần nói chuyện xa xưa, bài học về những kẻ "xanh vỏ đỏ lòng", đội lốt tu hành để mưu đồ đen tối, vẫn hằng tiếp diễn. Bài học máu xương dai dẳng đó, có giúp mọi người tỉnh táo, sáng suốt cho chặng đường hiện tại và tương lai không? Không! Giặc Cộng vẫn tiếp tục khai thác và ta vẫn tiếp tục bị động trong sự kiêng dè, mặc cảm trước những chiếc áo Thầy tu! Địch dùng tôn giáo như một mũi nhọn khi tấn công, và như một tấm khiên hay một cái áo giáp chắc chắn che đỡ khi bị phản kích, bị tố cáo.
Ta thì kiêng dè tôn giáo, kiêng dè quy củ, kiêng dè cái tốt, cái hay thì nói làm gì; đằng này kiêng dè cả những kẻ hung ác đội lốt, kiêng dè cả những sai trái mang mặt nạ tôn giáo (Tôn giáo và Từ Thiện là hai mặt trận quan trọng được giặc Cộng triệt để khai thác!) Có khi kiêng dè vì tin tưởng theo kiểu u mê. Cũng có khi kiêng dè vì sợ bị chụp mũ: " Kỳ thị tôn giáo"! Một trong những sách lược tinh quái của Cộng phỉ Hà Nội dùng để phá hoại công cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của VNCH trước đây và công cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền của dân tộc VN hiện nay là xâm nhập và biến những bộ phận tôn giáo thành công cụ phục vụ cho chúng.
Thực tế, sách lược lợi hại này đã rất thành công. Đã thành công mỹ mãn trong quá khứ là ngày 1/11/1963 tạo tiền đề dẫn đến đích điểm 30/4/1975 thì không lý do gì giặc Cộng không đẩy mạnh chiêu thức này trong hiện tại và tương lai. Điểm đặc biệt là khi hoạt động "tôn giáo vận", cán bộ Việt gian Cộng sản rất hiệu quả khi núp dưới chiêu bài Phật giáo! Phải chăng do tôn giáo này lõng lẽo trong tổ chức và yếu kém về tinh thần đề kháng....nên dễ bị khuynh đảo?
Trước đây người ta mù mờ về Thích Trí Quang, một gương mặt trí trá với chiếc đầu trọc và chiếc áo vàng mượn danh tôn giáo, nhận tiền bạc ngoại bang và sức lực CS đã góp phần phá sập một nền dân chủ còn non trẻ nhưng đầy sức sống của Đệ I VNCH! Những trò xách động biểu tình, dàn cảnh sát hại thường dân, dàn cảnh tự thiêu...chỉ là những bề nổi che dấu âm mưu cấu kết với ngoại bang Mỹ và CS để triệt hạ những nhà lãnh đạo nhiệt thành thương dân yêu nước....
Họ là ai?..”
(ngưng trích).
Câu hỏi, theo tôi, bắt động não…
Và loạt bài thứ hai dưới đây thực sự bắt tôi động não!

Loạt bài nầy gồm nhiều textes, vừa văn kiện, vừa bài viết, do Tỳ kheo Thích Nhật Tân tung lên Net. Cô bạn tôi tiết lộ vì thấy nội dung các textes, nhất là bài viết ký tên Albert Trần “mang nhiều tính chất hận thù, chửi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa và Cố TT Ngô Đình Diệm một cách thậm tệ, nên nhiều tờ báo ở Úc đã từ chối đăng”. Nhưng vị ‘cao tăng’ có chức phận trong một Giáo hội có tầm cỡ ở Xứ Căng-Gu-Ru nói trên -dù trong vị trí tu hành lẽ ra vì lòng từ bi, hỉ xả, phá chấp phải nên e dè, cẩn trọng hơn bổn đạo của mình- lại nhanh nhẩu và hăng hái phổ biến rộng khắp, bất chấp hiểm nguy gây va chạm mạnh mẽ giữa các cộng đoàn tôn giáo...
Trong thế chẳng đặng đừng, tôi cũng đành liều nhắm mắt đưa chân…khiêu vũ trên những quả trứng như lần trước …Chỉ xin báo trước, khi vươn vai chuyển mình, dù rất cố gắng dè chừng từng động tác, cũng chưa hẳn tôi tránh khỏi tay mình va vào mặt, chân mình chạm vào mông người khác! Mọi ‘sự cố’ đều ngoài ý muốn của người viết…
**
T
rả lời câu hỏi: “Họ là ai?”, J. Kiên Trung viết:
1. Mỹ (chủ mưu)
2. Cộng sản (cấu kết vì thù ghét TT Diệm)
3. Những kẻ lấy danh nghĩa Phật giáo gian phản (gian ác lợi dụng áo cà sa, vừa ăn tiền Mỹ vừa làm tay sai CS!)
4-Tướng tá phản quốc (ăn tiền Mỹ phá hoại đất nước. Những kẻ u mê vẫn tiếp tục giọng điệu bôi bác của 4 thành phần gây tội ác…!
Cả 4 thế lực gian ác này vẫn tung những luận điệu bịp bợm để chối tội bằng cách nói xấu Đệ I Cộng Hoà. NHỮNG NGƯỜI CÓ LƯƠNG TRI CẦN CAN ĐẢM NÓI LÊN SỰ THẬT.
(ngưng trích)
Dám hỏi những ai tung loạt bài biện minh cho một số tu sĩ lợi dụng tôn giáo trong Phong trào Phật Giáo Tranh Đấu tại Miền Trung năm 1966 và sau nầy, qua Biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế -nhất là Albert Trần (dân Tây chăng?), người chửi đổng cho sướng miệng cố TT Ngô Đình Diệm, Đệ I Cộng Hoà và QLVNCH, cũng như xúc phạm trầm trọng đến tín ngưỡng người khác mà hoàn toàn mù tịt về giáo lý và nghi thức trở thành tín hữu của tôn giáo nầy- có thể trưng bằng chứng phản bác những cáo buộc nghiêm trọng “4 thế lực gian ác” nêu trên một cách không chối cãi được chăng?
Thái độ anh hùng rơm của ông Albert Trần làm tôi nhớ lại cung cách xỏ lá của đám ‘trí thức (hay ngủ) trùm chăn’năm 1963 hung hăng con bọ xít huênh hoang ‘nổ’ sau khi ‘Ngô Tổng Thống’ và bào đệ bị thảm sát rằng họ đã từng chống đối, đả kích chế độ độc tài nầy. Bị vặn hỏi tại sao trước đó đồng bào chưa hề thấy họ xuất đầu lộ diện ‘tranh đấu’, họ tỉnh bơ như người Hà Nội hét to trấn áp rằng họ
“đã từng đóng kín cửa nhà, chửi rủa Ngô Đình Điệm”!

Quả tình tôi chẳng thấy chút hứng thú nào ‘góp ý’ với ông Albert Trần, bởi lẽ chính ông đã vấp phạm những gì mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã lưu ý trong Thông Tư số 007/VHD/VT, ngày 17.01.2010: ngôn từ thiếu lễ độ(…) cung cách bất lịch sự”, sử dụng danh từ đao to búa lớn, mạt sát người không cùng chí hướng với mình, chẳng hạn như, Ngô Đình Diệm
“bán nước”, “dụ (vô) đạo”,v.v…
Tôi chỉ muốn hỏi ông Albert Trần: ông có đi lính và có đánh đấm gì với VC chăng? Năm nay ông được bao nhiêu tuổi đời rồi? Thời Đệ I Cộng Hòa, ông mấy tuổi nhỉ? Riêng tôi thì chẳng giấu chi ông, thời ‘Ngô Tổng Thống’, tôi chỉ là một chuẩn úy trừ bị, 28 tuổi, đi hành quân ở các vùng Phú Thứ,Thùng Thư, An Sơn, An Điền (Bình Dương) -với quân trang, quân dụng thời đó chưa tân tiến lắm- thành lập ấp chiến đấuấp chiến lược. Tôi có thể khẳng định không chút do dự là quốc sách Ấp Chiến Lược lúc bấy giờ đã thực sự chận đứng sự bành trướng của MTDTGPMN, -công cụ trá hình của Hà Nội- phá vở sách lược ‘lấy nông thôn bao vây thành thị’ của CSBV, ngăn chặn hữu hiệu chúng trà trộn trong dân chúng hoạt động quấy rối chính quyền. Tiếc thay, sau khi TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, những tướng lãnh chủ mưu đảo chánh đã dẹp bỏ quốc sách nầy, tạo điều kiện thuận lợi cho địch quân trở lại bức hại dân lành vô tội vạ và gây nhiều tổn thất cho quân ta khi hành quân, vì chúng tôi không thể dễ dàng tìm diệt địch như khi còn các ấp chiến đấu và ấp chiến lược cô lập chúng. Đó là sự thật khó chối cãi ông Albert Trần ạ!
Thế mà ông ngang nhiên ‘phán’ Ngô Đình Diệm…bán nước! TT Diệm bán nước hay giữ nước, hở ông ăn nói hồ đồ? Tôi nghĩ có lẽ chỉ có một số ít người như ông và -dĩ nhiên cả CSBVnữa- gán cho TT Diệm tội…bán nước! Ông Albert Trần ơi! Xin hỏi nhỏ: ông là người quốc gia hay phe CS vậy, hở ông? Lẽ nào ông không rõ lập trường cương quyết chống cộng, đả thực, bài phong, của vị cố Tổng Thống Đệ I Cộng Hòa? Lẽ nào ông cam tâm thui chột mắt mình để khỏi nhận ra rằng hiện giờ ai bán nước, ai cắt đất dâng sông cho Tàu Cộng? Và, trước 75 ai đã tiếp tay -nếu không muốn nói là dọn đường- cho chúng nuốt trọn miền Nam vậy, thưa ông? Phủ nhận, bào chữa cho những thành phần nối giáo cho giặc nầy, đơn thuần là…
ngụy biện!
Cũng chẳng lẽ ông không rõ hai tiếng bán nước thường đi đôi với hai chữ Việt gian? Vậy theo ông ai là Việt-gian-bán-nước đây? Trong cũng như ngoài nước, hiện nay ‘cụm từ’ Việt-Gian-Cộng-Sản rất phổ quát (universel), gần như đã thay thế hẳn danh từ Việt Cộng, ông đồng ý chứ?
Tôi rất khó quên cũng nhờ ông và các bạn “tranh đấu” của ông mà vừa cởi quân phục chưa đầy 2 năm, tôi đã phải vội vã từ giã bục gỗ và đám môn sinh, khoác lại chiến y xuất trận đương đầu với cộng quân trên đường phố Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn trong đợt II tổng công kích Tết Mậu Thân của chúng. Ông ở đâu và làm gì trong tình thế dầu sôi lửa bỏng đó, hỡi ‘người hùng’ Albert Trần?
Tôi vẫn để tang muôn ngàn chiến hữu của tôi xả thân bảo vệ chính thể VNCH, nay đã vĩnh viễn nằm xuống trên quê cha đất tổ sắp bị chú láng giềng khổng lồ nuốt trửng, lớp trên chiến trường, lớp trong rừng sâu nước độc của ngục tù CS; và hơn nửa triệu đồng bào chúng ta mưu tìm tự do đã vùi thây dưới đáy biển…
Tôi hằng cầu nguyện cho anh linh họ sớm được vào cõi tịnh độ và mong ước họ hỉ xả cho ông cùng các bạn ‘đấu tranh’ xưa kia của ông!
Đọc bài “Hoan nghênh…”của ông, tôi có cảm tưởng như ông muốn thay mặt các bạn đồng chí…hướng với ông inh ỏi la làng: Ối giời ôi! Chúng nó (ám chỉ chúng tôi, những người chiến đấu bảo vệ Đệ I và Đệ II Cộng Hòa) “hiếp” tôi! Người viết sẽ trở lại mục “hiếp” nầy sau. Và…nuôi chút hy vọng mong manh rằng ông còn tí lương tri tối thiểu để đừng quá cuồng tín chụp mũ tôi là ‘dư đảng’ Cần Lao!
Tiền nhân thường khuyên nhủ: “Ăn cây nào, rào cây nấy”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ông và các bạn ‘đấu tranh’ của ông thụ hưởng biết bao tiện ích của miền Nam VNCH, quả thật đã nỡ nhẫn tâm ăn cây nào đào bứt gốc cây nấy, ăn quả quyết bẻ luôn cành cây và siết cổ luôn kẻ trồng cây, khác chi bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản sau nầy a-dua theo VC thảm sát đồng bào Huế hôm Tết Mậu Thân!
Nhận xét cuối cùng của tôi về bài viết ‘rỗn rãng’ lớn lối với tựa đề chạy chữ to quá tầm cỡ của ông:
Y như ông cáo buộc thiên hạ, ông đã lợi dụng cơ hội ‘hoan nghênh’ Thông Tư của HT Quảng Độ, “thừa gió bẻ măng” (chữ của chính ông xài) đá gió lái giới truyền thông ở Úc đang chờ ‘vác chiếu ra tòa’ do Giáo hội mà ông đang hùng hỗ ra sức ‘cứu giá’ đâm đơn kiện. Lẽ ra ông nên thận trọng hơn, vì nội vụ đang chờ được công lý xét xử cho sáng tỏ. Ông ‘khều móc’ kiểu nầy coi chừng ba tòa quan lớn ‘hỏi thăm sức khỏe’ ông đấy! Qua cách hành sử của ông, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy ông còn dám hạ bút viết: “Sống trong một xã hội văn minh, với tinh thần pháp trị, ai cũng được luật pháp bảo vệ, không ai có quyền cấm đoán hoặc “bịt miệng” ai, nếu ta không làm điều gì phạm luật”! Ít ra ông cũng còn chút sáng suốt nhận ra
tự do ngôn luận tối cần cho trắng đen được phơi bày, cho chân lý tất thắng!
***
V
ới Hòa Thượng Thích Quảng Độ tôi xin thủ lễ, chắp tay vái chào cho phải phép “kính Phật, trọng tăng”, trước khi mạn phép ‘góp ý’ với quí cao tăng. Nhưng cũng xin nói rõ chỉ trọng tăng với những bậc chân tu, bất cứ thuộc tôn giáo nào. Từ bỏ hưởng thụ mọi tiện nghi vật chất trần tục (thoát tục), người đi tu, bất cứ theo tín ngưỡng nào cũng xứng đáng cho chúng ta ca tụng và thán phục sự hy sinh cao cả vì đạo pháp. Nhưng…than ôi, bậc chân tu quí như ngọc ngà, hiếm như châu báo ở thời buổi nhiễu nhương, tranh tối tranh sáng, vàng thau lẫn lộn! Chắc hẳn Hòa Thượng không nỡ nhắm mắt làm ngơ, phủ nhận thực tế phũ phàng nầy: Các vụ lợi dụng danh nghĩa tôn giáo, lạm dụng quyền uy tinh thần của các bậc tu hành làm những điều xằng bậy nhan nhãn gần như hằng ngày trên báo điện tử cũng như trên báo giấy…Cho nên giới truyền thông đã góp phần đáng kể thông tin cho dư luận quần chúng rõ biết những tệ trạng trong hàng giáo phẩm của bất cứ tôn giáo nào. Dù lắm khi giới nầy phải gánh chịu nhiều áp lực có tính chất ‘răn đe’, trù đập, hù dọa…Nhưng đó là chuyện đại sự, kẻ hèn tự nhận thấy không đủ bản lĩnh, tài năng và hiểu biết đầy đủ để lạm bàn.
Chỉ xin phép Hòa Thượng cho người viết góp vài nhận định thô thiển về một ít sự việc được nêu ra trong Thông Tư của Ngài.

Bạch Hòa Thượng,

1) Một vài từ Ngài dùng khiến tôi hơi thắc mắc: phi dân tộc, phản tổ quốc…Thú thật, không thể nào tôi không liên tưởng tới các nhóm chữ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, Mặt Trận Tổ Quốc. Lẽ nào Ngài nghĩ rằng chống các ‘mặt trận’, các ‘liên minh’ ma-nớp nầy là…phi dân tộc, là phản tổ quốc? Đoạn văn nầy trong Thông Tư càng khiến tôi khó hiểu tôn ý của Ngài:
“(…) cố tâm vu cáo GHPGVNTN theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”.
2) Những sự việc Ngài trình bày về các đức Tăng Thống rất thống thiết, bi hùng. Về đức Đệ nhất Tăng thống, cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết tôi không có ý kiến, vì không đủ dữ kiện cần thiết để góp ý. Nhưng về đức Đệ tam Tăng thống, cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu thì, không riêng gì tôi mà đồng bào trong và ngoài nước đều không thể không biết vai trò quan trọng của đấng hòa thượng nầy trong biến cố Tết Mậu Thân tại Huế.
Riêng các sự việc liên quan đến vị Đệ tam Tăng thống mà Hòa thượng kê khai trong Thông Tư để chứng minh sự hào hùng, bất khuất của HT Thích Đôn Hậu, như:
a-“(…)băng ghi âm Đức cố Đệ tam Tăng thống kể lại thời kỳ Ngài bị Cộng sản đến chùa Linh Mụ, Huế, bắt đưa lên núi hồi Tết Mậu Thân, ép buộc đưa ra Hà Nội, cho đến giai đoạn sau 1975 Ngài lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp Phật giáo”.
b-“Trong năm 1978, sau mười lần cán bộ các cấp đến ép buộc Hoà thượng ra ứng cử đại biểu Quốc hội nhưng Hoà thượng vẫn một mực khước từ”. Ajouter une image
c-“…lời đáp uy dũng của Ngài khi có người hỏi : “Hiện nay có nhiều gia đình đã dẹp tượng Phật trên bàn thờ để thờ Bác Hồ, việc ấy có đúng và nên làm không ?”. Ngài trả lời : “Việc ấy sai, Phật tử thì phải thờ Phật chứ không thờ ai khác !”.
d-“...thời Ngài bị quản thúc giữa thủ đô Cộng sản ở Hà Nội. Ngài đã khước từ đứng gác quan tài ông Hồ Chí Minh năm 1969 (…) rồi sau này quan tài ông Tôn Đức Thắng năm 1980”.

Xin Ngài cho phép tôi đặt một vài nghi vấn và đưa ra một vài nhận xét:

*Về cuộn băng nói trên, cho dù thực sự có cuộn băng đó, không gì bảo đảm tiếng nói trong băng là tiếng nói của HT Thích Đôn Hậu. Ngày nay với kỹ thuật tân tiến, ngụy tạo tiếng nói không gì khó khăn. Biết bao băng giã tiếng nói của Ben Laden! Ngay cả chuyện HT bị ép buộc đưa ra Hà Nội là chuyện không thể nào tin được khi HT là Phó Chủ tịch của LMCLLDTDCHB do CS dựng nên khi chiếm đóng Huế! Giới CSBV cầm quyền hiện nay nghe chuyện năm 1968 chúng bắt ép HT ra Hà Nội chắc cũng sẽ cười tóe phở!
Chuyện ông HT bị ‘ép’, ông Albert Trần và các bạn ‘tranh đấu’ của ông cảm thấy bị ‘hiếp’ khiến tôi muốn phì cười nhớ tới chuyện ‘ép, hiếp’ khi xưa của bà Bút Trà, thập niên 50: Bà loan tin giựt gân chuyện hoang đường một phụ nữ miệt Cà Mau lấy..khỉ! Các báo phanh phui bà dựng đứng chuyện ly kỳ nầy để câu khách cho tờ báo Sàigòn Mới. Bà nổi dóa phản pháo các báo cấu kết ăn hiếp bà. Ngày hôm sau, một tờ báo hí hóa một con khỉ ‘đè’ một người đàn bà phốp pháp, với câu phụ chú người nữ kêu la: “Trời đất ơi! Nó hiếp
tôi!”.

*Về ba ‘sự kiện’ hào hùng, bất khuất về HT/TĐH mà Ngài nêu ra, theo tôi, cũng khó thuyết phục được số đông quần chúng, kể cả quần chúng Phật tử, nhất là tuyệt đại đa số Phật tử ở Huế! Tôi nghĩ rất khó kiểm chứng sự cang cường của HT/TĐH, “dù bao gian truân, bức bách, Ngài vẫn đứng thẳng như núi (sic!) trước chế độ khủng bố…”, như Ngài viết, ngoại trừ có nhân chứng từ phía CSBV lên tiếng xác nhận. Trái lại thái độ và lập trường thiên cộng của HT thì hầu như vô phương chối cãi. Bởi vì có rất nhiều nhân chứng khắp nơi lên tiếng cáo buộc.

*Về chuyện Ngài đánh tiếng: “Giáo hội chúng tôi đòi hỏi những cá nhân, đoàn thể, đảng phái vu cáo đức Đệ tam Tăng thống, cố Đại lão Hoà thượng Thích Đôn Hậu, và hàng giáo phẩm GHPGVNTN, nếu họ tự tin họ đúng, thì phải trưng đủ bằng cớ, tư liệu cho sự vu cáo nói trên”, lời yêu cầu nầy đã được vài nơi đáp ứng rồi đây:
HUẾ MẬU THÂN: ĐƯA VIỆT CỘNG RA TÒA QUỐC TẾ.
LIÊN THÀNH (Nguyên chỉ huy trưởng CSQG Thừa Thiên, Huế)
(01/29/2010)
LTS.- Ông Liên Thành, nguyên là chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, Huế phổ biến đến báo chí lời kêu gọi đồng bào Huế cùng hợp tác để đưa Việt Cộng ra tòa án hình sự quốc tế về tội diệt chủng.
Thời Báo hân hạnh đăng tải lời kêu gọi của ông Liên Thành.
Trân trọng,
THỜI BÁO
Công lý cho Mậu Thân

Hãy trả lại công bằng và công lý cho 1200 thường dân bị mất tích và 5327 thường dân vô tội bị Cộng Sản đập đầu chôn sống, bắn giết, trong Tết Mậu Thân 1968 tại Cố Đô Huế.
Đồng bào Huế xin hãy hợp tác với tôi, truy tố đám sát nhân này ra tòa án hình sự Quốc Tế về tội diệt chủng.
LIÊN THÀNH
Nguyên Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế
Địa chỉ liên lạc:
nguyenphuclienthanh @gmail.com
biendongmientrung@ yahoo.com
(…)
Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình tại Huế:
- Chủ tịch : Giáo sư Lê Văn Hảo.
- Phó chủ tịch: ông Thích Đôn Hậu.
Thích Đôn Hậu là cơ sở tôn giáo vận của thành ủy viên Hoàng Kim Loan.
Thích Đôn Hậu trù trì chùa Linh Mụ, là Chánh Đại Diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.
- Tổng thư ký: Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tuờng
- Phụ trách học Sinh Sinh Viên, các thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân.
Theo đài phát thanh Hà Nội, bản tin phát đi vào ngày mồng 3 Tết, tức là ngày 1tháng 2 năm 1968, thì đây là một lực lượng kết hợp “nhân sĩ, trí thức”, học sinh, sinh viên và Phật Giáo yêu nước vừa mới thành lập tại Huế, nhằm đứng lên chống đế quốc Mỹ và đám tay sai bọn ngụy quân ngụy quyền, lùng diệt, truy quét bọn ác ôn tàn binh Mỹ Ngụy, tay sai CIA.
(…) chi tiết:

1- Chủ Tịch: Ông Lê Văn Hảo, giáo sư Nhân Chủng Học, Viện Đai Học Huế
2- Phó chủ Tịch: Ông Thích Đôn Hậu Chánh Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh.
3- Tổng thư Ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên giáo sư Trường Quốc Học. Đương sự cùng với em ruột là Hoàng Phủ Ngọc Phan thoát ly lên mật khu vào tháng 6/1966, với sự tiếp tay của Trịnh Công Sơn, sau vụ tranh đấu của Thích Trí Quang tại Miền Trung.
4- Phụ trách Học Sinh, Sinh Viên Giải Phóng: Nguyễn Đắc Xuân, nguyên sinh viên Đại Học Sư Phạm, ban Việt Hán. Đương sự thoát ly lên mật khu vào tháng 7 năm 1966 sau vụ tranh đấu vào tháng 6/1966 của Thích Trí Quang.
5- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế: bên cạnh chức chủ tịch Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, Ông Lê Văn Hảo còn được Việt Cộng cho giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế.
6- Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế: Bà Đào Thị Xuân Yến tức Tuần Chi, cũng là nhân tình của ông Thích Đôn Hậu
7-Đội trưởng Đội Tự Vệ Thành: Sinh viên Nguyễn Đắc Xuân giữ chức vụ Trưởng Đoàn An Ninh và bảo vệ khu phố, gọi tắt là Đội Tự Vệ Thành.
(…)
Sáu giờ sáng, khi sương mù chưa tan, trời thì lạnh và thấp, Huế bật khóc trong phẫn uất, đau đớn, khi nhìn về phía kỳ đài Phú văn Lâu: Quốc kỳ màu vàng 3 sọc đỏ không còn nữa! Thay vào đó là một lá cờ gồm 3 mảnh: Hai mảnh hai bên màu xanh nhạt, mảnh giữa màu đỏ có ngôi sao vàng. Dân chúng Huế thì cứ ngỡ là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Thật tình không phải vậy. Cờ MTGPMN chỉ có 2 mảnh, một mảnh màu xanh nhạt, một mảnh màu đỏ giữa có ngôi sao vàng. Lá cờ treo trên Kỳ Đài Ngọ Môn là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân tộc Hòa Bình. Nói cho rõ hơn, là cờ của các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v.
(…)
1968-2009: bốn mươi mốt năm trôi qua, một quảng thời gian dài cho đời người, nhưng đối với người dân Huế và thân nhân của tổng cộng 6527 nạn nhân trong cuộc tàn sát tàn bạo do Hồ Chí Minh (HCM) và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản gây ra, thì biến cố lịch sử kinh hoàng này vẫn còn mới, còn đau và còn rỉ máu, bởi vì: nợ vẫn chưa được trả, công bằng và công lý vẫn chưa có.
Tôi, Liên Thành, người đã có mặt trước, trong, và sau khi xảy ra cuộc chiến, viết lại mấy dòng này, như là một chút bổn phận cho những người dân vô tội và đồng đội của tôi đã ngã xuống trong Tết Mậu Thân .
(ngưng trích)

Ngoài ra, ông J. Trung Kiên cũng lên tiếng cáo buộc HT/TĐH:

Một điển hình khác là Sư Thích Đôn Hậu! người ta cũng mù mờ, hoặc úy kỵ sợ bị gán là “kỳ thị tôn giáo” nên dù biết rất rõ cũng không dám đụng chạm đến Thích Đôn Hậu, kẻ đã ngang nhiên đứng vào hàng ngũ của cái gọi là Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình do CS Hà Nội dựng lên ngày 01/2/1968 chung với các tên đồ tể Lê Văn Hảo, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…. Nghĩa là hàng ngũ những tên vô lại, phản bội phản phúc, nhúng tay thảm sát đồng bào Huế, Tết Mậu Thân!
Sau đó núp dưới áo cà sa, Thích Đôn Hậu lại huy động những người mê muội cấu kết cùng giặc Cộng gây ra chướng ngại cho cuộc phản kích cuả quân đội VNCH, Thích Đôn Hậu là tên tội đồ gây ra cái chết cuả Trung Tá Lê Minh Hằng và 100 chiến sĩ Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC….( với công lao theo Cộng phá hoại đất nước, Thích Đôn Hậu đã được CS Hà Nội ban thưởng huân chương cao quý của chúng là Huân Chương Hồ Chí Minh).
(…)
Những con rối Thích Trí Quang, Thích Đôn hậu, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Huỳnh Liên..v..v.. liên tục diễn ra những hành vi làm “mất máu” miền nam, góp thêm công trạng cho giặc thù phương Bắc… Đỉnh điểm của sự lộ mặt những kẻ đội lốt tôn giáo là suy tôn Dương Văn Minh, dẫn đến ngày 30/4/1945!
(ngưng trích)

*Về chuyện quy trách trong biến cố Tết Mậu Thân tại Huế, Ngài viết: Nếu phải tố cáo hay quy trách nhiệm, thì phải quy trách nhiệm cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã không làm tròn nghĩa vụ trong việc bảo vệ dân trong Tết Mậu Thân khiến cho khắp nơi dân chúng bị đối phương tàn sát, đặc biệt ở Huế…”, tôi thấy không ổn, vì ít nhiều phảng phất chút cường điệu muốn chạy tội cho HT/TĐH và LMCLLDTDCHB…
Hòa thượng Thích Đôn Hậu và cái Liên Minh của ông, gồm các đồ tể Văn Hảo, Dương Tiềm, Ngọc Tường, Ngọc Phan, Đắc Xuân, v.v… chẳng thể nào chối bỏ sự can dự trực tiếp vào việc tàn sát đồng bào Huế!

*Về chuyện miền Nam Việt Nam lọt vào tay CS, Ngài nhận định: “Không thể nào vu cáo hàng giáo phẩm GHPGVNTN “rước Cộng sản vào Tết Mậu Thân Huế” hay “dâng miền Nam cho Cộng sản”, khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ? Trong khi ấy chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ? Chuyện mất nước không thể trút hết lên đầu đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH, quân dân miền Nam VN đều có phần trách nhiệm. Nhận định của Ngài, ngoài việc chối bỏ một phần trách nhiệm tiếp tay cho địch quân của một số tăng ni, Phật tử ‘tranh đấu’, trí thức ‘yêu nước’, còn tỏ lộ khuynh hướng chạy tội cho họ, y như một số cấp lãnh đạo VNCH giờ đây, nếu không trở cờ liếm tay giặc thì cũng tìm đủ mọi cách tự đánh bóng, đổ tội cho đồng minh, đồng đội để chối bỏ tư cách ươn hèn của mình ‘đem con bỏ chợ’ chạy thoát thân!

*Về câu HT/TĐH “nói thẳng” (cang cường thay!) với hai vị trong Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội CS (in chữ đậm trong Thông Tư): “Tình đoàn kết đó, thương yêu đó, kính trọng đó [đối với người kháng chiến, cách mạng] chỉ được 10 ngày ! Sau 10 ngày đó : tình đoàn kết xưa nay bây giờ rã hết ! Lòng thương yêu đổi thành ghét cay ghét đắng ! Sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để ! (…) Phật giáo chúng tôi sống qua bao nhiêu chế độ, bị đàn áp một cách tàn bạo. Người Phật tử luôn luôn trông mong một chế độ nào cởi mở hơn, biết điều hơn, để đem lại cho họ một phần cuộc sống đã bị mất. Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”, xin mạn phép Ngài cho tôi nói lên điều không những riêng tôi nghĩ mà có lẽ cũng là điều rất được nhiều quân dân cán chính miền Nam đã ‘kinh qua’ đủ mùi ca ngâm với lũ quân Bắc phương kéo tới ‘giải phóng’ họ, cùng chia sẻ với tôi: HT/TĐH cũng như TT/TTQuang cùng một số đồng chí của hai ‘đấng’, sau khi hoàn thành sứ mạng hỗ trợ cho Bắc Bộ Phủ cưỡng chiếm miền Nam, đã bị thất sủng, đâm ra ê chề, não nề chán ngán vì đã nông nổi hí hửng tưởng ‘ngon xơi’ với chế độ XHCN, nuôi mộng ước tín ngưỡng của mình biết đâu có cơ hội được biệt đãi như…Quốc Giáo! Nào ngờ chính sách ‘ưu việt’ của CS muôn đời vẫn bất biến: Vắt chanh bỏ vỏ! “Tôn giáo là liều thuốc phiện của nhân dân!”. Với CS, chỉ một quốc giáo độc nhất được phép phát triển, tồn tại: Đảng Cộng Sản. Mọi tôn giáo khác chỉ được dung thứ nếu được ‘cải tạo’ thành…QUỐC DOANH GIÁO, cốt để trang điểm hoa lá cành, ngụy tạo cho chế độ CHXHCN được tiếng trên chính trường quốc tế là có tự do tôn giáo! Thiền sư ‘vĩ đại’ Thích Nhất Hạnh cũng đã cực kỳ hí hửng thế đó với Bát Nhã Thiền Viện của Ta!

Thưa Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN,
Ngài nghĩ xem chúng ta có cần lập lại câu nói để đời của cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu:
“Đừng nghe những gì cộng sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”, “Đất nước còn, tất cả còn. Đất nước mất, mất tất cả!”…chăng?
-o-o-o-
N
hững gì tôi viết ra trong bài nầy không nhằm “đôi co” (chữ của HT/Thích Quảng Độ dùng) mà nằm trong ý hướng làm sáng tỏ một vài sự kiện thực sự diễn ra trước mắt mọi người dân miền Nam VN trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các hành vi và thái độ của một số cá nhân, lợi dụng danh nghĩa hay ẩn núp sau lá chắn tôn giáo, nối giáo cho giặc phương Bắc giết hại đồng bào, tưởng đâu chẳng thể nào chối cãi được. Thế mà tới nay vẫn còn có phong trào nầy, đoàn thể nọ kiên tâm ‘cạo sửa’ các sự kiện có tính chất lịch sử , lý luận quanh co bóp méo sự việc, đổi đen ra trắng bào chữa cho những cho những ‘cá-nhân-bàn-tay-vấy-máu-anh-em-Huế’ chẳng hề biết ăn năn sám hối tội lỗi vì…chẳng còn chút nhân tính nào hết!

“Thông tư hôm nay, HT/TQĐ viết, là lần đầu tiên Giáo hội Trung ương lên tiếng, mà cũng là lần cuối cùng cất lên…”. Có nghĩa là HT khóa chặt cửa thiền. Không những tôi mà bất cứ ai muốn lên tiếng, Ngài cũng sẽ im tiếng. Nhưng, với tôi diễn đàn vẫn chưa đóng. Bởi vì, bên bênh vực cũng như bênh chống bênh vực đều ước muốn chân lý tất thắng!
Riêng tôi, tôi có chờ đợi bị phản bác đã ‘dám’ đụng tới các Thầy, với luận cứ khó lay chuyển “đụng tới Tăng là…chạm tới Phật, là phá hoại Phật Giáo” của một thiểu số đồng hoá các Sư với Đức Phật! Chính vì thiểu số quá khích nầy mà tôi đã mở đầu bài viết với Lời Phật dạy. Có nên hiểu giới tăng ni chỉ là ngón tay chỉ trăng… “kia mới là trăng”chăng?
Chót hết, tôi muốn hỏi những ai cùng cảnh ngộ, từng đổ xương máu đương đầu với quân Bắc phương, đã từng hứng chịu biết bao tủi nhục trong hỏa ngục ‘cải tạo’ của CS, đã từng vượt qua cái chết tìm đất sống tạm dung với muôn ngàn gian truân, khổ hạnh: Sau khi xông pha nơi tiền tuyến với hiểm nguy gục ngã trên chiến trường, chúng ta trở về hậu cứ không có lấy một giờ phút yên tĩnh dưỡng quân, với một hậu phương lúc nào cũng bị xáo trộn bởi những vụ xuống đường tranh đấu thì… thử hỏi “Ai ‘hiếp’ ai đây?”. Những Sư-chuyên-viên-xách-động Trí Quang, Đôn Hậu…ông Albert Trần cùng các đồng chí…hướng của ông, lũ đồ tể Văn Hảo, Dương Tiềm, Ngọc Tường, Ngọc Phan, Đắc Xuân và đồng bọn, v.v… ‘hiếp’ chúng ta hay chúng ta ‘hiếp’ họ? Có thể nào chúng ta hiểu nổi khi họ la toáng lên: “Ối giời ôi! Chúng nó ‘hiếp’ tôi!”…chăng?

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, mùa đông 2010
Lê Tấn Lộc