Monday, December 31, 2012
TÌNH YÊU NHƯ MUÔN ĐIỀU RẠNG RỠ HÀO QUANG
Wednesday, November 23, 2011
KHI EM HẬU PHƯƠNG LÊN TUYẾN ĐẦU

Vào thời điểm đó, mỗi Khu Chiến Thuật được biệt phái một Đại Đội CTTL/Hành Quân do Nha Chiến Tranh Tâm Lý quản trị, đặt thuộc quyền sử dụng của Phòng 5 Sư đoàn liên hệ và thường được Ban 5 Trung đoàn điều động tăng phái cho các Tiểu đoàn trực thuộc.
Chân ướt chân ráo ra trường, lần đầu tiên xuất quân tôi đã lọt ổ phục kích trên đường ra trận tuyến! Vừa qua khỏi Bưng Cầu chưa tới 1 cây số, chiếc Jeep trúng mìn! May thay xe chỉ bị hất tung lên khoảng một thước rồi rơi xuống mặt lộ, bể hết bốn bánh, nằm bất động: Thuở ấy mìn của VC còn quá “đơn sơ”, quá “thủ công nghệ”, sức tàn phá không đáng kể. Bốn “thầy trò” tôi -một Trung sĩ, một Hạ sĩ nhất , một Hạ sĩ già, tài xế, đầy kinh nghiệm chiến trường và một Chuẩn úy lính mới tò te- tức tốc phóng ra khỏi xe, nằm sát mặt đường, dùng chiếc Jeep hư hại làm ụ che chắn, ba khẩu Garant M1 châu lại bắn trả, tác xạ như một trung liên BAR…Riêng Chuẩn úy nhà tôi chỉ biết “cầu âu” siết cò cây Carbine M1 vì chưa xác định được hướng hỏa lực địch! Ông hạ sĩ già vừa bắn vừa trấn an ông quan “non nớt” chiến trận của mình:
-Thiếu úy đừng lo! Tui rành sáu câu tụi du kích xã nầy. Tụi nó chỉ có ba thằng, hai thằng có “quảnh-tầm-xào” (súng trường thời Đệ I Thế Chiến , thằng kia chỉ có mã tấu và lựu đạn nội hóa, liệng chưa chắc đã nổ!
Chú Hạ sĩ già có lý. Chưa đầy 20 phút “giao tranh”, tiếng quảnh-tầm-xào im bặt và một trái mảng cầu lép xì khói nhưng không nổ, lăn lông lốc trên mặt lộ, do bọn phục kích ném bừa trước khi “chém vè”!
Chúng tôi lồm cồm ngồi dậy, nhanh chóng “thu dọn chiến trường”…Dùng địa bàn và bản đồ, tôi dẫn cả bọn vượt sông, băng rừng…an toàn tới địa điểm đóng quân.
Ba tháng liền dính chặt với đơn vị, bù đầu với hai nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ, tôi không còn thì giờ nghĩ tới gia đình hay bè bạn. Gần gũi, chia ngọt xẻ bùi với tôi trên tuyến án ngữ nhằm cô lập VC, tách chúng khỏi dân chúng, chỉ là những chiến binh cùng xa nhà như tôi, thường xuyên đối đầu với hiểm nguy mỗi lần xuất quân tuần tiểu, truy lùng địch hay gài đặt những tổ báo động về đêm, bảo vệ vòng đai phòng thủ của tiểu đoàn, cũng như bảo đảm an ninh bằng cách giữa đêm đột nhập Ấp Chiến Đấu, bất thần kiểm tra xem VC có len lỏi vào uy hiếp đồng bào trong Ấp chăng.
Khoảng hơn 5 giờ sáng, chú hạ sĩ già của tôi bèn đề nghị tôi cho chú và hai binh sĩ đi “tắt” cái loa quái ác đó:
-Bảo đảm với Thiếu úy, một tiếng đồng hồ nữa cái loa đó sẽ tịt ngòi!
-Nguy hiểm lắm, chú à!
-Không sao đâu, Thiếu úy cứ an tâm!
Quả nhiên, gần 6 giờ sáng, VC “ngưng phát thanh”! Và chú hạ sĩ già xuất sắc của tôi dẫn độ tên du kích “xướng ngôn viên” với chiếc loa cầm tay có nút bấm nói-tắt, chạy bằng pin!
-Thiếu úy biết sao không? Tụi nó cũng 3 thằng thôi (Tổ tam tam chế mà!). Hai thằng kia canh cho thằng nầy nói. Nhưng súng cối “chụp” rát quá, chúng nó rút lui, để thằng nầy an toàn tiếp tục phát thanh: Nó đào một hố cá nhân sâu một thước, dài hai thước, rồi nó nằm dài, tha hồ nói…Tụi tui tiến tới sát miệng hầm mà nó chẳng hay biết, cứ thao thao bất tuyệt…Cho tới lúc tui kê súng vào đầu nó!
Nhờ kiên trì theo dõi hướng đạn bắn đi, chúng tôi dần dần xác định được vị trí của tay súng bắn sẻ xuất phát từ một bụi tre già, cách vị trí đóng quân của tiểu đoàn khoảng 60 thước. Lục soát suốt ngày, chẳng tìm ra dấu vết tên sát nhân. Cuối cùng, nhờ kín đáo gài các tổ phục kích đêm, chúng tôi tóm được tay du kích xã-chuyên viên bắn sẻ: Hắn ẩn núp trong một hầm đào dưới gốc bụi tre. Cửa hầm được ngụy trang quá tài tình thành một mảng đất có cỏ mọc xanh rì, bao quanh bụi tre!
Trên đường trở lên hậu cứ, chiếc Jeep tôi bị kẹt cứng vì lưu thông tắt nghẽn; Tôi được dịp chứng kiến cảnh các cô cậu dìu nhau “vô tư” bát phố, nói nói cười cười…Ra tới xa lộ, lại được xem màn biểu diễn lạn xe hai bánh như hát xiệc. Thú thật, tôi muốn nổi điên, suýt nhấn ga cán bừa những chiếc xe gắn máy lạn qua lạn lại trước đầu xe Jeep, khiến tôi nhiều phen đứng tim, gồng người đạp thắng!
Phải cố nén cơn bực tức: bổn phận đang chờ tôi ở hậu cứ và trách nhiệm cũng đang đợi tôi nơi chiến tuyến!
Ba cô ca sĩ trông rất “non trẻ”: Mai Sương trẻ nhất, áng chừng 16 tuổi là cao; kế đến Thu Vân, cũng ước độ 17; Mộng Thu lớn tuổi nhất, khoảng 20 là cùng! Tất cả đều “tay yếu chân mềm”! Có lẽ Sương và Vân khai tăng tuổi để được tuyển chọn. Các cô em tôi có lẽ cũng đã bỏ học vì gia cảnh…
Đêm cuối ở hậu cứ, tôi tổ chức một buổi trình diễn ca nhạc lộ thiên cho gia đình binh sĩ của đơn vị, nhằm thử sức ba “mầm non văn nghệ” vừa tuyển dụng. Các “thiên thần mũ đỏ” láng giềng cũng được mời tham dự. Mai Sương được khán giả nhiệt liệt hoan nghinh. Màn tam ca được chấm quá…đạt! Tuy mới vào nghề, các em đã tỏ ra khá “chuyên nghiệp”. Tôi cảm thấy phấn chấn trước viễn ảnh tốt đẹp các em sẽ hỗ trợ hữu hiệu cho công tác ủy lạo chiến sĩ và thu phục cảm tình đồng bào trong các Ấp do Liên Toán CTTL/HQ điều hành.
Nghĩ tới chặng đường ngày mai đưa các em lên tiền đồn -các cô em dáng dấp còn quá nhiều nét “nữ sinh”- tôi vô cùng bối rối, lo ngại cho thân phận liễu yếu đào tơ mà đã sớm dấn thân vào vòng binh lửa: Chặng đường gay go -gấp trăm lần đoạn đường chiến binh ở các quân trường- đầy dẫy mìn bẫy, hầm chông, ổ phục kích, với nhiều cây quảnh-tầm-xào “rắp ranh bắn sẻ”! Biết đâu chẳng có ngày chiến binh chúng tôi phải ngậm ngùi tiếc thương …
“Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…”
-Sao mấy em không tìm một công việc gì nhàn hạ và ít nguy hiểm hơn?
-Em thì nhà nghèo, mẹ mất sớm, ba làm cảnh sát viên thường, với một bầy con 8 đứa, làm sao đủ tiền nuôi? Mai Sương trả lời. Em lớn nhứt, đành nghỉ học. Kiếm việc gì khi em chưa đủ tuổi trưởng thành? May nhờ ông anh họ làm ở Nha CTTL mách bảo Tiểu đoàn 1 CTTL tuyển ca sĩ cho các Đại đội. Mà Đại đội 11 gần Sàigòn nhứt…Thật tình, chính em cũng thích ca cho lính nghe hơn là đi làm thuê làm mướn…
-Vậy chắc Mai Sương ít nhiều cũng mơ ước được là… “người yêu của lính”?- Hoàn cảnh của em cũng tương tợ như hoàn cảnh của Mai Sương. Thu Vân tiếp lời. Nhưng em mồ côi cha (tử trận). Nhà thiếu trước hụt sau. Em là con út. Các anh của em đều ở trong quân đội…Tự nhiên em thấy thương lính lạ lùng!
-Lại thêm một cô em muốn làm…người yêu của lính! Ấm lòng chiến sĩ biết bao! Tôi cảm thấy được an ủi phần nào rằng ở Sàigòn hoa lệ, ăn chơi vô tư lự, ít ra cũng còn có người…nghĩ tới và thương lính tiền đồn…-Em thì…người yêu chết trận. Tứ cố vô thân. Cha mẹ mất sớm. Anh em tứ tán khắp nơi vì chiến cuộc. Mộng Thu cúi đầu ứa lệ, nói nhỏ…
Sáng sớm, tôi đích thân đến hậu cứ Trung đoàn nhờ sĩ quan chỉ huy hậu cứ cho tôi gửi ba cô em của tôi theo đoàn Thiết vận xa M113 tiếp tế…Yêu cầu của tôi được chấp thuận. Như thế tôi sẽ yên tâm hơn lên Jeep đi cùng chú hạ sĩ già dặn phong sương về lại Thùng Thư!
Càng nghĩ càng cảm thương vô biên các em tôi “thân gái dặm trường”…Lòng tôi tràn ngập niềm mến phục những người “em gái hậu phương” sắp thẳng đường xông ra tiền tuyến, sát cánh cùng anh em chiến binh chúng tôi ngăn chặn địch quân khủng bố đồng bào nông thôn. Với số thù lao hàng tháng 1800 đồng bạc -một nửa lương thiếu úy- ba cô em gan dạ của tôi sẽ phải đương đầu với mọi bất trắc nơi chiến trường, hôm nay trèo lên M113, mai mốt có thể cũng sẽ phải nhảy trực thăng xuống những địa điểm không thể di chuyển bằng đường bộ…

Các Toán CTTL chúng tôi đi hành quân phải tự lo lương thực, đủ thứ lỉnh kỉnh, gạo và thức ăn, thường là cá khô làm chuẩn. Lúc bấy giờ chưa có gạo sấy Quân Tiếp Vụ hay “C ration” do Quân đội Hoa Kỳ cung cấp sau nầy. Chuẩn úy tôi được một “tà lọt” phục dịch, một mang máy truyền tin kiêm cận vệ (thường là để “chăm sóc” khi tôi bị thương hay…tử thương!). Tôi nghĩ anh em sĩ quan thời đó không thể quên hình ảnh thân thương của thằng em “tà lọt” gập người nhỏ thó quảy túi đeo lưng khổng lồ -nặng hơn trọng lượng của chàng!- chứa đầy thức ăn dã chiến, nồi niêu son chảo móc lủng lẳng hai bên “ba-lô”, lo từng bữa ăn cho “ông thầy”! Ba cô em ca sĩ “hành quân”của tôi chắc cũng phải phụ lực với anh “tà lọt” yêu quí để có gì bỏ bụng khi xong công tác. Tất cả chi phí ẩm thực nầy đều do “quan” Chuẩn úy ta gồng mình đài thọ, với tiền lương tháng quá “khiêm nhường” 3.300 đồng! Các cô đã nghèo mà lính còn nghèo rớt mồng tơi hơn nữa! Coi như mình tôi “lo” cho 6 miệng ăn!
May là toán phục dịch phía Đại đội Chỉ huy đã có Thượng sĩ đại đội lo!
Ở quân trường, tôi thường nghe “Bộ binh là hoàng hậu của các trận đánh” (L’infanterie est la reine des combats). Nơi trận tuyến các tỉnh miền Đông Nam Phần, ở thời điểm 1963, các cuộc chạm súng thường chỉ diễn ra tối đa tới cấp đại đội. Về Hải quân, chỉ có vài chiếc giang thuyền của Bảo An (Địa Phương Quân sau nầy). Với không quân, họa hoằng lắm mới thấy xuất hiện một hai skyrider dội bom vào các điểm nghi ngờ địch đặt súng cối. Cho nên, Bộ binh chỉ trông nhờ vào các trực thăng yểm trợ, rất hữu hiệu, nhanh chóng và chính xác khi chạm địch. Các thiết vận xa M113 cũng trợ lực rất hiệu quả cho chúng tôi, trong nhiệm vụ hộ tống, tiếp tế, khai thông các trục lộ. Hỏa lực các trọng liên 12.7 và 13.2 của các chiến sĩ thiết giáp đã nhiều phen làm địch quân khiếp vía! Vũ khí cá nhân của Bộ binh thời đó chỉ có súng ngắn Colt 12, súng trường Garant M1 (có thể trang bị óng phóng lựu), tiểu liên Thompson, Carbine M1, lựu đạn tấn công và phòng thủ, bên cạnh các vũ khí cộng đồng trung liên Bar (được biết qua hỗn danh FM đầu bạc), đại liên M1, súng cối 81…

Sự hiện diện của 3 nữ ca sĩ “non trẻ”, dù muốn dù không cũng đã thổi một luồn sinh khí mới cho Tiểu đoàn 3/8 nói riêng, cho đồng bào các Ấp Chiến Đấu Phú Thứ và Thùng Thư nói chung. Ít ra 3 em cũng mang đến chút tươi vui cho mọi người trong khu vực trú đóng của đơn vị. Nhưng đồng thời cũng là mối bận tâm phụ trội cho tôi, với tư cách là sĩ quan TLC/HQ. Các em được săn đón chí cốt từ mọi phía, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ…Mà tôn chỉ của ngành Tâm Lý Chiến là quân cán chính CTTL phải luôn luôn giữ tác phong gương mẫu khi tiếp xúc với các đơn vị bạn hay với dân chúng, tránh tối đa mọi hành vi gây tai tiếng xấu cho ngành! Mà tôi làm sao ngăn cấm các cô em tôi -vốn đã sẵn có cảm tình với lính- tiếp xúc với các chiến binh ?
May cho tôi là các em tự giác khép mình vào khuôn khổ do Nha CTTL hoạch định. Mai Sương, Thu Vân, Mộng Thu luôn quấn quít bên tôi, coi tôi như người anh cả, không tự ý giao dịch lung tung. Và thường xin phép tôi cũng như yêu cầu tôi cùng đi với các em trong những lần họp mặt ngoài đơn vị CTTL, mặc nhiên coi tôi như…lá bùa hộ mệnh!
Chuẩn úy tôi giờ đây kiêm thêm một nhiệm vụ mới nữa, không có trong chương trình huấn luyện của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức:“Bê-bi-xít-tơ”! Cũng tốt thôi: coi như dịp may hiếm có cho tôi áp dụng những điều thu thập được từ những năm theo ngành Tâm lý học ở ĐH Sư Phạm và ĐH Sorbonne, để sau nầy trở về đời sống dân sự đem ra ứng dụng vào “nghiệp” gõ đầu trẻ…vị thành niên! Ngày đó chắc cũng còn xa…
Trước mắt, còn nhiều việc thực tiễn, cấp bách hơn phải chu toàn: hành quân tảo thanh đám du kích đang tìm mọi cách thâm nhập khuấy phá các Ấp; củng cố hệ thống bảo vệ an ninh cho đồng bào nhằm cô lập tối đa bọn phiến cộng…Và mọi việc coi như đang tiến hành tốt đẹp: những vụ chạm súng lẻ tẻ với địch ở Phú Thứ và Thùng Thư giảm thiểu thấy rõ! Ba cô em ca sĩ của tôi có thể cùng Ban Văn Nghệ Liên Toán CTTL đến ủy lạo chiến sĩ ở các địa điểm đóng quân của các đại đội khá xa Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn mà không còn phập phồng lo sợ bị phục kích hay bị bắn sẻ!
Lần đầu ra quân tại Phú Thứ, sau tràng vỗ tay của anh em chiến binh nhiệt liệt chào đón Toán Văn Nghệ lưu động do tôi đích thân hướng dẫn, cử tọa im phăng phắc khi Mai Sương cất tiếng “Chúng mình hai người bước chân ngược xuôi, Đôi lần vẫn nhắc đến tên người xưa…” cho Thu Vân tiếp nối “Đêm nay dĩ vãng về trong giá lạnh, Nhớ chuyện mùa thu tâm tình, Cùng đi chiến đấu tôi và anh…”, để rồi Mộng Thu trầm buồn buông lững tiếng ca cực kỳ truyền cảm “Đêm đêm gối súng mình đâu tiếc đời, Thế mà tình yêu chết rồi...”Tiết mục kế tiếp khiến khán thính giả thêm rạt rào thương cảm với giọng hát như tiếng nức nở của Mộng Thu, hầu như muốn phơi bày tâm sự u uất:
Nửa đêm nhớ anh, buồn nghe mưa khóc qua mành
Nửa đêm nhớ anh, tủi thân mi khép mong manh
Ai ngỡ duyên mình, bẽ bàng lá thắm xa cành
Chim đàn xa tổ tội tình, người chờ người trong lúc tuổi xanh…
(…)
Anh nhớ đêm nay có người em gái thơ ngây,
Môi hồng nức nở canh dài, bàng hoàng vì trong mộng chờ ai…
Cuối cùng vị sĩ quan do Tiểu đoàn yêu cầu bổ sung cũng đã từ trực thăng tiếp tế nhảy xuống nhận Đại đội Chỉ huy do tôi bàn giao. Và ba tháng sau ngày các em ca sĩ lên tuyến đầu, Đại đội trưởng ĐĐ11CTTL hướng dẫn một Liên Toán mới lên thay chân cho Liên Toán tôi đi phép, sau khi chúng tôi kiện toàn tổ chức hai Ấp Chiến Đấu thành hai Ấp Chiến Lược Phú Thứ và Thùng Thư.
Các em tôi giờ đây xem ra cũng “dày dặn phong sương” không kém các anh tiền tuyến, không còn “mình hạt xương mai” như lúc mới đáo nhậm đơn vị nữa, dáng điệu cũng “nhà binh” ra phết -dù chưa hề qua một ngày huấn nhục ở quân trường- phần lớn là do tự nguyện theo chân các anh chiến binh dầm mưa dãi nắng tảo thanh du kích.
Sau một đêm sinh hoạt với trại gia binh của đại đội, khoảng 11.30 sáng ngày 1/11/1963, chúng tôi dùng GMC rời hậu cứ về Sàigòn thăm gia đình.
Bất ngờ, tới ngã ba xa lộ, ngang con đường từ Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức đổ ra, xe chúng tôi gặp nút chặn của khoảng một Trung đội Thủy Quân Lục Chiến. Tôi xuất trình sự vụ lệnh theo yêu cầu:
-Chuẩn úy không thể về Sàigòn.
-Sao vậy? Đảo chánh chăng? Mấy anh đảo chánh hay đi “giải cứu”?
-Chúng tôi chỉ được lệnh ngăn chặn các quân nhân với lời yêu cầu tất cả quay về đơn vị gấp chờ lệnh…
Về tới hậu cứ, vừa bước chân vô văn phòng, đã nghe điện thoại reo vang:
-Chuẩn úy chuẩn bị ngay một Toán CTTL chờ Phòng 5 Sư đoàn cho xe tới đưa về Sàigòn công tác khẩn cấp.
Chưa tới nửa giờ, Toán chúng tôi đã tháp tùng một cánh quân của Sư đoàn thẳng đường xông…về Thủ Đô! Các cô em ca sĩ được miễn đi theo. Chắc chắn sẽ chẳng có dịp “trình diễn văn nghệ”, em hát cho anh nghe, nếu không là… “một lần cuối cùng…rồi thôi”!Đạn từ trong Thành Cộng Hòa tua tủa bay tới hướng Toán phát loa kêu gọi đầu hàng. May mà chúng tôi có nơi ẩn núp tương đối an toàn trên một cao ốc, nơi có sự hiện diện của nhiều sĩ quan cao cấp. Tôi nghe Trung tướng TVĐ hét bằng tiếng Pháp qua ống liên hợp (combiné) của máy truyền tin trên chiếc Jeep “cần câu”:
-“Commandant LTB! Où sont tes chars?” (Thiếu tá LTB! Thiết giáp của ông đâu hả?).
Không nghe có tiếng trả lời…Súng từ phía lực lượng kháng cự đảo chánh vẫn bắn rát…
Sau đó Toán chúng tôi được chuyển đến dãy lầu Tòa Án, phát loa kêu gọi lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long buông súng…Cũng không kết quả, trái lại, Đại úy Ngải, TQLC bị bắn gục trước Dinh…
Tình thật, khi bị TQLC chặn ngoài xa lộ, cũng như khi nhận lệnh của Phòng 5 Sư đoàn, tôi vẫn chưa biết đích xác chuyện gì xảy ra ở Sàigòn. Lần binh biến 11.11.1961 do Đại tá nhẩy dù NCT chủ xướng tôi theo dõi diễn tiến trên đài Truyền Hình tại Paris (Giờ chót Ngô Tổng Thống được các lực lượng trung thành giải cứu). Cho nên lần nầy, tôi chẳng rõ ai đảo chánh và ai giải cứu, cho tới khi chứng kiến tình hình chuyển biến ở Thành Cộng Hòa và Dinh Gia Long. Rõ ràng phe đảo chánh làm chủ tình hình…Quân nhân cấp thấp như tôi chỉ biết tuân lệnh thượng cấp, đúng như “truyền thống” quân đội: Thi hành trước, khiếu nại sau!
Khi mọi việc đã xong, trở về đơn vị gốc chờ lệnh thì…bất ngờ một công điện hỏa tốc yêu cầu tôi trình diện Bộ Quốc Phòng trong vòng 48 tiếng. “Mọi chậm trễ, đơn vị trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm”! Từ đó trở đi, cuộc đời binh nghiệp của tôi trải qua nhiều gian truân, bất trắc, hoàn toàn ngoài ý muốn! Một vài cuộc binh biến xảy ra sau ngày “đảo chánh”, không hiểu do căn duyên gì mà tôi bị “dính” vào, dù võ nghiệp không phải là nghề chính của tôi: “Chỉnh lý”, “Biểu dương lực lượng” diễn ra nhằm lúc tôi là sĩ quan trực Phòng Công điện Bộ Tổng Tham Mưu, nên bị “hốt” chung với các vị mà quí ngài Chỉnh lý và Biểu dương muốn loại trừ…
Nhưng rồi cũng tới lúc tôi được trả về đời sống dân sự. Từ đó trở đi tôi không còn cơ hội gặp lại các cô em ca sĩ đã từng sát cánh cộng tác thực hiện quốc sách Ấp Chiến Lược, quốc sách mà những vị chủ xướng lật đổ và sát hại hai anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xóa sổ nền Đệ I Cộng Hòa, đã thẳng tay dẹp bỏ, gây nhiều tổn thất cho lực lượng hành quân truy lùng địch sau đó, vì địch trở lại trà trộn với đồng bào nông thôn, dùng họ làm lá chắn, cầm chưn quân ta.
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu
chẳng bao giờ phôi pha theo ngày tháng…
Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, cuối thu 2011
Lê Tấn Lộc
Thursday, November 10, 2011
VỀ MỘT VÀI TIẾNG VIỆT "BIÊN CHẾ"!

Vẫn biết “Phê bình thì dễ, nhưng nghệ thuật thì khó - La critique est aisée, mais l’art est difficile” (Destouches, Le glorieux). Khi giáo đầu với câu trích dẫn nầy, tôi không hề có dụng ý võ đoán rằng quí nhà phê bình văn học biên soạn dễ dãi hơn người viết văn. Trái lại tôi vốn rất ngưỡng mộ những bài phê bình đòi hỏi nhiều đầu tư trí tuệ và kiến thức bách khoa chuyên biệt, chưa kể đến tài năng thiên phú (chẳng hạn như những bài phê bình văn học trứ danh của Charles-Augustin Sainte-Beuve {1804-1869}, đã đi vào văn học sử với tầm vóc hoàn vũ).
Tuy nhiên, trên văn đàn người Việt hải ngoại, gần đây tôi cảm thấy ít nhiều bị “kích xúc” trước hiện tượng quá lạ lẫm, thể hiện qua chuyện “sáng chế” dài dài chữ mới -những “từ” đôi khi rất …quái đản- không những ở các cây viết “mới ra lò” mà còn nơi một vài cây bút chuyên nghiệp phê bình văn học vốn đã khá thành danh, được giới cầm bút cùng khá đông độc giả biết đến.
Nơi vùng đất vốn dồi dào “hiện tượng” quá “ấn tượng”, nằm ở cực Nam Bán Cầu, một cây bút chuyên viết biên khảo, phê bình khá “nặng ký” rất đáng được “vinh danh” vì không theo trào lưu “cóp” ngôn ngữ XHCNVN, quá thịnh hành không những trong giới viết lách mà ngay cả trong giới truyền thông (báo giấy cũng như “vi” báo, thậm chí cả trên làn sóng truyền thanh hay truyền hình hải ngoại. Nhưng mất vui thay “đấng” nầy lại mắc cái tật bất khả chế… “biến chế” , nhập cục một số chữ thành những “cụm từ” vô cùng bí hiểm, “hiểu được chết liền”, phảng phất không khí…“đố vui để…chọc”! Tôi có cảm tưởng cây bút nầy “biên chế”: biên chữ thông dụng, cắt xén, gắn ghép…chế thành chữ…mới, chưa hề có trong các tự điển đã ấn hành trước cũng như sau 75! Chao ôi! Nghe qua, nổ như “tiếng sắt tiếng vàng chen nhau”. Và khi đọc phải, tức thì con ngươi đổ đom đóm như đang nhìn ánh sáng lân tinh của “trái phá”…chẳng những làm chóa mắt mà còn khiến khối óc bị “teo tê” và…“con tim mù lòa” luôn!
Nhà phê bình văn học nầy xem ra rất mê thích “làm mới ngôn ngữ” bằng cách “sáng tác” (sic) nhiều chữ mới, có thể ông đã mắc phải bệnh “nắm bắt con chữ”, một khi đã nổi tiếng (y như một số ca sĩ khi bắt đầu được khán thính giả mến mộ bỗng thấy có nhu cầu hát “kiểu cọ” ngoài sức tưởng tượng):
Hết “tiêu chí” -viết lên thấy “đã” hơn tiêu chuẩn …chăng?- tới “điển phạm” -nghe “kêu” hơn qui phạm…chăng?
Canon? Nhà phê bình ta chê những chữ đã dịch trước đây, được sử dụng tương đối phổ quát và dễ hiểu, để dịch theo “kiểu” riêng: Điển phạm! Nghe qua như…bị điện giựt gân vì…tiếng cà-nông nổ sát bên tai!
Dĩ nhiên, dịch giản dị, cố cho sát ý hay ít nhất cũng thoát ý đã quá “vất vả, và ít nhiều cũng đã là “phản bội” rồi (traduire, c’est trahir…). Canon mà cố tình dịch khác hơn thiên hạ chơi, cho có vẻ bí ẩn (nếu không muốn nói là “phăng” quá đà) thì người đọc chỉ còn cách giơ hai tay lên đầu hàng!
Cho tôi được lặp lại câu nói của Socrate: “Tôi chỉ biết có mỗi một việc: Tôi không biết gì hết!”, để cố gắng tìm hiểu những “từ” quá “cao siêu”, quá thâm sâu của nhà chuyên viết phê bình văn học nầy, sâu tới độ tối u với đầu óc “chậm tiêu” của tôi:
Có phải tôn ý của tiên sinh là muốn “dồn cục” hai nhóm chữ “kinh điển” và “quy phạm” (hay “phạm trù”) thành điển phạm…chăng? Kiểu dồn cục nầy hiện nay rất hợp thời trang, rất được phổ biến rộng rãi (rất…đại trà!) trong giới cầm quyền CHXHCNVN!
Còn “từ” “tiêu chí” thì tôi xin…chịu thua! Chả nhẽ tôi phải diễn nôm: Tiêu tùng hết ý chí!
Ước mong được các bậc “thức giả” (thức thiệt!) thương tình chỉ dẫn cho tôi được soi sáng thêm tí nào chăng trước hiện trạng “trăm hoa đua nở”, sử dụng không tự chế những “con chữ mới” sinh sôi nẩy nở vượt chỉ tiêu (hay…tiêu chí?) từ sau Ngày Ba Mươi Tháng Tư …Bảy Nhăm!
Tôi chuyển bài viết “Điển phạm…” của nhà phê bình văn học lẫy lừng danh tiếng kể trên cho một đồng nghiệp ở Hoa kỳ và được phúc đáp như sau:
“Quả tình đọc bài viết tôi không hiểu gì cả. Từ ngữ dùng nghe điếc con ráy. Chữ canon được dịch thành điển phạm. Canoniser thành điển phạm hóa để rồi dùng chữ Ngoại Đạo một cách lạc lõng trong văn chương VN vào thế kỷ XVII và đầu XIX…”.
Bạn tôi còn đưa vài nhận xét về nội dung bài viết nầy, chỉ ra những chỗ không chính xác, nhưng tôi không nêu ra đây vì không phù hợp với chủ đích bài viết nầy của tôi.
Để tạm kết, tôi nghĩ có lẽ nên nêu ra đây nhận định của nhà văn N.M.G. trong một thư gửi cho tôi vào năm 1992:
“Viết lách đem lại cho ta nhiều người bạn quí nhưng cũng gánh theo rất nhiều phiền lụy. Tất cả chỉ do nhiều người không chủ tâm viết, mà chỉ chú tâm lợi dụng chữ viết. Mọi chuyện rắc rối từ đó mà ra…”
Thôn trang Rêu Phong, Xứ tuyết, cuối thu 2011
Lê Tấn Lộc
Sunday, October 9, 2011
BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU
BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU?
Tôi một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm?
Gắng gượng chống tay đứng lên, bước ra sân ngoài tôi nghe có tiếng rên yếu ớt của một thanh niên trạc 20, 21 tuổi, đang ôm ngực húng hắng ho, nhổ ra từng búng máu tươi…Anh cũng mặc “trây-di” (áo trận) rách bướm như tôi, loại áo mang theo khi “trình diện học tập cải tạo”, phòng khi “kách mạng” cưỡng ép đi lao động. Mẹ rượt cái lũ “răng xâm lăng” hắc ám, đểu giả từ phương Bắc tràn xuống như giặc cào cào, châu chấu cứ ra rả suốt ngày “lao động là vinh quang”!
-Tôi là Lộc. Anh tên gì?
-Tôi tên Ngon.
-Mình đang ở đâu đây anh? Nhiều xác chết quá! Địa ngục chăng?
-Không hẳn, nhưng cũng không thua địa ngục lắm đâu anh ơi! Bọn chúng cho khiêng tôi vất vào cái “trạm xá chống lao” nầy đã gần 3 tháng, khi tôi khạc ra máu vì bị thúc ép lao động quá sức. Để trị lao chỉ có thuốc tể vò viên từ lá cây “xuyên tâm linh”, do chúng bắt bệnh nhân tự chế biến. Chúng bỏ mặc chúng tôi vì nghĩ trước sau gì tụi tôi cũng chết vì lao. Cá nhân tôi đã vùi lấp cả chục anh em mình…Hôm qua chúng quăng anh vô đây. Nghe anh em mình kể là anh chặt cành cây theo yêu cầu “đạt chỉ tiêu”, rủi ro té từ thân cây cao gần 10 thước xuống bất tỉnh. Chúng vứt anh vào chỗ coi như nghĩa địa lộ thiên nầy, vì tin chắc sớm muộn gì anh cũng theo chân mấy anh em đang bị vi trùng Koch gậm nhấm. Quả nhiên! Anh thấy chưa, thiếu thuốc men, anh em mình chết hết rồi đó. Giờ đây chỉ còn anh và tôi còn sống sót!
- Mấy tên bộ đội quản giáo đâu hết rồi hả anh?
-Nghe nói đêm qua, khi anh còn hôn mê, chúng nó lùa anh em trại Long Giao mình vào xe bít bùng chở ra xe lửa tống ra ngoài Bắc hết rồi. Đám ho lao tụi tôi và anh, chúng bỏ lại cho rã thây trong rừng già…
Ngon và tôi dìu nhau tìm đường ra lộ cái, kiếm cách chuồn về Sàigòn…Đói lả người, khát khô cổ. May thay hai đứa gặp được vài đồng bào đi làm rẫy cho vài nắm xôi, vài chén nước cầm cự lết ra tới mặt lộ. Định đón xe đò năn nỉ xin quá giang (trong túi hai đứa chẳng có một xu teng!). Nhưng chưa kịp thấy bóng dáng xe đâu thì năm ba trự “bò vàng” đã ập tới chỉa súng “hỏi thăm sức khỏe”, còng tay dẫn độ về đồn công an. May là không bị ăn đòn hội chợ vì tội “trốn trại”. Nhờ một tên quản giáo của trại Long Giao ngả bịnh bất thình lình ở lại trại chờ “nhập viện”, hai đứa được giải oan “trốn học tập cải tạo”. Ngon được đưa về một “trạm xá” không thuốc men khác. Tôi được giải giao về trại Z30D (Hàm Tân), trước đó là Căn Cứ 5 Rừng Lá của QLVNCH…
Không nơi nương tựa, Ngon đành bỏ học, khai tăng tuổi, tình nguyện đăng lính Thủy Quân Lục Chiến. Nhờ tinh thần hiếu học, Ngon thi đậu tú tài I, được đơn vị gửi đi học khóa sĩ quan trừ bị, Trường Bộ Binh Thủ Đức. Trở lại đơn vị cũ với cấp bực chuẩn úy, Ngon đánh đấm ra phết, noi gương hai anh mình, được đặc cách thăng thiếu úy tại mặt trận. Chưa kịp lãnh lương mới, Ngon bị trọng thương. Đang nằm điều trị ở phòng hồi sinh thì bị “kách mạng” đuổi xô ra đường…
-Em tứ cố vô thân. May có duyên gặp anh trong cảnh hai anh em mình đều thập tử nhất sinh. Em mong anh nhận em làm em nuôi. Một mai anh hay em qua đời trong cảnh đất nước tan hoang, trong vòng rào kẽm gai của kẻ thù, nhớ nhau, chúng ta sẽ lặng lẽ thấp một nén hương lòng, thầm đọc cho nhau một kinh cầu làm “ấm lòng chiến sĩ” trong nghịch cảnh sa cơ thất thế!
-Vâng, kể từ giờ phút nầy, Ngon là Em của anh. Và Lộc là Anh của Ngon!
Trên xe giải giao, nghĩ tới thân phận hẩm hiu của đứa em vừa kết nghĩa bệnh nặng không thuốc thang, giờ đây chẳng rõ xiêu lạc hà phương, tôi thì thầm:
Em ơi bây giờ em ở đâu?
Bến Hải hay Cà Mau?-o-o-o-
Bị tống vào trại mới quá trễ -lẽ ra nếu không bị tại nạn lao động, tôi đã bị nhốt như thú vật trong các toa xe lửa cục kỳ hôi hám, thiếu dưỡng khí; và có lẽ đã tắt thở, thây bị vứt xuống đường rầy làm mồi cho thú dữ- tôi được nhét vào một chỗ chỉ đủ nằm ngửa, vô phương nhúc nhích cựa quậy, trên sạp tre ọp ẹp đầy rệp, sát vách nhà cầu công cộng, với ngọn đèn pha từ ngoài nhà giam chiếu sáng rực vào mặt suốt đêm!
Nơi đây tôi đã ôm trong vòng tay hai bạn đồng tù -và đồng bịnh suyễn nặng- chết vì không có liều thuốc bơm tức tốc làm hạ cơn suyễn đến nghẹt thở, trụy tim!
Nhiều đêm mất ngủ, những ray rứt, những dằn vặt nội tâm bỗng dưng trỗi dậy trôi chảy trong tâm can tôi như những thước phim phô diễn trước đôi mắt nhắm nghiền sau làn vải đen che khuất ánh sáng của ngọn đèn pha trực chiếu vào chỗ tôi nằm…
Do đó, Bộ quyết định cử tôi thay thế vị Chủ tịch đã được chính thức lên danh sách bằng Nghị định, nhằm phá vỡ âm mưu “làm ăn” bất chính nầy.
Trong quá khứ đã xảy ra nhiều vụ mưu toan như thế ở vài tỉnh miền trung. Khi các giáo sư đi gác thi phát giác, báo động, họ bị hăm dọa, hành hung, đôi khi bị sát hại.
Lúc bấy giờ, vì sắp có cuộc bầu cử lại Tổng thống, nên Chính phủ ra thông tư yêu cầu các chính quyền địa phương tích cực yểm trợ tối đa cho các Hội đồng thi, nhằm bảo toàn nghiêm ngặt kỹ luật và trật tự nơi trường thi, tránh gây dư luận bất lợi cho chính thể VNCH.
Tuy nhiên, ai được điều ra công tác ở miền Trung cũng đều nơm nớp lo ngại ảnh hưởng nặng nề của các đảng phái trong mọi sinh hoạt dính líu tới chính quyền địa phương. Thiên hạ chưa quên các phong trào đấu tranh bạo động tại Huế, năm 1966…
Hội đồng Giám thị Trung ương đặt Văn phòng tại trường Trung học Phan Chu Trinh. Sau khi viếng thăm xã giao và được Đại tá Thị trưởng cam kết triệt đễ thi hành Thông tư của Chính phủ, tôi cho họp ngay Ban Điều hành Hội đồng, gồm 1 Phó Chủ tịch (Hiệu trưởng Nữ Trung học Nha Trang), 1 Thư ký (Giáo sư Chu Văn An) với 3 Phó Chủ tịch Trung tâm (1 Hiệu trưởng Nữ Trung học Bùi Thị Xuân-Đà Lạt, 1 Hiệu Trưởng Châu Văn Tiếp-Phước Tuy, 1 Giáo sư Gia Long) nhằm duyệt xét danh sách thí sinh tại 3 Trung tâm, sửa đổi toàn diện cách phân phối thí sinh tại các phòng thi, các giám thị phòng và giám thị hành lang cho các Trung tâm.
Bên ngoài phòng họp, một tiểu đội Địa Phương Quân được bố trí bảo vệ an ninh cho Hội đồng. Phiên họp đang diễn tiến, đột nhiên một anh thanh niên mặc quân phục tác chiến, không mang cấp bậc hay huy hiệu cho biết thuộc đơn vị nào, đầu đội bê rê đen cũng chẳng có phù hiệu binh chủng hay huy hiệu cảnh sát dã chiến, nghênh ngang bước vào phòng họp, sấn tới hất hàm hỏi tôi là ai và yêu cầu cho xem căn cước! Tôi nghiêm mặt vặn hỏi lại:
-Anh là ai mà ngang nhiên tới Hội đồng thi xét giấy tờ tôi? Nếu anh trong toán bảo vệ an ninh thì anh phải biết tôi là ai và đã phải cùng toán canh gác tới trình diện Hội đồng để chúng tôi nhận diện các anh, phòng hờ kẻ gian giả dạng trà trộn phá phách.
Hắn vẫn kênh kiệu nghinh ngó tôi.
-Được rồi! Anh chờ xem. Anh Trưởng toán an ninh đâu? Anh giữ an ninh thế nào mà để người lạ mặt đột nhập vào trụ sở của Hội đồng? Anh tới khám xét người khả nghi nầy, giữ anh ta lại chờ tôi liên lạc với giới chức có thẩm quyền đến dẫn độ anh ta cho Hội đồng chúng tôi làm việc!
Không đầy 15 phút sau, một Jeep cảnh sát tới “xúc” tay phách lối lên xe…Ông Hiệu trưởng Phan Chu Trinh tiết lộ hắn ta là đảng viên một đảng rất có thế lực tại đây. Hắn tới với dụng ý “dằn mặt” ông Chủ tịch Hội đồng chưa chi đã được dư luận đồn đãi “sẽ cương quyết mạnh tay bài trừ gian lận thi cử”! Chưa tới ngày khai diễn khóa thi mà không khí đã cực kỳ….căng thẳng!
Ngày đầu khai mở cuộc thi đã có va chạm nẩy lửa, suýt xảy ra cảnh huyết lưu mãn địa! Tại phòng thi dành cho quân nhân, một thí sinh mặc quân phục Cọp Ba Đầu Rằn BĐQ bị bắt quả tang đem tài liệu vào sao chép trên bài thi (tiếng lóng gọi là “quay phim”, “đánh bùa”). Anh ta rút lựu đạn hăm sẽ buông tay cho nổ tung! Cả phòng thi náo loạn. Ông giám thị ngất xỉu! Giám thị hành lang tức tốc tuôn vào phòng Hội đồng thông báo sự việc. Ông Phó Chủ tịch trung tâm cũng sắp bị “kinh phong giựt” (crise d’épilepsie) tới nơi! Tôi vội vã chạy ra ngăn toán an ninh can thiệp, cố gắng điềm tĩnh bước vào phòng thi. Anh “rằn ri” hét to:
-Đứng lại!Tiến tới là tôi cho nổ đấy!…
-Anh đưa trái lựu đạn cho tôi…
-Không bao giờ! Thà chết sướng hơn mang tiếng nhục gian lận thi cử về đơn vị thọ phạt, có thể bị giáng cấp!
Trưng thẻ sĩ quan cho anh ta xem, tôi ôn tồn nói:
-Tôi cùng binh chủng với anh, nhưng hơn anh về tuổi lính và cấp bực. Tôi là Đại úy QLVNCH biệt phái ngoại ngạch về Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Anh thí sinh quân nhân phạm lỗi đổi thái độ, khép đôi chân đang dạt ra trong thể thủ, đứng nghiêm chào tay, nhưng vẫn khư khư nắm chặt quả lựu đạn…
-Anh nghe đây: Với phương vị Chủ tịch Hội đồng, tôi có thể cho lập biên bản anh phạm qui luật trường thi. Với trái lựu đạn trên tay anh còn thêm tội mưu toan bạo hành. Hậu quả là anh có thể bị cấm thi vĩnh viễn. Chưa kể anh có thể bị “lột lon”! Sao anh lại có thể toan dùng trái mãn cầu nầy sát hại các chiến hữu của anh và tự sát vậy? Đây là trường thi, đâu phải chiến trường, phải không? Tôi đề nghị thế nầy: Anh trao trái nổ quái ác đó cho tôi, rồi trở về chỗ ngồi dành cho anh dự thi. Tôi xé bài thi anh đã cóp từ tài liệu bất hợp lệ, trao cho anh mẫu bài thi khác, bỏ qua chuyện anh gian lận. Anh làm bài được thì tốt. Không làm được, anh nộp giấy trắng ra về. Coi như bỏ cuộc. Tôi nghĩ giải quyết như thế chỉ có lợi cho anh. Phần tôi, tôi sẽ thuyết phục các đồng nghiệp bỏ qua chuyện anh toan đại náo trường thi. Dẫu sao anh cũng đã góp xương máu bảo vệ bờ cõi quê hương của chúng ta…
Tôi thu hồi được quả lưu đạn đã rút chốt an toàn. Và trật tự được vãn hồi, cuộc thi tiếp diễn như chưa có gì xảy ra! Mùa thi nầy hứa hẹn sẽ cực kỳ gây cấn…
Trên chiếc Jeep của trường Phan Chu Trinh giao cho Hội đồng thi sử dụng, tôi chở chị Phó Chủ tịch và anh Thư ký đi tuần tra vòng ngoài các Trung tâm thi. Không thể tưởng tưởng cảnh hỗn loạn diễn ra trước mắt chúng tôi, y như chợ trời đang nhóm trên đường phố: từng đoàn người xô lấn, chen nhau trèo lên dốc thoai thoải sát bờ tường các phòng thi phóng bài giải cho các thí sinh, mà các giám thị cứ như thị thiền cho họ tung hoành như chỗ không người! Thậm chí có vị còn thò tay ra cửa sổ phòng thi đón lấy các bài giải giúp đám người tự tung tự đại, coi giới chức thị sát trường thi như có mặt để làm kiểng chơi thôi! Không thể để tình trạng rối loạn chướng mắt nầy tiếp diễn, tả xung hữu đột, xua đuổi đám người coi thường khung cảnh trang nghiêm của trường thi, tôi đột nhập phòng thi bị tràn ngập bài giải từ ngoài phóng vào, tiếp sức với các giám thị hành lang tịch thu “tang vật” ngoại nhập, lập biên bản hai vị giám thị phòng không làm tròn trách nhiệm gác thi, tức khắc cử người thay thế họ.
Tại các trung tâm khác cũng tình trạng “loạn cào cào” như thế. Tôi thấy rõ giờ đây không những chúng tôi phải đối phó với tệ trạng gian lận từ phía thí sinh, từ phía những người bên ngoài phòng thi làm “áp-phe” với thân nhân thí sinh, mà còn phải “canh chừng” các vị gác thi của chúng tôi nữa! Mệt cầm canh! Tôi “rỉ tai” các Phó Chủ tịch Trung tâm: Ưu tiên “canh gác” quí ngài…gác thi! Vô cùng tế nhị, khó khăn, đau đầu gấp trăm lần “trông chừng” thí sinh!
Anh chị em chúng tôi trong Hội đồng thi từ các nơi được điều động về đây làm công tác khảo thí đã làm hết sức mình trong việc bảo toàn tính chất trang nghiêm cho trường thi, trong ý hướng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân có cơ hội thăng tiến, nếu có thực tài, đã cố gắng tối đa ngăn chặn tệ trạng “bán buôn” làm giảm sút giá trị của văn bằng mở cửa vào đại học. Với ý nguyện thực thi công bằng, chúng tôi sẵn sàng trực diện với mọi hiểm nguy, rủi ro khó lường. Thế nhưng sức người có hạn! Biết đâu, vì lý tưởng nghiêm minh, công bằng đó mà vô tình chúng tôi bất công với những thí sinh bị lập biên bản, đưa tới hình phạt cấm thi? Bởi lẽ do giới hạn về nhân số, về thời gian, về phương tiện, vô hình chung chúng tôi bất lực ngăn chận những thí sinh gian lận qua trót lọt kỳ thi lấy bằng tú tài II, do những “âm mưu”, những “a tòng” bất chính trong bóng tối! Thế thì đâu là công bằng? Các thí sinh bị phát giác gian lận, có thể không có thế lực “ma nớp” nào sau lưng trợ giúp. Trừng phạt họ trong tình thế “nhiễu nhương” tràn lan, có thực sự công bằng chăng? Câu nói của một ông thầy cũ khiến tôi suy nghĩ đến nhức đầu: “Tuyệt đỉnh của công bằng là…bất công” !...Ngày cuối của kỳ thi, tôi thực sự nhức óc đối đầu với một trường hợp khó xử trí. Nói cách khác, nôm na hơn: tiến thoái lưỡng nan. Tại Trung tâm do Nữ Hiệu Trưởng Bùi Thị Xuân phụ trách, giám thị bắt được một nữ thí sinh ban C đang “đánh bùa” bài thi vạn vật. Trung tâm báo cáo không đủ sức (hay không dám) giải quyết ra sao. Nên đưa nội vụ lên Hội đồng quyết định!
Sở dĩ có tình trạng chuyển giao nội vụ cho tôi định liệu bởi vì nữ thí sinh tuy còn đi học nhưng là một ca sĩ nổi tiếng của đài Truyền hình Đà Nẵng và là thần tượng được dân địa phương vô cùng mến mộ! Nghe phong phanh có một số “fan” của em đang xách động xuống đường gây áp lực! Yếu bóng vía, “rét” là phải! Rốt cuộc, trăm dâu đổ đầu tằm “Chủ tịch Hội đồng” thôi!
Trước mặt tôi, ông giám thị xác nhận em nữ thí sinh có gian lận; ông đã lập biên bản. Bà Phó Chủ tịch Trung tâm trao cho tôi văn kiện mang chữ ký của giám thị phòng và giám thị hành lang, nhưng nữ thí sinh chưa chịu ký tên, một mực kêu oan em bị hiểu lầm. Theo em, tài liệu “gian lận” là của nữ thí sinh bên cạnh đã rời phòng thi, sau khi nộp bài, sấp tài liệu bỏ lại trên băng ghế…Ai đáng tin hơn ai đây? Người bắt và kẻ bị bắt đều là dân địa phương! Họ có quen biết nhau chăng? Có gì “bí ẩn” đàng sau vụ lập vi bằng mà tôi và các đồng nghiệp từ xa tới không rõ chăng?
Tôi không thể đơn phương hủy bỏ biên bản -coi như thí sinh bỏ cuộc, sẽ bị đánh rớt, nhưng không bị phạt cấm thi, như tôi đã “linh động” giải quyết với anh thí sinh quân nhân trước đó- nếu hai ông giám thị không đồng ý. Ngược lại tôi cũng không thể ép em nữ thí sinh ký tên vào biên bản, khi em vẫn một mực kêu oan! Đó là chưa kể nếu xé biên bản, dù ông giám thị xác nhận trao quyền cho tôi tùy nghi giải quyết, biết đâu ông chẳng đặt nghi vấn tôi “lương lẹo” tiền bạc để “tha” cô nữ thí sinh “gian lận”?
Thôi thì chỉ còn cách xin quí vị liên hệ tới vụ tình nghi “gian lận” nầy ra chờ ngoài phòng đợi, để tôi tìm hiểu thêm nội vụ với đương sự bị qui trách vi phạm qui định khảo thí, với sự chứng kiến của anh Thư ký Hội đồng…
Cuối cùng, tôi thuyết phục được em nữ thí sinh ký tên vào biên bản với dòng chữ viết tay: “ Em có cầm sấp tài liệu do thí sinh bên cạnh bỏ lại, nhưng không sử dụng, vì bài thi em đã làm xong. Định trao cho thầy giám thị phòng thì em bị hiểu lầm là có ý gian lận… Xin quí thầy cô mở lượng từ bi cho em được hưởng biện pháp khoan hồng…”, sau khi tôi long trọng hứa rằng em sẽ không bị cấm thi, với chữ ký của tôi và của anh Thư ký bên dưới chữ ký của em. Tôi cũng sẽ làm tờ trình nội vụ lên Bộ (qua Nha Khảo Thí) với đề nghị miễn áp dụng biện pháp kỹ luật với em, sau khi bài thi của em được hủy bỏ và em đành chấp nhận bị đánh rớt. Tôi nghĩ như thế cũng là đã là một hình phạt khá đủ cho em, nếu em thực sự ngay tình nhưng vô ý…
Mấy tháng sau, tôi nhận được danh sách khá dài các thí sinh toàn quốc bi cấm thi từ 1 đến 3 năm, có tên em nữ thí sinh “ca sĩ đài Truyền hình Đà nẵng”! Tôi ngao ngán thở dài, tim đau nhói, hồi tưởng lại cảnh tượng thương tâm trong phòng họp Hội đồng thi tại Thị xã Đà Nẵng. Em nữ thí sinh nước mắt đầm đìa làm nhoen ố làn mực đen kẽ quanh viền mi, khiến tôi kinh hoàng nghĩ rằng em khóc đến mù lòa! Ngực áo trắng tinh tuyền của em cũng lổ chổ vết mực đen…
Vậy mà tôi nỡ vô tình cho em ăn bánh vẽ với hy vọng em sẽ được khoan hồng, đã an ủi em, khuyến khích em lau khô nước mắt đến đen hết cả hai tay áo dài tha thướt …
Sẽ không bao giờ tôi quên nổi nụ cười gượng của em qua đôi mắt chưa hoàn toàn ráo lệ, chưa tẩy hết vết mực đen kẽ mi, khi em ngước nhìn tôi, chắp đôi tay như vừa thầm cảm ơn tôi vừa khấn nguyện trời cao nhậm lời em cầu khẩn, môi cười mà lệ như rơi…môi cười mà lệ như rơi!...Em ơi! Em đã bỏ xứ, lang thang vô định chưa hở em? Em lìa xa thị xã thân yêu thì tôi cũng sẽ chẳng bao giờ dám trở lại Đà Nẵng lần nữa…Đôi mắt nhạt nhòa mực đen ngày ấy sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi!
Người đời vô tình giày xéo lên em
Người đời vô tình giết chết đời emBốn mươi mốt năm qua rồi mà nào tôi đã quên được ngày ấy em như Nàng Liễu rũ vì cơn gió dập bất chợt…Và không ngừng thầm hỏi:
Em ơi, bây giờ em ở đâu?
Góc biển hay rừng sâu?
Tâm trạng ngao ngán, ê chề, tôi khước từ nhận trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng thi Tú tài II, kỳ hai tại một tỉnh miền Tây, sau vụ bị “ê mặt” vì không thể hiện được lời hứa với em nữ thí sinh mắt ướt lệ đen tuyền. Nhưng vì thiếu nhân sự, Bộ chỉ định tôi làm Phó Chủ tịch Trung tâm “Tôn Thọ Tường”, đối diện rạp chiếu bóng Đại Nam, đường Trần Hưng Đạo, do Thanh tra TBQ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng, Văn phòng đặt tại Trung tâm do tôi phụ trách.
Một lần nữa, cũng vào buổi thi cuối, giám thị phòng và giám thị hành lang lập biên bản 4 trường hợp thí sinh “gian lận”, 3 nam, 1 nữ. Dĩ nhiên, các em khóc lóc, van xin…Các thầy cô giám thị động lòng trắc ẩn, dẫn các em đến gặp tôi để xin rút lại biên bản. Khổ nỗi, mọi thứ vừa được Trung tâm niêm phong trao cho Chủ tịch Hội đồng! Các em nam sinh hết lời khẩn khoản nài nỉ tôi cứu giúp, nếu không, ngoài chuyện bị gia đình trừng trị, các em sẽ phải…đi lính! Tôi nói với các em tôi rất cảm thông, nhưng đành phải bó tay, “ván đã đóng thuyền”!
Các thầy cô giám thị cũng góp lời thuyết phục tôi ra tay cứu giúp các em! Tôi buồn rầu lắc đầu nói với họ rằng tôi đã nói trước với quí vị gác thi (qua kinh nghiệm đau thương tôi đã trải qua ở Đà Nẵng) rằng để tránh trường hợp bị “lương tâm cắn rứt” sau nầy, quí vị có toàn quyền hoặc lập biên bản, hoặc tịch thâu bài thi “gian lận” xé bỏ, phát giấy trắng cho thí sinh điền tên tuổi nộp lại cho quí vị. Như thế thí sinh sẽ không bị cấm thi. Dĩ nhiên, như vậy là không hợp lệ, nhưng tôi coi như không biết cách hành sử của quí vị. Nhưng khi quí vị lập biên bản trao cho tôi, coi như hết phương cạy gở.
Thí sinh và giám thi lần lượt ra về. Trường thi giờ đây chỉ còn Ban Điều hành Hội đồng và Trung tâm. Bước ra hành lang vươn vai hít thở chút thoáng khí, tôi sững sờ khám phá em nữ thí sinh bị lập biên bản “gian lận” ngồi gom mình trong một góc tối khóc thút thít!
-Sao em chưa ra về? Em cần tôi giúp gì chăng?
Gắng gượng đứng lên, dùng khăn tay chậm nước mắt, em trả lời:
-Dạ không cần đâu, thưa thầy! Cái em cần thầy giúp thì thầy đã trả lời thầy đành bó tay!
-Đâu đuôi chuyện em bị lập biên bản gian lận thế nào, em có thể kể cho tôi nghe chăng?
-Thưa thầy! Em có kêu oan, em có giải thich, nhưng cô giám thị hành lang nhất định không tin em: Anh thí sinh ngồi sau lưng em bị bắt quả tang đang “đánh bùa”; khi rời phòng thi, anh bực dọc ném sấp tài liệu gian lận còn sót trong người xuống đất, một hai tờ vướng vào chân em, đúng lúc cô giám thị bước vào phòng nói với thầy giám thị phòng em sử dụng tài liệu cấm, nhưng chợt nhìn thấy cô, em quính quáng vứt xuống đất! Giữa em và cô giám thị hành lang, thầy giám thị phòng tin ai, hở thầy? Thầy xem có quá oan ức cho em không? Em buồn tủi, em uất ức là vì em không dám dự thi kỳ I, nghĩ rằng em chưa chuẩn bị đầy đủ, nên quyết định chờ thi kỳ II. Bao nhiêu công sức, thức khuya dậy sớm, bỗng chốc thành công dã tràng! Vận xui bất chợt úp chụp xuống đầu em, em cũng đành chấp nhận hỏng thi, nhưng sao trời xanh cay nghiệt bắt em chịu thêm tai ương nhục nhã bị cấm thi vì bậc thầy cô của em hạ bút lập biên bản giết chết đời em mà không chút đắn đo suy xét tường tận! Thầy cô từng dạy dỗ, thương mến em ở Trung học Vũng Tàu trước khi em chuyển về trường Sương Nguyệt Ánh sẽ nghĩ sao về em hở thầy? Ba mẹ, anh chị em, bè bạn em sẽ thất vọng dường nào về em, hở thầy! Em muốn chết phứt cho rồi, thầy ơi!!...
-Bình tĩnh lại em! Bình tĩnh lại! Em chờ đây, tôi vào thu xếp vật dụng cá nhân rồi sẽ lái xe đưa em về nhà…
-Không cần thiết đâu thầy. Em không dám làm phiền thầy sau kỳ thi đã quá mệt mõi đối với thầy…
-Chờ đấy nghe em!
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngNhưng cũng chuyền được cho em chút hơi ấm Tình Người, “trong xót xa đưa theo từng ngày lạnh lùng”…Từ dạo ấy trở đi, mỗi lần hồi tưởng hình ảnh người em khập khễnh bước lên xe biến mất sau làn khói đen trộn lẫn bụi mù, tôi không thể không xúc động, tâm can ray rứt, thì thầm thương cảm:
Em hỡi em ơi, sau nầy đời sẽ ra sao?
Lòng người vô tình em sẽ về đâu?***
Trừng phạt thí sinh gian lận, thiên hạ ra tay nhanh lắm, sốt sắng nữa. Nhưng chờ mãi, chẳng thấy quí thầy cô đi gác các em dự thi “phạm pháp” bị biện pháp kỷ luật. Ngay cả giấy cảnh cáo hay văn thư khiển trách cũng không! Vậy thì các biên bản của tôi về các giám thị coi thi chắc nằm yên trong ngăn kéo “hồ sơ xếp”, chưa kể có thể đã được vứt vào sọt rác! Tôi chưa tin lắm, đâu đến nổi tệ thế, phải không? Cho đến khi, với phương vị Trưởng Khu Học Chánh, tôi được Bộ cử ra giám sát Hội đồng thi Tú tài II tại Nha Trang, năm 1973…
Hôm ấy, ký thi vừa khai mở, chuông rung báo hiệu vừa dứt, đề thi vừa được phân phát cho thí sinh thì đột nhiên một giám thị hành lang gấp rút bỏ đi ra ngoài Trung tâm…Để làm gì, đố ai biết! Mua thuốc lá? Uống cà phê? Vô lý! Ông Phó Chủ tịch Trung tâm nói với tôi ông giám thị nầy không hề báo cho ông biết ông ta đi đâu! Tôi vội vã ra đứng trước cổng chờ ông giám thị có hành tung bí hiểm nầy trở về, vì nghi ngờ ông liên lạc móc nối với dân làm “áp phe” bất hợp pháp bên ngoài.
-Ông anh đi ra ngoài làm gì khi nhiệm vụ của ông anh là phải có mặt ở hành lang?
Đương sự không trả lời, trái lại muốn tiến nhanh về hướng các phòng thi. Tôi ngăn ông anh đồng nghiệp nầy (giáo sư Trung tâm Giáo dục Lê Quí Đôn), đồng thời yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thi và Phó Chủ tịch Trung tâm lập biên bản vi phạm qui định về tổ chức khảo thí.
Một lần nữa, tờ biên bản nầy bị coi như giấy nháp viết chơi cho vui!...
Thế thì, một lần nữa, tôi tự hỏi đâu là công lý? Phải chăng những thí sinh bị bắt “gian lận thi cử”, bị cấm thi, sau rốt chỉ là nạn nhân của một thứ công lý “có điều kiện”? Nói khác đi, một thứ… “cong” lý mà người áp dụng nó bẻ cong theo…những chỉ thị rất có thể đã bị áp đảo bởi các thế lực mờ ám trong bóng tối của những thứ “đồng lõa a tòng” làm chuyện phi pháp!
Càng nghĩ càng thêm thương cho hai em thí sinh thấp cổ bé miệng của tôi ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn, mấy năm trước đó!
-o-o-o-
Bốn mươi mốt năm trôi đi rồi mà cứ ngỡ như vừa mới hôm qua!
Ngon-Lao-Phổi ơi!
Em-Mắt-Lệ-Huyền ơi!
Em-Tật-Nguyền-Thê-Thiết ơi!Có bao giở các “Em tôi” tưởng tượng được người anh của các em ngày xưa -giờ đây là “ông đồ già kiêm lính yếu” lưu lạc trên đất khách- vẫn không ngừng nhắn hỏi trời mây non nước:
Em ơi, bây giờ em ở đâu?
…ở đâu?...
…ở đâu?...
…ở đâu?…Hỡi ơi! Chỉ có sóng gió rì rào trả lời câu hỏi tôi ném lên không trung!
Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, chớm thu 2011
Lê Tấn Lộc________________________________________________________________________
Ghi chú: Trích đoạn thơ mượn của thi sĩ Phạm Thiên Thư, nhạc của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Nhật Ngân & Duy Trung, tranh của Kiệt Tấn và Vivi.
















