Monday, December 31, 2012

TÌNH YÊU NHƯ MUÔN ĐIỀU RẠNG RỠ HÀO QUANG

Tự truyện

Tình yêu như muôn điều rạng rỡ hào quang…(*)

“Con nâng tâm hồn lên hướng về Chúa.
  Lạy Chúa, con trông cậy Chúa, con không lấy thế làm hổ thẹn.
   Trong số người chờ đợi Chúa đến, không một ai đã thất vọng…”
(TV 24, 1-3)
Nếu không xảy ra “biến cố” sau ngày sinh nhật lần thứ 77 của mình, có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ được dịp thấm thấu nghiệm đúng lời ca trong phim “La colline de l’adieu” -do Henry King thực hiện cho hãng phim 20th Century Fox, năm1955; John Patrick viết phim chuyện (scénario) theo tác phẩm “tiểu sử” tuyệt vời, ‘livre autobiographique’ (*)“Love is many  splendored thing!” của BS Han Suyin, xuất bản năm 1952- mà vào những đêm cô tịch trên gác trọ sinh viên, đường Phan Đình Phùng Đà Lạt, cuối thập niên 50, tôi thường một mình rung cảm thì thầm ngân nga…Đặc biệt lần cuối, trên Đồi Thông Hai Mộ, tôi đã thẫn thờ cúi mặt khẽ hát Love is…trong đêm giã từ Xứ Hoa Đào lên đường sang Kinh đô Ánh Sáng, để rồi không bao giờ trở lại lần nữa gác trọ thân thương đã từng tích lũy biết bao hoài niệm khó phôi pha theo ngày tháng, mà chưa kịp “tạ từ trong đêm” với cố nhân chỉ một lần tình cờ hạnh ngộ…

MÁU ĐÀO TUÔN XỐI XẢ
Tai nạn xảy ra đột ngột lúc tôi đang làm vệ sinh cho tươi tỉnh, chuẩn bị ngồi vào máy “chăm sóc” bài vở cho tờ Nội San Gia Đình Phan Sinh, số 56, dự trù phát hành vào dịp đón Xuân Quý Tỵ 2013: một giọt máu từ lỗ mũi bên phải rơi xuống bồn rửa mặt…
Tưởng chuyện nhỏ -thỉnh thoảng xảy ra, chỉ trong giây lát là máu ngưng chảy- tôi dùng bông gòn chêm vào lỗ mũi rướm máu, tin chắc sẽ cầm máu tức khắc. Nào ngờ! Hằng tá bông gòn nhét vào mũi đều bị máu cam tống ra hết. Và máu bắt đầu tuôn như vòi nước được mở tối đa!
Phản ứng đầu tiên của tôi -nguy hại thay, sau nầy tôi mới biết- là nhét tối đa bông gòn vào chỗ tươm máu, rồi nằm dài trên sofa ngoài phòng khách: Phước -người phối ngẫu chuyên “chăm sóc” tôi- chùm nước đá lên trán, nghĩ rằng gặp lạnh máu tôi sẽ “đặc quánh” lại. Và  tôi sẽ thoát hiểm! Than ôi! Máu bắt đầu tràn ngập cổ họng tôi và làm tắt nghẽn khí quản! Tức tốc  ngồi bật dậy, tôi ọc ra từng bụm máu đầy một lon nhỏ. Hết lon nầy tới lon khác!
Thấy ngay không cách chi tự cứu, tôi cố gắng hết sức thều thào gọi 911 và thoáng thấy mặt mày Phước xanh như tàu lá, sắp ngất xỉu tới nơi!

CẤP CỨU!
Ông chăm chú nghe tôi chỉ dẫn đây, giọng cứu thương viên (ambulancier) trầm tĩnh phát ra từ máy khuếch đại thanh (haut-parleur) của điện thoại nhà:
*Ngồi nghiêng đầu về phía trước.
*Dùng hai ngón tay bóp chặt chỗ xương sống mũi tiếp giáp với hai lỗ mũi.
*Nhổ ra tất cả máu tuôn xuống miệng. Tuyệt đối không được nuốt!
*Dứt khoát không được nằm và chùm nước đá trên trán hay trên mũi!
Chúng tôi cấp tốc lên đường tiếp cứu ông! Hãy vững tin như vậy và nhất là…phải bình tĩnh, chớ bấn loạn!”
Chưa tới 15 phút, toán cấp cứu đã ập vào phòng khách. Sau khi đo huyết áp và lấy tâm đồ, họ “gói gọn” tôi trên “băng-ca”, chuẩn bị đưa lên  xe ambulance. Chợt cứu cấp viên nhận thấy Phước sắp ngã quị. Cấp tốc đo huyết áp: 210! Thế là họ “xúc” Phước lên xe cứu thương luôn!
Các con và cháu tôi đều ngã bệnh cúm như tôi, trước khi tôi “thổ huyết”. Nên chẳng đứa nào tháp tùng đưa ông bà lão đã bức xa tuổi thất thập cổ lai hi vào Phòng Cấp Cứu bệnh viện Lakeshore (Pointe-Claire), ngoại trừ hai đứa cháu nội chưa bị cúm vật ngã, lo lắng lái xe chạy theo ambulance!
Trên xe cứu thương, hồi tưởng lần đầu, cách đây 17 năm, tôi cũng được ambulance đưa vào Urgence bệnh viện Sacré-Coeur chờ…mổ tim! Cũng chỉ mình Phước được ambulancier “bồng” lên xe cứu thương theo tôi vào…nhà thương. Còi hụ réo inh ỏi vẫn như còn vang lộng bên tai tôi đang nghẹt thở từng chập trên đường tới Lakeshore:
-Chúa ôi! Liệu Chúa có còn thương xót giữ lại trên cõi trần lần nữa -lần thứ năm- đứa con tội lỗi nầy, vô cùng  bất xứng với tình yêu bao la của Chúa chăng, sau bốn kỳ Chúa đã thổi sinh khí cho con trở lại với sự sống (khi con vừa đầy tháng, khi con toan tính tự hủy trong ngục tù cộng sản, khi con vượt biển suýt vùi thây vĩnh viễn dưới lòng đại dương u tối giá băng, khi con bị đột quỵ thập tử nhứt sinh trên đất tạm dung)?

MẦU NHIỆM “AIMÉ”?
Năm cùng tháng tận mà sao quá nhiều biến cố dồn dập trút xuống đầu tôi. Chưa đầy hai tháng, tôi đã phải uống ba lần trụ sinh, mỗi lần mười ngày (Soi ruột: 10 viên! Nhổ răng: 10 viên, Cảm cúm nặng: 10 viên). Ăn uống kiêng cử, thiếu dinh dưỡng, thiếu “nước hạnh phúc” trợ lực, đã thiếu máu vì trụ sinh tác động trên số lượng hồng huyết cầu vốn đã giảm sút, giờ đây lại mất gần 2 lít máu! Quả thật đủ món ăn chơi trong một thời gian kỷ lục! Sanh, Lão, Bệnh đều đã “nếm thử thương đau”… (Cũng đã nhiều phen cận kề cái chết vì chiến cuộc, trước khi thoát hiểm trong gang tấc lúc vượt trùng dương đến được bờ bến tự do. Trên vùng đất tạm cư cũng đôi lần suýt vĩnh viễn xuôi tay trong bịnh viện). Chỉ còn món Tử thiệt thọ nữa là hoàn tất chu kỳ làm kiếp con người: sạch nợ trần gian!
Lần “xuất huyết” nầy chứng tỏ tình trạng sức khỏe tôi xem ra đã tới hồi cực kỳ gây cấn, nguy kịch…
Dù do ambulance đưa tới, Phước và tôi vẫn phải qua thủ tục lựa thương (triage), nghĩa là cũng phải chờ…được cấp cứu. Đang mùa dịch cúm, Phòng Urgence Lakeshore cũng như các nơi cứu cấp khác đầy nghẹt bịnh nhân. Hầu hết các bịnh viện vùng Montréal nói riêng, tỉnh bang Québec nói chung đều trong tình trạng…quá tải. Cho nên phải non một tiếng đồng hồ sau tôi mới được đưa vào phòng …chờ bác sĩ khám. Phước may mắn hơn, được trực tiếp đưa vào phòng bịnh nhân có trang bị máy móc theo dõi tình trạng tim mạch, nhưng cũng chỉ nằm chờ…bác sĩ tới khám, như tôi!
Trong khi chờ đợi, tôi được y tá yêu cầu “ngồi nghiêng về phía trước, bóp mũi, thở bằng miệng, nhổ máu ứ trong họng ra khay nhỏ bằng carton ép”, với sự trợ lực của đứa cháu nội nhỏ, đứa lớn bận “trông nom” bà nội.
Cực hình “ngộp thở” kéo dài thêm một tiếng nữa…trong khi chốc chốc y tá lại chớp nhoáng xuất hiện…rút máu đi thử nghiệm! Hai cánh tay tôi loang lổ nhiều vết tím bầm. Trông tôi không khác cá mắc cạn, há mồm “hớp hớp” không khí! Sắp đứt hơi tới nơi thì, may thay, bác sĩ “cứu tinh” gấp rút xông tới “take care” tôi  kịp thời!
Dù tai bắt đầu ù, mắt bắt đầu đổ đom đóm, tôi định thần lại được ngay khi nhìn thấy bảng tên bác sĩ: AIMÉ Dahan! Ngẫu nhiên trùng hợp hay định mệnh an bài? Phải chăng BS Aimé là “hiện thân” của Cha Trợ Úy Dòng PSTT Aimé Đỗ Văn Thông?  Phải chăng Thiên-Chúa-Tình-Yêu đã đến tìm tôi cứu độ mà không đợi tôi tìm Người kêu xin, van nài cứu khổ? Hai tôi tá Chúa, BS Aimé và LM Aimé, phải chăng là “thiên sứ” mà Đức Kitô truyền sai đến kéo đứa con bất xứng nầy ra khỏi cơn nguy khổn, BS chữa trị phần xác, LM chăm lo phần hồn? Mầu nhiệm thay: “Love is many splendored thing…”! Tôi hân hoan ứa lệ thì thầm:
Biết lấy gì cảm mến, biết lấy chi báo đền Hồng ân Chúa cao vời, Chúa đã làm cho con”.

ĐÊM “HÀNH LANG”: LOVE IS
Bác sĩ Aimé cho biết sở dĩ phải lấy máu nhiều lần, dù biết tôi đã mất khá nhiều máu, là vì cần thử nghiệm xem có vấn đề gì trầm trọng hơn đằng sau chuyện đổ máu cam chăng. Nhất là cần biết rõ số lượng máu đã mất để định liều lượng sérum sẽ phải tiếp cho tôi.
Theo BS, hồ sơ bệnh lý của tôi cho thấy chuyện ngăn máu tiếp tục chảy qua mũi và tuôn xuống cổ họng tôi không giản dị, vì tôi đã phải uống thuốc loãng máu sau lần mổ tim. Nếu tiêm thuốc cầm máu, sẽ có nguy cơ máu đông đặc và tôi có thể bị trụy tim (heart attack). Do đó, ông sẽ bơm thuốc qua một ống dẫn nylon, tạo áp lực tối đa bịt kín lỗ mũi đang chảy máu, nhằm ép sát mạch máu nhỏ đã bể vào thành mũi, chặn mạch nầy dẫn máu. Như thế lỗ mũi bên kia cũng sẽ không dẫn khí thở cho tôi được nữa. Tôi chỉ còn cách hít thở bằng miệng! Sẽ rất khó chịu, nhưng không cách nào khác…Quả đúng vậy, cách trị liệu nầy làm tôi đau buốt tận óc, gân xanh nổi hai bên thái dương trông rất dễ sợ. Gần như tôi thường xuyên thiếu hơi thở, tưởng chừng sắp đứt hơi tới nơi!
Tôi qua đêm trên giường sắt đặt ngoài hành lang lổn ngổn nhiều giường khác -với nhiều bịnh nhân rên rỉ, kêu khóc thâu đêm- trong tình trạng cực kỳ khó thở, miệng lưỡi không còn tí nước bọt, khô quánh vì phải “hớp” không khí không ngưng nghỉ, trong thế ngồi, trắng đêm không chợp mắt! Đôi khi chập chờn thiêm thiếp, phải cố gắng tự đánh thức ngay, vì lỡ ngủ quên, ngậm miệng thì…tắt thở liền! Cổ họng tôi nóng bỏng như núi lửa, uống bao nhiêu nước cũng không tạo được độ ẩm cần thiết, tưởng chừng như nước vừa hút vào đã bốc thành hơi! Chưa kể mỗi lần hút nước theo ống dẫn là mỗi lần tôi lên cơn suyễn, sặc sụa té ho, hổn hển “kéo đờn cò” vì… miệng bận uống, không còn “hớp” dưỡng khí được nữa; mà mũi thì bị “đóng chốt” kín mít!
Dù không chút hở tay với các bịnh nhân khác, BS Aimé vẫn qua lại ghé mắt thăm hỏi và ủi an tôi.
-Bác sĩ quả xứng với cái tên Aimé, vì rất nhân đạo (humain), giàu tình người. Tôi ngỏ lời cảm ơn BS Aimé mà như đang ngỏ lời tri ân Cha Aimé! Và chừng như tôi đang nhìn lên cao… “xin dâng lời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa bao la…”!
Vâng, Tình Yêu Thiên Chúa bao la đã rạng ngời bao phủ những bàn tay ân cần yêu thương chăm sóc tôi trong đêm nằm bịnh xá, như tiếp nối công trình cứu độ của Người dành cho tôi, đứa con bất xứng nhưng đang nguy khổn: BS Aimé, hai đứa cháu nội, người phối ngẫu luôn tìm cách xin tháo gở dây nhợ chằng chịt đến thăm nom tôi suốt đêm, các y tá và nhân viên phục dịch luôn sẵn sàng trợ giúp tôi khi cần…
Ngay cả người bạn xa xưa, chỉ một lần tình cờ gặp gỡ, hơn nửa thế kỷ về trước trên “miền đất của đồi thông mù sương”, hiện cách xa tôi những ba múi giờ cũng thường xuyên gọi điện thoại di động theo dõi bịnh trạng chúng tôi…
Quả tình, Love is…
Không hiểu sao, suốt đêm không chợp mắt, tôi cứ thầm thì mãi:
“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra…Và nước ấy chảy đến những ai thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên: Alléluia! Alléluia!”.
Có thể tôi nghĩ tới những lần viếng và đọc kinh cầu nguyện cho ACE tôi đã an nghĩ trong tay Chúa.Tự nhiên tôi cảm thấy bình an trở lại tâm hồn, dù cơn khốn đốn thân xác vẫn chưa lắng dịu, bởi lẽ càng lúc tôi càng nhận ra lòng Tin, Cậy, Kính Mến và Phó Thác lớn mạnh trong tâm hồn tôi. Rồi đây, sẽ có thể:
“Khi Chúa thương gọi tôi về, hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ…”

LẠY CHA…”
Gần sáng, BS Aimé kiểm tra lại sức chịu đựng của tôi, giảm bớt áp lực trong nút chặn, từ mức tối đa xuống mức trung bình, cho tôi dễ chịu hơn. Nhưng tôi chưa thoải mái được chút nào, trái lại vẫn cảm thấy “ngộp nước” như người bị chó dại cắn ở cuối giai đoạn cơn điên hoành hành, hay ngộp thở như người đang chết đuối…Vị lương y như từ mẫu thương cảm vuốt lưng tôi, nâng ly cho tôi hút nước thấm ướt đôi chút miệng lưỡi đã khô khốc, đôi môi đã nứt nẻ:
-Gắng sức chịu đựng đi ông nhé! Vị lương y vỗ về tôi. Nếu tôi rút nút chặn, ông sẽ đỡ khốn khổ. Nhưng máu sẽ tuôn ra lại và  sẽ vô cùng nguy hiểm, vì chưa chắc chúng tôi trở tay kịp để cứu ông. Détendez-vous! (Thư giãn đi ông)! Tôi “take care” ông mà! Yên chí đi! Hai tiếng nữa, tôi trở lại giảm áp lực trong mũi xuống mức thấp nhất. Nếu mọi việc diễn tiến tốt đẹp, tôi sẽ cho ông xuất viện sớm.
-Nghĩa là bác sĩ sẽ tháo gở nút chặn…
-Không, không! Chưa được đâu! Phải để yên nút chặn tại chỗ ít là ba ngày. Để tránh nguy cơ về chưa được bao lâu, ông lại phải gọi 911! Chúa Nhật tới đây mình gặp lại nhau, hy vọng tôi có thể an toàn “giải tỏa” nút chặn cho ông hít thở bình thường trở lại…
Lương y nắm chặt đôi tay lạnh ngắt của tôi như để chuyền hơi ấm tình người, trìu mến nhìn tôi buồn bã lắc đầu ngao ngán nghĩ đến nỗi thống khổ sẽ phải tiếp nối dài lâu (un long calvaire) khi trở về nhà. Chưa qua hết một đêm “hứng chịu” thiếu hơi thở mà tôi đã ngất ngư, cảm tưởng đêm dài như… thế kỷ! Thêm ba ngày “hụt hơi” nữa, trời ạ!

Tuy rất khốn khổ về chuyện hô hấp gần như bị tắt nghẽn, tôi vẫn không quên Phước đang bị hàng tá dây nhợ “giăng mắc” trong phòng bịnh, rất xa hành lang nơi tôi đang cong người thở dốc thâu đêm. Không thể tự mình di chuyển tới xem hiện trạng Phước ra sao, tôi chỉ còn biết rốt lòng cầu nguyện Ơn Trên quan phòng cho Phước qua cơn hoạn nạn… vì tôi!
Tôi cũng nhiệt thành cầu nguyện cho người bạn phương xa -thường tự nhận mình được “sinh ra dưới ngôi sao xấu”, toàn gặp chuyện đau lòng với thế thái nhân tình- đã nhiều phen giao phó số mạng trong tay các y sĩ giải phẫu, trước khi được định cư trên vùng đất tự do. Và hiện lên cơn đau bụng dữ dội đã mấy ngày liền. Thế nhưng không vì thế mà nàng không lo sốt vó, tìm mọi cách liên lạc theo dõi bịnh tình chúng tôi. Rất có thể nàng cũng sắp được đưa đi cấp cứu tới nơi!
Tôi cũng không quên nguyện cầu cho ACE Dòng PSTT, văn, thân hữu khắp nơi đang  lâm trọng bịnh sớm hoàn toàn bình phục, “tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ”, cậy vào lòng Chúa thương xót!
Nghĩ lại, những tháng này bị đày đọa trong trại  tù “cải tạo” của CS, mỗi lần suýt lâm nguy vì đám cai ngục toan đánh đập hay tra khảo, tôi nhớ rõ chỉ cần đọc Kinh Lạy Cha, tức khắc…tai qua nạn khỏi. Lúc vượt biển, lúc mổ tim cũng vậy; nhưng kèm thêm Kinh Kính Mừng Kinh Sáng Danh…
Tôi đọc thầm ba Kinh trên, thiết tha hướng về Cha Thánh Phanxicô-Assisi, Cha Phanxicô Trương Bữu Diệp (mà Phước thường đọc kinh cầu mỗi tối) cầu xin hỗ trợ tinh thần chúng tôi những lúc cơ cực thế nầy… Hơn lúc nào hết tôi vững tin:
“Hãy tìm sẽ gặp, hãy xin sẽ được, hãy gõ, sẽ mở cho…”.

HỒNG ÂN CHÚA
Bảy mươi bảy năm qua, tôi nhận ra đã được quá nhiều ân sủng từ Thiên Chúa mà hầu như tôi chưa đền tạ đúng mức. Tôi cũng được nhiều ơn ích từ Mẹ Maria, Cha Thánh Phanxicô-Assisi, Cha Trợ Úy Aimé Đỗ Văn Thông, lòng yêu thương của ACE Dòng PSTT và thân bằng quyến thuộc khắp nơi mà gần như tôi chưa đáp trả tương xứng… “Biến cố rướm máu” lần nầy cho tôi nhận rõ hơn rằng quả thực tôi đã thực sự được yêu thương nhiều hơn tôi tưởng: Love is...
Tôi nhận ra thiếu sót to lớn rằng tôi đã không thực sự yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu tôi. Phải chăng tôi đã không thực sự mở lòng với tha nhân, vì ích kỷ, vì chỉ thích nhận vào hơn cho đi? Tôi chạnh nghĩ phải chăng mình cứ miệt mài nài xin ân sủng thiên phước mà quên rằng biết bao anh chị em vạn lần kém may mắn hơn nhưng vạn lầu ưu tú hơn mình cần được Chúa xót thương ưu tiên quan phòng. Tôi lại thì thầm, cảm thấy thèn thẹn trong lòng:
-Hồng ân Chúa bao la tuôn đổ xuống chan hòa.
Tuy tay tôi nhỏ bé, bao nhiêu cũng không vừa…”
Thế đấy! Bao nhiêu cũng không vừa! Than ôi! Lòng tham vô hạn, túi tham không đáy! Nếu ai cũng “biết đủ…là đủ”(tri túc…hà thời túc) thì thiên hạ đỡ sanh giặc dài dài,  bá tánh sẽ an cư lạc nghiệp thay vì tìm đủ mọi cách, nêu đủ mọi lý do để không ngừng xâu xé, tàn sát lẫn nhau!

ÔI! HƠI THỞ!...
Phiếu hẹn gặp lại lương y Aimé trong tay như giấp cho phép xuất viện, tôi nhanh chóng tìm Phước để cùng ra về. Nào ngờ Phước đã nằm chờ suốt đêm mà chưa được BS chẩn bịnh. Đành chờ nữa thôi! Tôi ngồi cú rũ tiếp tục há mồm hớp không khí, nhìn Phước dây nhợ chằng chịt, khó khăn di động! Gần hết ngày, mới được thông báo Phước “vô sự” sau một chuỗi thử nghiệm máu và nghiên cứu tâm đồ. Tạ ơn Chúa!
Suốt chặng đường về do đứa cháu nội lớn đến đón, Phước tươi tỉnh, tôi héo úa, vẫn tiếp diễn màn “cá mắc cạn” ngáp gió!
Bước chân vào nhà: y như bãi chiến trường chưa kịp dọn dẹp! Giữa phòng khách, một xô con đầy máu đã quến cục, chưa kịp đổ. Băng bông vấy máu khô vung vãi tứ tung. Từ khi vào tới lúc rời Lakeshore, tôi chỉ thức trắng “hút” nước, hớp gió cầm hơi nên choáng váng mặt mày, ngã bật trên sofa. Nhưng  cũng chỉ để tiếp tục thở dốc “nút” nước, vốn  đã rất khó khăn, nói chi tới chuyện ăn uống!
Chưa kịp hoàn hồn thì…Lakeshore gọi thông báo cần đưa Phước trở lại Phòng Cấp Cứu, theo yêu cầu của BS chuyên khoa tim mạch! Lý do: soát lại tâm đồ thấy Phước có…vấn đề! Không cách chi tôi lái xe đưa Phước đi trong tình trạng “bèo nhèo” như cái mền rách. Đành chờ sáng mai thôi.
Lại một đêm thức trắng, không ăn được, chỉ hút nước, húp soupe, ngồi chịu trận...kiệt lực chờ sáng! Nào dám uống thuốc ngủ, vì có thể ngủ quên, ngậm miệng là… tắt hơi… ngủ vĩnh viễn luôn! Nhưng rồi sáng hôm sau tôi cũng phải cố thu hết tàn lực và ý chí lái xe đưa Phước đi. Lại một ngày uể oải đợi chờ, Phước chờ khám, tôi chờ…gục ngã! Thế mới hay tính tối cần của hơi thở vì…hơi thở là…sự sống!
Nữ BS Schiff nghi ngờ có một thứ như “souffle” trong nhịp tim đập của Phước, nên cho hẹn -lại hẹn!- tuần sau trở lại làm “écho” xem có phải bị…hở van tim chăng! Lại thêm một đòn cân não nữa rồi. Năm cùng tháng tận mà hết chuyện nầy tới chuyện khác! Quả thật, tôi số…con rệp!
Trong khi chờ đợi được “giải phóng” khỏi cái ách “nút chặn”, viễn tượng thêm ba ngày không ăn, không ngủ, thiếu hơi thở tối cần cho sự sống, với người phối ngẫu cũng đau yếu rề rề quả thật không chút chi hứng khởi. Con cháu, khi dịch cúm đang hoành hành kinh khiếp, cũng không khá gì lắm, lại còn bận mưu sinh nữa. Chúng tôi chỉ còn cách…tự lo liệu thôi: Phước phải lần theo vách tường lui tới bưng nước cho tôi “chữa lửa” nơi duy nhất tạm thời còn hớp dưỡng khí cho tim đập, nấu cháo hay xúp lõng cho tôi lót dạ cầm hơi để còn sức ngồi trắng đêm canh chừng từng hơi thở đứt quãng! Y như người què quặt thăm nom người bất đắc dĩ bị “á khẩu”! Ba đêm dài như ba thế kỷ nữa…

YÊU THƯƠNG RỘ NỞ
Điện thọai nhà không ngưng reo liên tục. Bằng hữu, đồng nghiệp, môn sinh khắp nơi, trừ VN, gọi tới vấn an. Người bạn xa xưa từ Cali, hằng ngày gọi sang ít là đôi ba lần. (Có lẽ quá lo rầu cho chúng tôi mà nàng quên cơn đau kịch liệt, khỏi phải vào emergency…chăng?). Riêng ACE Dòng PSTT trong nhóm thân hữu thì “phôn” tới tấp! Nhưng tôi nào trả lời được, chỉ còn biết nhờ Phước giúp đáp trả tấm thạnh tình của mọi người dành cho chúng tôi.
Sau khi rời bịnh viện, người duy nhất tôi báo tin bằng điện thư là Cha Trợ Úy Dòng, để xin phép Cha được vắng mặt ngày học Thánh Kinh sắp tới và xin tạm hoãn phụ trách phần vụ thư ký tòa soạn một thời gian ngắn. Phước báo cho Th.L. dặn dò giữ kín chuyện bịnh hoạn của tôi. Nhưng rồi T.X. biết (do Th.L), Ban Báo Chí biết…
-Anh Lộc ơi! TX đây! Chị Phước cho Th.L. biết anh rất mệt, không nói chuyện được. Chị nhắn ACE đừng khổ thân rủ nhau lên thăm anh đang khi thời tiết quá khắc nghiệt. Nhưng tụi em không yên lòng khi biết chị cũng bịnh mà phải nấu nướng, săn sóc anh; không thể vô tâm khi biết anh chị chẳng thể trông nhờ các cháu, đứa bị cảm cúm, đứa bận đi làm, đến trợ giúp. Từ lâu tụi em đã tự xem mình như hai đứa em gái cật ruột trong gia đình anh chị. Cho nên tụi nầy tự nguyện lên nấu nướng, trông nom nhà cửa cho chị đỡ nhọc nhằn, cho anh an tâm dưỡng bịnh…
Quá xúc động, tôi gắng sức trả lời TX qua speaker điện thoại:
“TX em! Anh thấu hiểu ân tình của hai cô em gái của anh, cũng như lòng cảm mến của ACE chúng ta dành cho anh. Nhất là dành cho chị Phước. Nhưng hai em chớ khá bận tâm quá mức. Anh có ăn uống gì được đâu! Chỉ uống nước chai (ít là sáu bảy lít mỗi ngày) và húp nước cháo hay xúp lõng. Hai em cần giúp ACE già yếu, bịnh tật, neo đơn của chúng ta hơn. Anh không sao đâu, dù anh đang chịu cảnh “ngộp thở” nầy như một cực hình vô cùng khổ sở. Gấp bội lần anh mổ tim. Nhưng coi như anh kề vai vác tiếp, chút ít thôi, thập giá. Những đêm khốn khó vì hít thở quá gay go, anh đã giang hai tay ngước nhìn lên cao, thầm van nài Đấng Cứu Độ:
-De profundis clamavi ad te Domini!(Từ vực thẩm sâu, con kêu lên Ngài, Chúa ơi!)
-In manus tuas Domine, commendo spiritum meum!(Xin phó thác linh hồn con  trong tay Chúa!)…
Và không ngừng cảm tạ Chúa vì cảm nhận được Người đã thường xuyên kề  cận vỗ về, ủi an anh trong cơn gian khổ cùng cực nầy…”

Một lúc sau…
-NKT đây anh Lộc! Nghe anh đã về nhà, tôi mừng lắm. Thiếu anh tôi chẳng biết phải xoay sở thế nào với chuyện báo chí của Dòng…Anh Lộc ơi! Tôi mừng lắm!
-Anh an tâm. Qua cơn “khổ nạn” nầy, tôi sẽ cùng anh chị em trong Ban Biên Tập tiếp tục phụ giúp Cha Trợ Úy xúc tiến việc gom góp bài vở cho tờ Nội San phát hành đúng thời hạn đã dự liệu…
Liên tiếp mấy ngày, không thể nhớ hết bao nhiêu cú điện thoại của ACE đề nghị lên thăm chúng tôi! Cả những ACE có chút hiểu lầm nhau trước đây cũng điện thoại ân cần vấn an anh “Trưởng ban Báo chí” có hơi chút khó tánh!
Quả tình, Love is…
Tôi chợt nhớ Cha Trợ Úy Aimé không ngừng nhắc nhở ACE luôn yêu thương nhau: “Miệng nói yêu Chúa mà không yêu anh chị em mình là…không yêu Chúa đâu!”
Lắm lúc tôi nghĩ ACE và tôi hầu như “quên” rằng:
Đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa Trời. Đâu có lòng từ bi ở đấy có ân sủng Người. Đâu có lòng bác ái thì Chúa chúc lành không nguôi. Đâu ý hiệp tâm đầu, ở đấy chứa chan niềm vui…”
Giờ đây, tôi thấu hiểu vì sao anh Đa-Minh Mai Xuân Lâm thường nói với tôi anh rất “thích hát Thánh Ca” và luôn khuyến nhủ tôi “bằng mọi giá, nên sống hòa thuận với ACE mình”!
Thế nên, tôi “hạ quyết tâm”, sau khi bình phục, trở lại sinh hoạt bình thường, sẽ tự nhắc nhở và cổ võ ACE tôi chớ quên đặt Đức Ái lên hàng đầu trong giao tiếp. Vì xác tín rằng: Mầu nhiệm hoán cải chỉ hiển lộ khi Tình Yêu “lên ngôi”!

THÁNH LỄ NGUYỆN CẦU VÀ… “TAI ƯƠNG” ĐƯỢC GIẢI TỎA.
Ngày đứa con trai độc nhất đưa tôi trở lại Lakeshore cho BS Aimé tái khám cũng là ngày LM Aimé dâng Thánh lễ mở đầu cho buổi học Thánh Kinh…Cha Trợ Úy yêu cầu ACE hiệp ý cầu nguyện cho Phước và tôi chóng bình phục. Lúc bấy giờ đa số ACE mới rõ chúng tôi đã phải vào bệnh viện cấp cứu.
Dù bác sĩ trị liệu đã cho hẹn thật sớm (7 giờ sáng), tôi vẫn phải mòn mỏi tiếp tục “hớp” không khí chờ hơn 3 tiếng đồng hồ sau mới được vào phòng khám …chờ được “giải cứu”! Bởi vì bịnh nhân đủ thứ bịnh nằm la liệt ở Phòng Đợi, cũng chờ được… cứu cấp!
Khi “lương y” Aimé “rút chốt” đóng chặt mũi, tôi thực sự cảm thấy mình được…hồi sinh với nút chặn bị “bứng” đi để dưỡng khí “tự do” tràn ngập buồng phổi trợ lực cho tim mạch trở lại điều hòa…Tôi như người chết đuối vừa được “xốc nước” cho hơi thở trợ tim cứu sống. Cảm giác mãnh liệt nhất của tôi lúc đó y như là tôi từ bóng tối âm u, ghê rợn của địa ngục bước ra vùng rực rỡ hào quang của địa đàng! Rõ rệt nhất, tôi như vừa được lương y Aimé cất đi cục bướu ngàn cân trĩu nặng trên lưng!

Tôi được giải thích nguyên do đổ máu cam kinh khiếp: máu quá loãng, trong nhà để sưởi quá nóng nên không khí thiếu độ ẩm, các mạch máu nhỏ trong mũi quá khô sẽ rất dễ bể. Cho nên phải thường xuyên mở máy tỏa nước tăng độ ẩm (humidificateur) và bôi chất nhờn (vaseline) vào hai lỗ mũi, tránh “ngoáy” hay hỉ mũi quá mạnh, cố gắng tối đa tránh…hắt hơi!
Không dễ tăng độ ẩm vì Phước sẽ bị…nhức xương, do chứng  loãng xương! Bà sợ lạnh, ông sợ nóng. Cho nên chỉ còn cách giải quyết ổn thỏa là…mỗi người ngủ một phòng riêng. Nếu không, chảy máu lần nữa, tôi có thể…đi chuyến tàu suốt!

CHỈ CÓ TÌNH YÊU
Cuối cùng, Chúa đã xót thương giữ tôi lại thêm lần nữa để tôi tiếp tục nguyện ước hoán cải, cho tới nay chưa tiến triển khả quan lắm. Và cho tôi thêm cơ hội đón mừng lần nữa Chúa Hài Đồng Giáng Sinh …
Biến cố “rướm máu” vừa qua cho thấy trong tíc tắc, có thể tôi đã là một sự có mặt bị vĩnh viễn bôi xóa trên cõi trần:
-Cuộc sống con người như cỏ hoa. Một cơn gió thoảng đủ làm cho nó biến đi. Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích…

Qua cơn nguy tử, tôi nhận thức rõ ràng hơn thân phận mõng dòn của kiếp người:
-Phù hoa tiếp nối phù hoa. Trần gian tất cả chỉ là phù hoa…
Cũng nhờ “kinh qua” sự mõng dòn đó mà tôi nhận định chính xác hơn vị trí ưu việt của Tình Yêu. Rõ ràng, tôi nhận ra, quả thật:
Love is many splendored thing!
Để từ đó, thừa nhận chỉ có Tình Yêu tha nhân mới giúp tôi chế ngự được tính kiêu căng, tự mãn, hầu phát huy tính khiêm hạ để trọn vẹn sống thuận hòa với ACE, cùng hỗ trợ nhau  trên đường tu đức.

Đôi khi mãi hăng say tranh luận  hay bình phẩm người chung quanh, tôi lãng quên, thực chất quá bé nhỏ của mình…
Đêm nay, trong “căn nhà ngoại ô” Thôn trang  Rêu Phong, giờ đây hoàn toàn tĩnh mịch, thanh vắng -nơi một thuở ACE tôi yêu thương quay quần bên nhau sau Thánh Lễ Đầu Năm, tặng nhau nụ cuời như tặng nhau bông hồng- tôi lặng lẽ quì trước bàn thờ dâng lời cảm tạ Chúa đã thương xót gìn giữ tôi 77 năm qua, để rồi xúc động ngút ngàn “tâm tình” với Người:
“Trong trái tim Chúa yêu muôn đời con xin được một chỗ nghỉ ngơi nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi như nước mưa tan biến trong khơi…Nhỏ bé thôi! Nhỏ bé thôi!....”

-nhỏ bé thôi lê tấn lộc-
(Mùa Giáng Sinh 2012)
________________________________________________________________________
Ghi chú: Là tự truyện, dĩ nhiên tính chất cá nhân, chủ quan là điều khó tránh. Nhưng trên một bình diện nào đó, bài viết có thể giúp vài kinh nghiệm về bịnh chảy máu cam cho một số độc giả. -LTL-

 


Wednesday, November 23, 2011

KHI EM HẬU PHƯƠNG LÊN TUYẾN ĐẦU

Khi em hậu phương lên tuyến đầu…


Ngày đó, trước khi nổ ra cuộc binh biến 1.11.1963, từ chiến tuyến đèo heo hút gió do Tiểu đoàn 3/8, Sư đoàn 5 BB trấn đóng, nằm khuất trong khu rừng chồi mênh mông tiếp giáp các đồn điền cao su quận Trị Tâm (Dầu Tiếng cũ), trải dài suốt các vùng đất “hiểm nghèo” An Sơn, An Điền, Phú Thứ, Thùng Thư (Bình Dương), sào huyệt của đám du kích VC -từ đó chúng thường xuyên hoạt động khuấy phá, sách nhiễu dân lành, tạo thành những vùng “bị ung thối”, bất ổn- tôi được lịnh về hậu cứ Đại đội 11/1 Chiến Tranh Tâm Lý nằm trong khu quân sự Tam Hiệp (Biên Hòa), tiếp cận hậu cứ Tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù, đón ba nữ ca sĩ dân chính Mai Sương, Thu Vân, Mộng Thu, vừa được đơn vị nầy tuyển mộ, lên…tiền tuyến hợp lực với Liên Toán CTTL, do tôi chỉ huy, làm công tác dân sự vụ; đồng thời ủy lạo chiến sĩ tiểu đoàn 3/8, trách nhiệm hành quân yểm trợ chiến dịch thiết lập Ấp Chiến Đấu hay Ấp Chiến Lược, tùy tình hình an ninh địa phương, khởi đầu tại 2 thí điểm Phú Thứ và Thùng Thư…


Nhớ lại,vài tháng trước đó, sau khi thụ huấn Khóa 3 Căn Bản Tâm Lý Chiến tại Trung Tâm Huấn Luyện CTTL (tiền thân của bản doanh Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến sau nầy), với ám số chuyên nghiệp “SQTLC/HQ” (Sĩ Quan Tâm Lý Chiến/Hành Quân), tôi được cử làm Sĩ quan Phụ tá Đại đội 11, Tiểu đoàn 1 CTTL. Vừa đáo nhậm đơn vị buổi sáng, đang ăn trưa tại Câu Lạc Bộ, tôi được xe Jeep của đại đội từ tuyến đầu về “bốc” hỏa tốc lên thay chân cho Đại đội trưởng được đi phép sau 3 tháng thi hành công tác tâm lý chiến bên cạnh Tiểu đoàn 3/8.
Vào thời điểm đó, mỗi Khu Chiến Thuật được biệt phái một Đại Đội CTTL/Hành Quân do Nha Chiến Tranh Tâm Lý quản trị, đặt thuộc quyền sử dụng của Phòng 5 Sư đoàn liên hệ và thường được Ban 5 Trung đoàn điều động tăng phái cho các Tiểu đoàn trực thuộc.

Chân ướt chân ráo ra trường, lần đầu tiên xuất quân tôi đã lọt ổ phục kích trên đường ra trận tuyến! Vừa qua khỏi Bưng Cầu chưa tới 1 cây số, chiếc Jeep trúng mìn! May thay xe chỉ bị hất tung lên khoảng một thước rồi rơi xuống mặt lộ, bể hết bốn bánh, nằm bất động: Thuở ấy mìn của VC còn quá “đơn sơ”, quá “thủ công nghệ”, sức tàn phá không đáng kể. Bốn “thầy trò” tôi -một Trung sĩ, một Hạ sĩ nhất , một Hạ sĩ già, tài xế, đầy kinh nghiệm chiến trường và một Chuẩn úy lính mới tò te- tức tốc phóng ra khỏi xe, nằm sát mặt đường, dùng chiếc Jeep hư hại làm ụ che chắn, ba khẩu Garant M1 châu lại bắn trả, tác xạ như một trung liên BAR…Riêng Chuẩn úy nhà tôi chỉ biết “cầu âu” siết cò cây Carbine M1 vì chưa xác định được hướng hỏa lực địch! Ông hạ sĩ già vừa bắn vừa trấn an ông quan “non nớt” chiến trận của mình:
-Thiếu úy đừng lo! Tui rành sáu câu tụi du kích xã nầy. Tụi nó chỉ có ba thằng, hai thằng có “quảnh-tầm-xào” (súng trường thời Đệ I Thế Chiến , thằng kia chỉ có mã tấu và lựu đạn nội hóa, liệng chưa chắc đã nổ!
Chú Hạ sĩ già có lý. Chưa đầy 20 phút “giao tranh”, tiếng quảnh-tầm-xào im bặt và một trái mảng cầu lép xì khói nhưng không nổ, lăn lông lốc trên mặt lộ, do bọn phục kích ném bừa trước khi “chém vè”!
Chúng tôi lồm cồm ngồi dậy, nhanh chóng “thu dọn chiến trường”…Dùng địa bàn và bản đồ, tôi dẫn cả bọn vượt sông, băng rừng…an toàn tới địa điểm đóng quân.


Trình diện Tiểu đoàn trưởng tại Thùng Thư, bất ngờ tôi được yêu cầu nhận trách nhiệm Quyền Đại đội trưởng ĐĐ Chỉ huy, vì Thiếu úy Đại đội trưởng tử thương, Chuẩn úy Đại đội phó bị thương nặng, cấp chỉ huy cao nhứt còn lại của đại đội là…Thượng sĩ đại đội! Quân số đại đội cũng đã quá hao hụt: 60 còn khả năng tác chiến, 15 bất khiển dụng vì thương tích trầm trọng, chờ tản thương cùng lúc với Đại đội phó.




Tiểu đoàn đã xin bổ sung gấp, nhưng tình trạng thiếu sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là tình trạng chung, đầu thập niên 60…Vả lại, nếu có sĩ quan thay thế cũng phải chờ tới tháng sau, khi từ trực thăng của Sư đoàn (lúc bấy giờ còn quá ít) một quân nhân thuộc Phòng 4 “xô”một con heo xuống tiếp tế tăng cường “cải thiện chế độ ăn uống” cho đơn vị. (Gạo được tiếp tế bằng quân xa GMC, có Thiết vận xa M113 hộ tống). Cùng lúc vị sĩ quan phát ngân viên vội vã nhảy xuống phát lương cho quân sĩ; rồi cũng gấp rút trèo lên trực thăng quay lại rước đến các đơn vị khác trong khu vực hành quân của Trung đoàn 8 tiếp tục phần vụ. Hy vọng lúc đó sẽ có sĩ quan điền khuyết, nhưng không chắc lắm! Thế là chuẩn úy mới ra lò tôi lại phải cùng lúc làm Liên Toán trưởng CTTL/Hành Quân “chuyên môn” và… Quyền Đại đội trưởng “tác chiến”!

Ba tháng liền dính chặt với đơn vị, bù đầu với hai nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ, tôi không còn thì giờ nghĩ tới gia đình hay bè bạn. Gần gũi, chia ngọt xẻ bùi với tôi trên tuyến án ngữ nhằm cô lập VC, tách chúng khỏi dân chúng, chỉ là những chiến binh cùng xa nhà như tôi, thường xuyên đối đầu với hiểm nguy mỗi lần xuất quân tuần tiểu, truy lùng địch hay gài đặt những tổ báo động về đêm, bảo vệ vòng đai phòng thủ của tiểu đoàn, cũng như bảo đảm an ninh bằng cách giữa đêm đột nhập Ấp Chiến Đấu, bất thần kiểm tra xem VC có len lỏi vào uy hiếp đồng bào trong Ấp chăng.


Một đêm nọ, địch phát loa tuyên truyền chống quốc sách Ấp Chiến Lược, tiếng nói nghe rất gần vòng đai Ấp…Tôi cho súng cối “thục” liên tục. Nhưng loa vẫn tiếp tục ra rả suốt đêm.
Khoảng hơn 5 giờ sáng, chú hạ sĩ già của tôi bèn đề nghị tôi cho chú và hai binh sĩ đi “tắt” cái loa quái ác đó:
-Bảo đảm với Thiếu úy, một tiếng đồng hồ nữa cái loa đó sẽ tịt ngòi!
-Nguy hiểm lắm, chú à!
-Không sao đâu, Thiếu úy cứ an tâm!
Quả nhiên, gần 6 giờ sáng, VC “ngưng phát thanh”! Và chú hạ sĩ già xuất sắc của tôi dẫn độ tên du kích “xướng ngôn viên” với chiếc loa cầm tay có nút bấm nói-tắt, chạy bằng pin!
-Thiếu úy biết sao không? Tụi nó cũng 3 thằng thôi (Tổ tam tam chế mà!). Hai thằng kia canh cho thằng nầy nói. Nhưng súng cối “chụp” rát quá, chúng nó rút lui, để thằng nầy an toàn tiếp tục phát thanh: Nó đào một hố cá nhân sâu một thước, dài hai thước, rồi nó nằm dài, tha hồ nói…Tụi tui tiến tới sát miệng hầm mà nó chẳng hay biết, cứ thao thao bất tuyệt…Cho tới lúc tui kê súng vào đầu nó!


Lần khác, một Trung đội trưởng của tôi tử thương vì trúng đạn bắn sẻ. Trước đó ông Thượng sĩ đại đội cũng bị bắn sẻ, may thay đạn xuyên nón sắt chỉ làm sướt da đầu một lằn dài! Chưa kể, mỗi lần xuất quân, binh sĩ cũng bị trúng đạn của tên du kích bắn sẻ nầy. Nhiều lần tiểu đoàn lịnh cho đại đội tôi tìm cách diệt tên sát thủ vô hình, nhưng vẫn vô hiệu quả.
Nhờ kiên trì theo dõi hướng đạn bắn đi, chúng tôi dần dần xác định được vị trí của tay súng bắn sẻ xuất phát từ một bụi tre già, cách vị trí đóng quân của tiểu đoàn khoảng 60 thước. Lục soát suốt ngày, chẳng tìm ra dấu vết tên sát nhân. Cuối cùng, nhờ kín đáo gài các tổ phục kích đêm, chúng tôi tóm được tay du kích xã-chuyên viên bắn sẻ: Hắn ẩn núp trong một hầm đào dưới gốc bụi tre. Cửa hầm được ngụy trang quá tài tình thành một mảng đất có cỏ mọc xanh rì, bao quanh bụi tre!





Hình ảnh tang thương của một Trung đội trưởng khác của tôi -đang dùng cơm được tôi cấp tốc ra lịnh đi giải cứu một tổ báo động đang bị địch vây khổn- lọt ổ phục kích, lãnh nguyên tràng trung liên vỡ bụng, thức ăn còn bốc khói chưa kịp tiêu hóa văng tung tóe… theo tôi suốt chặng đường về nhà chớp nhoáng thăm gia đình.


Hoàn toàn trái ngược với những gì anh em chiến binh chúng tôi thường xuyên đối diện với cái chết chờn vờn bên ngoài phòng tuyến, dân Sàigòn hầu như không ý thức quê hương đang trong tình trạng chiến tranh. Cảnh tượng sinh viên, học sinh bị xách động “xuống đường” chống phá chính quyền, gây rối loạn khắp nơi trong thành phố, vô tình “cầm chưn” một số lớn lực lượng an ninh (lẽ ra phải được sử dụng để truy nã VC nằm vùng) và lực lượng tổng trừ bị (đáng lý ra phải được điều động tăng cường cho những điểm nóng bỏng trên chiến trường) khiến tôi đau lòng nghĩ tới những thằng bạn cùng khóa đã vĩnh viễn nằm xuống, đôi khi chưa kịp lãnh lương sĩ quan!

Trên đường trở lên hậu cứ, chiếc Jeep tôi bị kẹt cứng vì lưu thông tắt nghẽn; Tôi được dịp chứng kiến cảnh các cô cậu dìu nhau “vô tư” bát phố, nói nói cười cười…Ra tới xa lộ, lại được xem màn biểu diễn lạn xe hai bánh như hát xiệc. Thú thật, tôi muốn nổi điên, suýt nhấn ga cán bừa những chiếc xe gắn máy lạn qua lạn lại trước đầu xe Jeep, khiến tôi nhiều phen đứng tim, gồng người đạp thắng!
Phải cố nén cơn bực tức: bổn phận đang chờ tôi ở hậu cứ và trách nhiệm cũng đang đợi tôi nơi chiến tuyến!

Ba cô ca sĩ trông rất “non trẻ”: Mai Sương trẻ nhất, áng chừng 16 tuổi là cao; kế đến Thu Vân, cũng ước độ 17; Mộng Thu lớn tuổi nhất, khoảng 20 là cùng! Tất cả đều “tay yếu chân mềm”! Có lẽ Sương và Vân khai tăng tuổi để được tuyển chọn. Các cô em tôi có lẽ cũng đã bỏ học vì gia cảnh…
Đêm cuối ở hậu cứ, tôi tổ chức một buổi trình diễn ca nhạc lộ thiên cho gia đình binh sĩ của đơn vị, nhằm thử sức ba “mầm non văn nghệ” vừa tuyển dụng. Các “thiên thần mũ đỏ” láng giềng cũng được mời tham dự. Mai Sương được khán giả nhiệt liệt hoan nghinh. Màn tam ca được chấm quá…đạt! Tuy mới vào nghề, các em đã tỏ ra khá “chuyên nghiệp”. Tôi cảm thấy phấn chấn trước viễn ảnh tốt đẹp các em sẽ hỗ trợ hữu hiệu cho công tác ủy lạo chiến sĩ và thu phục cảm tình đồng bào trong các Ấp do Liên Toán CTTL/HQ điều hành.

Nghĩ tới chặng đường ngày mai đưa các em lên tiền đồn -các cô em dáng dấp còn quá nhiều nét “nữ sinh”- tôi vô cùng bối rối, lo ngại cho thân phận liễu yếu đào tơ mà đã sớm dấn thân vào vòng binh lửa: Chặng đường gay go -gấp trăm lần đoạn đường chiến binh ở các quân trường- đầy dẫy mìn bẫy, hầm chông, ổ phục kích, với nhiều cây quảnh-tầm-xào “rắp ranh bắn sẻ”! Biết đâu chẳng có ngày chiến binh chúng tôi phải ngậm ngùi tiếc thương …
“Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…”


Sau đêm văn nghệ, tiếp xúc với ba cô em, tôi hỏi:
-Sao mấy em không tìm một công việc gì nhàn hạ và ít nguy hiểm hơn?
-Em thì nhà nghèo, mẹ mất sớm, ba làm cảnh sát viên thường, với một bầy con 8 đứa, làm sao đủ tiền nuôi? Mai Sương trả lời. Em lớn nhứt, đành nghỉ học. Kiếm việc gì khi em chưa đủ tuổi trưởng thành? May nhờ ông anh họ làm ở Nha CTTL mách bảo Tiểu đoàn 1 CTTL tuyển ca sĩ cho các Đại đội. Mà Đại đội 11 gần Sàigòn nhứt…Thật tình, chính em cũng thích ca cho lính nghe hơn là đi làm thuê làm mướn…
-Vậy chắc Mai Sương ít nhiều cũng mơ ước được là… người yêu của lính”?- Hoàn cảnh của em cũng tương tợ như hoàn cảnh của Mai Sương. Thu Vân tiếp lời. Nhưng em mồ côi cha (tử trận). Nhà thiếu trước hụt sau. Em là con út. Các anh của em đều ở trong quân đội…Tự nhiên em thấy thương lính lạ lùng!
-Lại thêm một cô em muốn làm…người yêu của lính! Ấm lòng chiến sĩ biết bao! Tôi cảm thấy được an ủi phần nào rằng ở Sàigòn hoa lệ, ăn chơi vô tư lự, ít ra cũng còn có người…nghĩ tới và thương lính tiền đồn…-Em thì…người yêu chết trận. Tứ cố vô thân. Cha mẹ mất sớm. Anh em tứ tán khắp nơi vì chiến cuộc. Mộng Thu cúi đầu ứa lệ, nói nhỏ…

Sáng sớm, tôi đích thân đến hậu cứ Trung đoàn nhờ sĩ quan chỉ huy hậu cứ cho tôi gửi ba cô em của tôi theo đoàn Thiết vận xa M113 tiếp tế…Yêu cầu của tôi được chấp thuận. Như thế tôi sẽ yên tâm hơn lên Jeep đi cùng chú hạ sĩ già dặn phong sương về lại Thùng Thư!
Càng nghĩ càng cảm thương vô biên các em tôi “thân gái dặm trường”…Lòng tôi tràn ngập niềm mến phục những người “em gái hậu phương” sắp thẳng đường xông ra tiền tuyến, sát cánh cùng anh em chiến binh chúng tôi ngăn chặn địch quân khủng bố đồng bào nông thôn. Với số thù lao hàng tháng 1800 đồng bạc -một nửa lương thiếu úy- ba cô em gan dạ của tôi sẽ phải đương đầu với mọi bất trắc nơi chiến trường, hôm nay trèo lên M113, mai mốt có thể cũng sẽ phải nhảy trực thăng xuống những địa điểm không thể di chuyển bằng đường bộ…


Thuở ấy chưa có Nữ Quân nhân, chỉ có Nữ Trợ tá. Và họ chỉ làm việc ở hậu phương những đơn vị lớn, hoặc ở các Phòng, Sở Trung Ương. Các em tôi -tuy chỉ là nữ ca sĩ dân chính- vẫn xuống công tác tới cấp đại đội… Đáng ca ngợi lắm chứ!
Các Toán CTTL chúng tôi đi hành quân phải tự lo lương thực, đủ thứ lỉnh kỉnh, gạo và thức ăn, thường là cá khô làm chuẩn. Lúc bấy giờ chưa có gạo sấy Quân Tiếp Vụ hay “C ration” do Quân đội Hoa Kỳ cung cấp sau nầy. Chuẩn úy tôi được một “tà lọt” phục dịch, một mang máy truyền tin kiêm cận vệ (thường là để “chăm sóc” khi tôi bị thương hay…tử thương!). Tôi nghĩ anh em sĩ quan thời đó không thể quên hình ảnh thân thương của thằng em “tà lọt” gập người nhỏ thó quảy túi đeo lưng khổng lồ -nặng hơn trọng lượng của chàng!- chứa đầy thức ăn dã chiến, nồi niêu son chảo móc lủng lẳng hai bên “ba-lô”, lo từng bữa ăn cho “ông thầy”! Ba cô em ca sĩ “hành quân”của tôi chắc cũng phải phụ lực với anh “tà lọt” yêu quí để có gì bỏ bụng khi xong công tác. Tất cả chi phí ẩm thực nầy đều do “quan” Chuẩn úy ta gồng mình đài thọ, với tiền lương tháng quá “khiêm nhường” 3.300 đồng! Các cô đã nghèo mà lính còn nghèo rớt mồng tơi hơn nữa! Coi như mình tôi “lo” cho 6 miệng ăn!
May là toán phục dịch phía Đại đội Chỉ huy đã có Thượng sĩ đại đội lo!

quân trường, tôi thường nghe “Bộ binh là hoàng hậu của các trận đánh” (L’infanterie est la reine des combats). Nơi trận tuyến các tỉnh miền Đông Nam Phần, ở thời điểm 1963, các cuộc chạm súng thường chỉ diễn ra tối đa tới cấp đại đội. Về Hải quân, chỉ có vài chiếc giang thuyền của Bảo An (Địa Phương Quân sau nầy). Với không quân, họa hoằng lắm mới thấy xuất hiện một hai skyrider dội bom vào các điểm nghi ngờ địch đặt súng cối. Cho nên, Bộ binh chỉ trông nhờ vào các trực thăng yểm trợ, rất hữu hiệu, nhanh chóng và chính xác khi chạm địch. Các thiết vận xa M113 cũng trợ lực rất hiệu quả cho chúng tôi, trong nhiệm vụ hộ tống, tiếp tế, khai thông các trục lộ. Hỏa lực các trọng liên 12.7 và 13.2 của các chiến sĩ thiết giáp đã nhiều phen làm địch quân khiếp vía! Vũ khí cá nhân của Bộ binh thời đó chỉ có súng ngắn Colt 12, súng trường Garant M1 (có thể trang bị óng phóng lựu), tiểu liên Thompson, Carbine M1, lựu đạn tấn công và phòng thủ, bên cạnh các vũ khí cộng đồng trung liên Bar (được biết qua hỗn danh FM đầu bạc), đại liên M1, súng cối 81…


Cho nên, không cường điệu lắm nếu nhận định “Trực thăng và Thiết vận xa M113 mới thật là hoàng hậu chiến trường” thời đó. Bởi thế VC mới tuyên truyền láo khoét trực thăng và thiết giáp của “Diệm-Mỹ” làm bằng cạc-tông, chỉ cần lấy sào thọc trúng là “máy bay lên thẳng” rớt xuống đất ngay!


“Xe bọc sắt” cũng thế, đụng phải các ụ đất “ta” đắp mô là vỡ toang! Thực ra, trực thăng lúc bấy giờ là…vô địch, thiết vận xa trúng mìn chỉ…đứt xích là cùng (thuở ấy VC chưa được Trung cộng trang bị B40). Riêng cá nhân tôi, những lần biệt phái cho Tiểu đoàn 5 Nhẩy dù, được sử dụng Carbine M2 bá xếp, vũ khí chỉ được trang bị cho các lực lượng Tổng Trừ Bị, Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân…Và là vũ khí cá nhân “tối tân” nhất thời đó trong Quân đội VNCH!

Sự hiện diện của 3 nữ ca sĩ “non trẻ”, dù muốn dù không cũng đã thổi một luồn sinh khí mới cho Tiểu đoàn 3/8 nói riêng, cho đồng bào các Ấp Chiến Đấu Phú Thứ và Thùng Thư nói chung. Ít ra 3 em cũng mang đến chút tươi vui cho mọi người trong khu vực trú đóng của đơn vị. Nhưng đồng thời cũng là mối bận tâm phụ trội cho tôi, với tư cách là sĩ quan TLC/HQ. Các em được săn đón chí cốt từ mọi phía, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ…Mà tôn chỉ của ngành Tâm Lý Chiến là quân cán chính CTTL phải luôn luôn giữ tác phong gương mẫu khi tiếp xúc với các đơn vị bạn hay với dân chúng, tránh tối đa mọi hành vi gây tai tiếng xấu cho ngành! Mà tôi làm sao ngăn cấm các cô em tôi -vốn đã sẵn có cảm tình với lính- tiếp xúc với các chiến binh ?
May cho tôi là các em tự giác khép mình vào khuôn khổ do Nha CTTL hoạch định. Mai Sương, Thu Vân, Mộng Thu luôn quấn quít bên tôi, coi tôi như người anh cả, không tự ý giao dịch lung tung. Và thường xin phép tôi cũng như yêu cầu tôi cùng đi với các em trong những lần họp mặt ngoài đơn vị CTTL, mặc nhiên coi tôi như…lá bùa hộ mệnh!
Chuẩn úy tôi giờ đây kiêm thêm một nhiệm vụ mới nữa, không có trong chương trình huấn luyện của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức:“Bê-bi-xít-tơ”! Cũng tốt thôi: coi như dịp may hiếm có cho tôi áp dụng những điều thu thập được từ những năm theo ngành Tâm lý học ở ĐH Sư Phạm và ĐH Sorbonne, để sau nầy trở về đời sống dân sự đem ra ứng dụng vào “nghiệp” gõ đầu trẻ…vị thành niên! Ngày đó chắc cũng còn xa…
Trước mắt, còn nhiều việc thực tiễn, cấp bách hơn phải chu toàn: hành quân tảo thanh đám du kích đang tìm mọi cách thâm nhập khuấy phá các Ấp; củng cố hệ thống bảo vệ an ninh cho đồng bào nhằm cô lập tối đa bọn phiến cộng…Và mọi việc coi như đang tiến hành tốt đẹp: những vụ chạm súng lẻ tẻ với địch ở Phú Thứ và Thùng Thư giảm thiểu thấy rõ! Ba cô em ca sĩ của tôi có thể cùng Ban Văn Nghệ Liên Toán CTTL đến ủy lạo chiến sĩ ở các địa điểm đóng quân của các đại đội khá xa Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn mà không còn phập phồng lo sợ bị phục kích hay bị bắn sẻ!

Lần đầu ra quân tại Phú Thứ, sau tràng vỗ tay của anh em chiến binh nhiệt liệt chào đón Toán Văn Nghệ lưu động do tôi đích thân hướng dẫn, cử tọa im phăng phắc khi Mai Sương cất tiếng Chúng mình hai người bước chân ngược xuôi, Đôi lần vẫn nhắc đến tên người xưa…” cho Thu Vân tiếp nối Đêm nay dĩ vãng về trong giá lạnh, Nhớ chuyện mùa thu tâm tình, Cùng đi chiến đấu tôi và anh…”, để rồi Mộng Thu trầm buồn buông lững tiếng ca cực kỳ truyền cảm “Đêm đêm gối súng mình đâu tiếc đời, Thế mà tình yêu chết rồi...”Tiết mục kế tiếp khiến khán thính giả thêm rạt rào thương cảm với giọng hát như tiếng nức nở của Mộng Thu, hầu như muốn phơi bày tâm sự u uất:
Nửa đêm nhớ anh, buồn nghe mưa khóc qua mành
Nửa đêm nhớ anh, tủi thân mi khép mong manh
Ai ngỡ duyên mình, bẽ bàng lá thắm xa cành
Chim đàn xa tổ tội tình, người chờ người trong lúc tuổi xanh…
(…)
Anh nhớ đêm nay có người em gái thơ ngây,
Môi hồng nức nở canh dài, bàng hoàng vì trong mộng chờ ai…


Kết thúc buổi trình diễn, hợp ca “Huynh đệ chi binh” lôi cuốn hội trường hòa ca vang dội, vô cùng hào hứng!

Cuối cùng vị sĩ quan do Tiểu đoàn yêu cầu bổ sung cũng đã từ trực thăng tiếp tế nhảy xuống nhận Đại đội Chỉ huy do tôi bàn giao. Và ba tháng sau ngày các em ca sĩ lên tuyến đầu, Đại đội trưởng ĐĐ11CTTL hướng dẫn một Liên Toán mới lên thay chân cho Liên Toán tôi đi phép, sau khi chúng tôi kiện toàn tổ chức hai Ấp Chiến Đấu thành hai Ấp Chiến Lược Phú Thứ và Thùng Thư.

Các em tôi giờ đây xem ra cũng “dày dặn phong sương” không kém các anh tiền tuyến, không còn “mình hạt xương mai” như lúc mới đáo nhậm đơn vị nữa, dáng điệu cũng “nhà binh” ra phết -dù chưa hề qua một ngày huấn nhục ở quân trường- phần lớn là do tự nguyện theo chân các anh chiến binh dầm mưa dãi nắng tảo thanh du kích.
Sau một đêm sinh hoạt với trại gia binh của đại đội, khoảng 11.30 sáng ngày 1/11/1963, chúng tôi dùng GMC rời hậu cứ về Sàigòn thăm gia đình.
Bất ngờ, tới ngã ba xa lộ, ngang con đường từ Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức đổ ra, xe chúng tôi gặp nút chặn của khoảng một Trung đội Thủy Quân Lục Chiến. Tôi xuất trình sự vụ lệnh theo yêu cầu:
-Chuẩn úy không thể về Sàigòn.
-Sao vậy? Đảo chánh chăng? Mấy anh đảo chánh hay đi “giải cứu”?
-Chúng tôi chỉ được lệnh ngăn chặn các quân nhân với lời yêu cầu tất cả quay về đơn vị gấp chờ lệnh…
Về tới hậu cứ, vừa bước chân vô văn phòng, đã nghe điện thoại reo vang:
-Chuẩn úy chuẩn bị ngay một Toán CTTL chờ Phòng 5 Sư đoàn cho xe tới đưa về Sàigòn công tác khẩn cấp.
Chưa tới nửa giờ, Toán chúng tôi đã tháp tùng một cánh quân của Sư đoàn thẳng đường xông…về Thủ Đô! Các cô em ca sĩ được miễn đi theo. Chắc chắn sẽ chẳng có dịp “trình diễn văn nghệ”, em hát cho anh nghe, nếu không là… một lần cuối cùng…rồi thôi”!Đạn từ trong Thành Cộng Hòa tua tủa bay tới hướng Toán phát loa kêu gọi đầu hàng. May mà chúng tôi có nơi ẩn núp tương đối an toàn trên một cao ốc, nơi có sự hiện diện của nhiều sĩ quan cao cấp. Tôi nghe Trung tướng TVĐ hét bằng tiếng Pháp qua ống liên hợp (combiné) của máy truyền tin trên chiếc Jeep “cần câu”:
-“Commandant LTB! Où sont tes chars?” (Thiếu tá LTB! Thiết giáp của ông đâu hả?).
Không nghe có tiếng trả lời…Súng từ phía lực lượng kháng cự đảo chánh vẫn bắn rát…
Sau đó Toán chúng tôi được chuyển đến dãy lầu Tòa Án, phát loa kêu gọi lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long buông súng…Cũng không kết quả, trái lại, Đại úy Ngải, TQLC bị bắn gục trước Dinh…

Tình thật, khi bị TQLC chặn ngoài xa lộ, cũng như khi nhận lệnh của Phòng 5 Sư đoàn, tôi vẫn chưa biết đích xác chuyện gì xảy ra ở Sàigòn. Lần binh biến 11.11.1961 do Đại tá nhẩy dù NCT chủ xướng tôi theo dõi diễn tiến trên đài Truyền Hình tại Paris (Giờ chót Ngô Tổng Thống được các lực lượng trung thành giải cứu). Cho nên lần nầy, tôi chẳng rõ ai đảo chánh và ai giải cứu, cho tới khi chứng kiến tình hình chuyển biến ở Thành Cộng Hòa và Dinh Gia Long. Rõ ràng phe đảo chánh làm chủ tình hình…Quân nhân cấp thấp như tôi chỉ biết tuân lệnh thượng cấp, đúng như “truyền thống” quân đội: Thi hành trước, khiếu nại sau!

Khi mọi việc đã xong, trở về đơn vị gốc chờ lệnh thì…bất ngờ một công điện hỏa tốc yêu cầu tôi trình diện Bộ Quốc Phòng trong vòng 48 tiếng. “Mọi chậm trễ, đơn vị trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm”! Từ đó trở đi, cuộc đời binh nghiệp của tôi trải qua nhiều gian truân, bất trắc, hoàn toàn ngoài ý muốn! Một vài cuộc binh biến xảy ra sau ngày “đảo chánh”, không hiểu do căn duyên gì mà tôi bị “dính” vào, dù võ nghiệp không phải là nghề chính của tôi: “Chỉnh lý”, “Biểu dương lực lượng” diễn ra nhằm lúc tôi là sĩ quan trực Phòng Công điện Bộ Tổng Tham Mưu, nên bị “hốt” chung với các vị mà quí ngài Chỉnh lý và Biểu dương muốn loại trừ…

Nhưng rồi cũng tới lúc tôi được trả về đời sống dân sự. Từ đó trở đi tôi không còn cơ hội gặp lại các cô em ca sĩ đã từng sát cánh cộng tác thực hiện quốc sách Ấp Chiến Lược, quốc sách mà những vị chủ xướng lật đổ và sát hại hai anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xóa sổ nền Đệ I Cộng Hòa, đã thẳng tay dẹp bỏ, gây nhiều tổn thất cho lực lượng hành quân truy lùng địch sau đó, vì địch trở lại trà trộn với đồng bào nông thôn, dùng họ làm lá chắn, cầm chưn quân ta.


Những lúc đứng trên bục gỗ, nhìn xuống đám môn sinh “vị thành niên”, chạnh lòng nghĩ đến các em nữ ca sĩ “non trẻ” ngày nào cùng tôi “sống chết có nhau” trên tuyến đầu đầy dẫy thử thách, gian nguy, tôi thầm nguyện cầu cho các em nhanh chóng trưởng thành qua cơn binh lửa, sớm được làm “người yêu của lính”, cho tôi được dịp nhìn các em bước lên xe hoa (cho dù là “đám cưới nhà binh”, “hai xe lội nước đi đầu”). Để nâng ly rượu hồng chúc mừng các em tôi, cùng nhau hồi tưởng một thời đã từng chung bước trên vùng đất biết bao lần thấm máu anh em chúng tôi đã đổ ra bảo vệ nó -một thời mà mỗi lần cất tiếng ngân nga nhớ chuyện mùa thu tâm tình, cùng đi chiến đấu tôi và anh” cả khung trời kỷ niệm dấu yêu xa xưa thoáng hiện về
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu

chẳng bao giờ phôi pha theo ngày tháng…

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, cuối thu 2011
Lê Tấn Lộc

Thursday, November 10, 2011

VỀ MỘT VÀI TIẾNG VIỆT "BIÊN CHẾ"!





VỀ MỘT VÀI TIẾNG VIỆT “BIÊN CHẾ”!


Vẫn biết “Phê bình thì dễ, nhưng nghệ thuật thì khó - La critique est aisée, mais l’art est difficile” (Destouches, Le glorieux). Khi giáo đầu với câu trích dẫn nầy, tôi không hề có dụng ý võ đoán rằng quí nhà phê bình văn học biên soạn dễ dãi hơn người viết văn. Trái lại tôi vốn rất ngưỡng mộ những bài phê bình đòi hỏi nhiều đầu tư trí tuệ và kiến thức bách khoa chuyên biệt, chưa kể đến tài năng thiên phú (chẳng hạn như những bài phê bình văn học trứ danh của Charles-Augustin Sainte-Beuve {1804-1869}, đã đi vào văn học sử với tầm vóc hoàn vũ).

Tuy nhiên, trên văn đàn người Việt hải ngoại, gần đây tôi cảm thấy ít nhiều bị “kích xúc” trước hiện tượng quá lạ lẫm, thể hiện qua chuyện “sáng chế” dài dài chữ mới -những “từ” đôi khi rất …quái đản- không những ở các cây viết “mới ra lò” mà còn nơi một vài cây bút chuyên nghiệp phê bình văn học vốn đã khá thành danh, được giới cầm bút cùng khá đông độc giả biết đến.


Nơi vùng đất vốn dồi dào “hiện tượng” quá “ấn tượng”, nằm ở cực Nam Bán Cầu, một cây bút chuyên viết biên khảo, phê bình khá “nặng ký” rất đáng được “vinh danh” vì không theo trào lưu “cóp” ngôn ngữ XHCNVN, quá thịnh hành không những trong giới viết lách mà ngay cả trong giới truyền thông (báo giấy cũng như “vi” báo, thậm chí cả trên làn sóng truyền thanh hay truyền hình hải ngoại. Nhưng mất vui thay “đấng” nầy lại mắc cái tật bất khả chế… “biến chế” , nhập cục một số chữ thành những “cụm từ” vô cùng bí hiểm, “hiểu được chết liền”, phảng phất không khí…“đố vui để…chọc”! Tôi có cảm tưởng cây bút nầy “biên chế”: biên chữ thông dụng, cắt xén, gắn ghép…chế thành chữ…mới, chưa hề có trong các tự điển đã ấn hành trước cũng như sau 75! Chao ôi! Nghe qua, nổ như “tiếng sắt tiếng vàng chen nhau”. Và khi đọc phải, tức thì con ngươi đổ đom đóm như đang nhìn ánh sáng lân tinh của “trái phá”…chẳng những làm chóa mắt mà còn khiến khối óc bị “teo tê” và…“con tim mù lòa” luôn!

Nhà phê bình văn học nầy xem ra rất mê thích “làm mới ngôn ngữ” bằng cách “sáng tác” (sic) nhiều chữ mới, có thể ông đã mắc phải bệnh “nắm bắt con chữ”, một khi đã nổi tiếng (y như một số ca sĩ khi bắt đầu được khán thính giả mến mộ bỗng thấy có nhu cầu hát “kiểu cọ” ngoài sức tưởng tượng):
Hết “tiêu chí” -viết lên thấy “đã” hơn tiêu chuẩn …chăng?- tới “điển phạm” -nghe “kêu” hơn qui phạm…chăng?
Canon? Nhà phê bình ta chê những chữ đã dịch trước đây, được sử dụng tương đối phổ quát và dễ hiểu, để dịch theo “kiểu” riêng: Điển phạm! Nghe qua như…bị điện giựt gân vì…tiếng cà-nông nổ sát bên tai!
Dĩ nhiên, dịch giản dị, cố cho sát ý hay ít nhất cũng thoát ý đã quá “vất vả, và ít nhiều cũng đã là “phản bội” rồi (traduire, c’est trahir…). Canon mà cố tình dịch khác hơn thiên hạ chơi, cho có vẻ bí ẩn (nếu không muốn nói là “phăng” quá đà) thì người đọc chỉ còn cách giơ hai tay lên đầu hàng!
Cho tôi được lặp lại câu nói của Socrate: “Tôi chỉ biết có mỗi một việc: Tôi không biết gì hết!”, để cố gắng tìm hiểu những “từ” quá “cao siêu”, quá thâm sâu của nhà chuyên viết phê bình văn học nầy, sâu tới độ tối u với đầu óc “chậm tiêu” của tôi:
Có phải tôn ý của tiên sinh là muốn “dồn cục” hai nhóm chữ “kinh điển” và “quy phạm” (hay “phạm trù”) thành điển phạm…chăng? Kiểu dồn cục nầy hiện nay rất hợp thời trang, rất được phổ biến rộng rãi (rất…đại trà!) trong giới cầm quyền CHXHCNVN!
Còn “từ” “tiêu chí” thì tôi xin…chịu thua! Chả nhẽ tôi phải diễn nôm: Tiêu tùng hết ý chí!
Ước mong được các bậc “thức giả” (thức thiệt!) thương tình chỉ dẫn cho tôi được soi sáng thêm tí nào chăng trước hiện trạng “trăm hoa đua nở”, sử dụng không tự chế những “con chữ mới” sinh sôi nẩy nở vượt chỉ tiêu (hay…tiêu chí?) từ sau Ngày Ba Mươi Tháng Tư …Bảy Nhăm!

Tôi chuyển bài viết “Điển phạm…” của nhà phê bình văn học lẫy lừng danh tiếng kể trên cho một đồng nghiệp ở Hoa kỳ và được phúc đáp như sau:
“Quả tình đọc bài viết tôi không hiểu gì cả. Từ ngữ dùng nghe điếc con ráy. Chữ canon được dịch thành điển phạm. Canoniser thành điển phạm hóa để rồi dùng chữ Ngoại Đạo một cách lạc lõng trong văn chương VN vào thế kỷ XVII và đầu XIX…”.
Bạn tôi còn đưa vài nhận xét về nội dung bài viết nầy, chỉ ra những chỗ không chính xác, nhưng tôi không nêu ra đây vì không phù hợp với chủ đích bài viết nầy của tôi.

Để tạm kết, tôi nghĩ có lẽ nên nêu ra đây nhận định của nhà văn N.M.G. trong một thư gửi cho tôi vào năm 1992:
“Viết lách đem lại cho ta nhiều người bạn quí nhưng cũng gánh theo rất nhiều phiền lụy. Tất cả chỉ do nhiều người không chủ tâm viết, mà chỉ chú tâm lợi dụng chữ viết. Mọi chuyện rắc rối từ đó mà ra…”

Thôn trang Rêu Phong, Xứ tuyết, cuối thu 2011
Lê Tấn Lộc


Sunday, October 9, 2011

BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU

Tạp bút

BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU?
Tôi một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm?



Khe nắng xuyên qua phên nứa loang lổ chiếu hắc vào mặt làm tôi hồi tỉnh trên chiếc đệm rách nát trải ngay sàn đất căn nhà lá lụp xụp, nhưng chưa định thần nhận ra mình đang ở đâu, thiên đàng hay địa ngục: quanh tôi la liệt nhiều xác người chỉ còn da bọc xương! Máu ứa ra miệng hầu hết các xác…
Gắng gượng chống tay đứng lên, bước ra sân ngoài tôi nghe có tiếng rên yếu ớt của một thanh niên trạc 20, 21 tuổi, đang ôm ngực húng hắng ho, nhổ ra từng búng máu tươi…Anh cũng mặc “trây-di” (áo trận) rách bướm như tôi, loại áo mang theo khi “trình diện học tập cải tạo”, phòng khi “kách mạng” cưỡng ép đi lao động. Mẹ rượt cái lũ “răng xâm lăng” hắc ám, đểu giả từ phương Bắc tràn xuống như giặc cào cào, châu chấu cứ ra rả suốt ngày “lao động là vinh quang”!
-Tôi là Lộc. Anh tên gì?
-Tôi tên Ngon.
-Mình đang ở đâu đây anh? Nhiều xác chết quá! Địa ngục chăng?
-Không hẳn, nhưng cũng không thua địa ngục lắm đâu anh ơi! Bọn chúng cho khiêng tôi vất vào cái “trạm xá chống lao” nầy đã gần 3 tháng, khi tôi khạc ra máu vì bị thúc ép lao động quá sức. Để trị lao chỉ có thuốc tể vò viên từ lá cây “xuyên tâm linh”, do chúng bắt bệnh nhân tự chế biến. Chúng bỏ mặc chúng tôi vì nghĩ trước sau gì tụi tôi cũng chết vì lao. Cá nhân tôi đã vùi lấp cả chục anh em mình…Hôm qua chúng quăng anh vô đây. Nghe anh em mình kể là anh chặt cành cây theo yêu cầu “đạt chỉ tiêu”, rủi ro té từ thân cây cao gần 10 thước xuống bất tỉnh. Chúng vứt anh vào chỗ coi như nghĩa địa lộ thiên nầy, vì tin chắc sớm muộn gì anh cũng theo chân mấy anh em đang bị vi trùng Koch gậm nhấm. Quả nhiên! Anh thấy chưa, thiếu thuốc men, anh em mình chết hết rồi đó. Giờ đây chỉ còn anh và tôi còn sống sót!
- Mấy tên bộ đội quản giáo đâu hết rồi hả anh?
-Nghe nói đêm qua, khi anh còn hôn mê, chúng nó lùa anh em trại Long Giao mình vào xe bít bùng chở ra xe lửa tống ra ngoài Bắc hết rồi. Đám ho lao tụi tôi và anh, chúng bỏ lại cho rã thây trong rừng già…

Ngon và tôi dìu nhau tìm đường ra lộ cái, kiếm cách chuồn về Sàigòn…Đói lả người, khát khô cổ. May thay hai đứa gặp được vài đồng bào đi làm rẫy cho vài nắm xôi, vài chén nước cầm cự lết ra tới mặt lộ. Định đón xe đò năn nỉ xin quá giang (trong túi hai đứa chẳng có một xu teng!). Nhưng chưa kịp thấy bóng dáng xe đâu thì năm ba trự “bò vàng” đã ập tới chỉa súng “hỏi thăm sức khỏe”, còng tay dẫn độ về đồn công an. May là không bị ăn đòn hội chợ vì tội “trốn trại”. Nhờ một tên quản giáo của trại Long Giao ngả bịnh bất thình lình ở lại trại chờ “nhập viện”, hai đứa được giải oan “trốn học tập cải tạo”. Ngon được đưa về một “trạm xá” không thuốc men khác. Tôi được giải giao về trại Z30D (Hàm Tân), trước đó là Căn Cứ 5 Rừng Lá của QLVNCH…




Suốt buổi sáng cùng băng rừng, Ngon kể chuyện đời mình, buồn nhiều hơn vui: Cha mẹ bị đấu tố chết, hai người anh tay xách nách mang Ngon chưa đầy 6 tháng tuổi, lội suối trèo non vượt thoát thiên đường xã hội chủ nghĩa. Năm Ngon lên 17, người anh cả, sĩ quan Biệt Động Quân và người anh kế, sĩ quan Nhẩy Dù, lần lượt tử trận trong mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Không nơi nương tựa, Ngon đành bỏ học, khai tăng tuổi, tình nguyện đăng lính Thủy Quân Lục Chiến. Nhờ tinh thần hiếu học, Ngon thi đậu tú tài I, được đơn vị gửi đi học khóa sĩ quan trừ bị, Trường Bộ Binh Thủ Đức. Trở lại đơn vị cũ với cấp bực chuẩn úy, Ngon đánh đấm ra phết, noi gương hai anh mình, được đặc cách thăng thiếu úy tại mặt trận. Chưa kịp lãnh lương mới, Ngon bị trọng thương. Đang nằm điều trị ở phòng hồi sinh thì bị “kách mạng” đuổi xô ra đường…
-Em tứ cố vô thân. May có duyên gặp anh trong cảnh hai anh em mình đều thập tử nhất sinh. Em mong anh nhận em làm em nuôi. Một mai anh hay em qua đời trong cảnh đất nước tan hoang, trong vòng rào kẽm gai của kẻ thù, nhớ nhau, chúng ta sẽ lặng lẽ thấp một nén hương lòng, thầm đọc cho nhau một kinh cầu làm “ấm lòng chiến sĩ” trong nghịch cảnh sa cơ thất thế!
-Vâng, kể từ giờ phút nầy, Ngon là Em của anh. Và Lộc là Anh của Ngon!

Trên xe giải giao, nghĩ tới thân phận hẩm hiu của đứa em vừa kết nghĩa bệnh nặng không thuốc thang, giờ đây chẳng rõ xiêu lạc hà phương, tôi thì thầm:
Em ơi bây giờ em ở đâu?
Bến Hải hay Cà Mau?
-o-o-o-
B
ị tống vào trại mới quá trễ -lẽ ra nếu không bị tại nạn lao động, tôi đã bị nhốt như thú vật trong các toa xe lửa cục kỳ hôi hám, thiếu dưỡng khí; và có lẽ đã tắt thở, thây bị vứt xuống đường rầy làm mồi cho thú dữ- tôi được nhét vào một chỗ chỉ đủ nằm ngửa, vô phương nhúc nhích cựa quậy, trên sạp tre ọp ẹp đầy rệp, sát vách nhà cầu công cộng, với ngọn đèn pha từ ngoài nhà giam chiếu sáng rực vào mặt suốt đêm!
Nơi đây tôi đã ôm trong vòng tay hai bạn đồng tù -và đồng bịnh suyễn nặng- chết vì không có liều thuốc bơm tức tốc làm hạ cơn suyễn đến nghẹt thở, trụy tim!

Nhiều đêm mất ngủ, những ray rứt, những dằn vặt nội tâm bỗng dưng trỗi dậy trôi chảy trong tâm can tôi như những thước phim phô diễn trước đôi mắt nhắm nghiền sau làn vải đen che khuất ánh sáng của ngọn đèn pha trực chiếu vào chỗ tôi nằm…




Ngày ấy, 41 năm về trước, vào giờ chót, tôi được chỉ định làm Chủ tịch Hội đồng thi Tú Tài II tại Đà Nẳng, vì nghe đâu Bộ Giáo Dục bắt được tin có sự thông đồng giữa một số giáo chức địa phương với một số khá nhiều thân nhân các thí sinh để mưu toan gian lận thi cử, qua việc sắp xếp chỗ ngồi của các thí sinh, phân phối giám thị, hầu giúp các thí sinh cóp bài hay tráo bài với nhau, hoặc giám thị trao bài giải cho thí sinh, hay thậm chí làm lơ cho thí sinh thuê người thi thế (lơ là trong việc kiểm tra căn cước thí sinh),v.v…
Do đó, Bộ quyết định cử tôi thay thế vị Chủ tịch đã được chính thức lên danh sách bằng Nghị định, nhằm phá vỡ âm mưu “làm ăn” bất chính nầy.
Trong quá khứ đã xảy ra nhiều vụ mưu toan như thế ở vài tỉnh miền trung. Khi các giáo sư đi gác thi phát giác, báo động, họ bị hăm dọa, hành hung, đôi khi bị sát hại.
Lúc bấy giờ, vì sắp có cuộc bầu cử lại Tổng thống, nên Chính phủ ra thông tư yêu cầu các chính quyền địa phương tích cực yểm trợ tối đa cho các Hội đồng thi, nhằm bảo toàn nghiêm ngặt kỹ luật và trật tự nơi trường thi, tránh gây dư luận bất lợi cho chính thể VNCH.
Tuy nhiên, ai được điều ra công tác ở miền Trung cũng đều nơm nớp lo ngại ảnh hưởng nặng nề của các đảng phái trong mọi sinh hoạt dính líu tới chính quyền địa phương. Thiên hạ chưa quên các phong trào đấu tranh bạo động tại Huế, năm 1966…
Hội đồng Giám thị Trung ương đặt Văn phòng tại trường Trung học Phan Chu Trinh. Sau khi viếng thăm xã giao và được Đại tá Thị trưởng cam kết triệt đễ thi hành Thông tư của Chính phủ, tôi cho họp ngay Ban Điều hành Hội đồng, gồm 1 Phó Chủ tịch (Hiệu trưởng Nữ Trung học Nha Trang), 1 Thư ký (Giáo sư Chu Văn An) với 3 Phó Chủ tịch Trung tâm (1 Hiệu trưởng Nữ Trung học Bùi Thị Xuân-Đà Lạt, 1 Hiệu Trưởng Châu Văn Tiếp-Phước Tuy, 1 Giáo sư Gia Long) nhằm duyệt xét danh sách thí sinh tại 3 Trung tâm, sửa đổi toàn diện cách phân phối thí sinh tại các phòng thi, các giám thị phòng và giám thị hành lang cho các Trung tâm.

Bên ngoài phòng họp, một tiểu đội Địa Phương Quân được bố trí bảo vệ an ninh cho Hội đồng. Phiên họp đang diễn tiến, đột nhiên một anh thanh niên mặc quân phục tác chiến, không mang cấp bậc hay huy hiệu cho biết thuộc đơn vị nào, đầu đội bê rê đen cũng chẳng có phù hiệu binh chủng hay huy hiệu cảnh sát dã chiến, nghênh ngang bước vào phòng họp, sấn tới hất hàm hỏi tôi là ai và yêu cầu cho xem căn cước! Tôi nghiêm mặt vặn hỏi lại:
-Anh là ai mà ngang nhiên tới Hội đồng thi xét giấy tờ tôi? Nếu anh trong toán bảo vệ an ninh thì anh phải biết tôi là ai và đã phải cùng toán canh gác tới trình diện Hội đồng để chúng tôi nhận diện các anh, phòng hờ kẻ gian giả dạng trà trộn phá phách.
Hắn vẫn kênh kiệu nghinh ngó tôi.
-Được rồi! Anh chờ xem. Anh Trưởng toán an ninh đâu? Anh giữ an ninh thế nào mà để người lạ mặt đột nhập vào trụ sở của Hội đồng? Anh tới khám xét người khả nghi nầy, giữ anh ta lại chờ tôi liên lạc với giới chức có thẩm quyền đến dẫn độ anh ta cho Hội đồng chúng tôi làm việc!
Không đầy 15 phút sau, một Jeep cảnh sát tới “xúc” tay phách lối lên xe…Ông Hiệu trưởng Phan Chu Trinh tiết lộ hắn ta là đảng viên một đảng rất có thế lực tại đây. Hắn tới với dụng ý “dằn mặt” ông Chủ tịch Hội đồng chưa chi đã được dư luận đồn đãi “sẽ cương quyết mạnh tay bài trừ gian lận thi cử”! Chưa tới ngày khai diễn khóa thi mà không khí đã cực kỳ….căng thẳng!

Ngày đầu khai mở cuộc thi đã có va chạm nẩy lửa, suýt xảy ra cảnh huyết lưu mãn địa! Tại phòng thi dành cho quân nhân, một thí sinh mặc quân phục Cọp Ba Đầu Rằn BĐQ bị bắt quả tang đem tài liệu vào sao chép trên bài thi (tiếng lóng gọi là “quay phim”, “đánh bùa”). Anh ta rút lựu đạn hăm sẽ buông tay cho nổ tung! Cả phòng thi náo loạn. Ông giám thị ngất xỉu! Giám thị hành lang tức tốc tuôn vào phòng Hội đồng thông báo sự việc. Ông Phó Chủ tịch trung tâm cũng sắp bị “kinh phong giựt” (crise d’épilepsie) tới nơi! Tôi vội vã chạy ra ngăn toán an ninh can thiệp, cố gắng điềm tĩnh bước vào phòng thi. Anh “rằn ri” hét to:
-Đứng lại!Tiến tới là tôi cho nổ đấy!…
-Anh đưa trái lựu đạn cho tôi…
-Không bao giờ! Thà chết sướng hơn mang tiếng nhục gian lận thi cử về đơn vị thọ phạt, có thể bị giáng cấp!
Trưng thẻ sĩ quan cho anh ta xem, tôi ôn tồn nói:
-Tôi cùng binh chủng với anh, nhưng hơn anh về tuổi lính và cấp bực. Tôi là Đại úy QLVNCH biệt phái ngoại ngạch về Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Anh thí sinh quân nhân phạm lỗi đổi thái độ, khép đôi chân đang dạt ra trong thể thủ, đứng nghiêm chào tay, nhưng vẫn khư khư nắm chặt quả lựu đạn…
-Anh nghe đây: Với phương vị Chủ tịch Hội đồng, tôi có thể cho lập biên bản anh phạm qui luật trường thi. Với trái lựu đạn trên tay anh còn thêm tội mưu toan bạo hành. Hậu quả là anh có thể bị cấm thi vĩnh viễn. Chưa kể anh có thể bị “lột lon”! Sao anh lại có thể toan dùng trái mãn cầu nầy sát hại các chiến hữu của anh và tự sát vậy? Đây là trường thi, đâu phải chiến trường, phải không? Tôi đề nghị thế nầy: Anh trao trái nổ quái ác đó cho tôi, rồi trở về chỗ ngồi dành cho anh dự thi. Tôi xé bài thi anh đã cóp từ tài liệu bất hợp lệ, trao cho anh mẫu bài thi khác, bỏ qua chuyện anh gian lận. Anh làm bài được thì tốt. Không làm được, anh nộp giấy trắng ra về. Coi như bỏ cuộc. Tôi nghĩ giải quyết như thế chỉ có lợi cho anh. Phần tôi, tôi sẽ thuyết phục các đồng nghiệp bỏ qua chuyện anh toan đại náo trường thi. Dẫu sao anh cũng đã góp xương máu bảo vệ bờ cõi quê hương của chúng ta…
Tôi thu hồi được quả lưu đạn đã rút chốt an toàn. Và trật tự được vãn hồi, cuộc thi tiếp diễn như chưa có gì xảy ra! Mùa thi nầy hứa hẹn sẽ cực kỳ gây cấn…

Trên chiếc Jeep của trường Phan Chu Trinh giao cho Hội đồng thi sử dụng, tôi chở chị Phó Chủ tịch và anh Thư ký đi tuần tra vòng ngoài các Trung tâm thi. Không thể tưởng tưởng cảnh hỗn loạn diễn ra trước mắt chúng tôi, y như chợ trời đang nhóm trên đường phố: từng đoàn người xô lấn, chen nhau trèo lên dốc thoai thoải sát bờ tường các phòng thi phóng bài giải cho các thí sinh, mà các giám thị cứ như thị thiền cho họ tung hoành như chỗ không người! Thậm chí có vị còn thò tay ra cửa sổ phòng thi đón lấy các bài giải giúp đám người tự tung tự đại, coi giới chức thị sát trường thi như có mặt để làm kiểng chơi thôi! Không thể để tình trạng rối loạn chướng mắt nầy tiếp diễn, tả xung hữu đột, xua đuổi đám người coi thường khung cảnh trang nghiêm của trường thi, tôi đột nhập phòng thi bị tràn ngập bài giải từ ngoài phóng vào, tiếp sức với các giám thị hành lang tịch thu “tang vật” ngoại nhập, lập biên bản hai vị giám thị phòng không làm tròn trách nhiệm gác thi, tức khắc cử người thay thế họ.
Tại các trung tâm khác cũng tình trạng “loạn cào cào” như thế. Tôi thấy rõ giờ đây không những chúng tôi phải đối phó với tệ trạng gian lận từ phía thí sinh, từ phía những người bên ngoài phòng thi làm “áp-phe” với thân nhân thí sinh, mà còn phải “canh chừng” các vị gác thi của chúng tôi nữa! Mệt cầm canh! Tôi “rỉ tai” các Phó Chủ tịch Trung tâm: Ưu tiên “canh gác” quí ngài…gác thi! Vô cùng tế nhị, khó khăn, đau đầu gấp trăm lần “trông chừng” thí sinh!

Anh chị em chúng tôi trong Hội đồng thi từ các nơi được điều động về đây làm công tác khảo thí đã làm hết sức mình trong việc bảo toàn tính chất trang nghiêm cho trường thi, trong ý hướng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân có cơ hội thăng tiến, nếu có thực tài, đã cố gắng tối đa ngăn chặn tệ trạng “bán buôn” làm giảm sút giá trị của văn bằng mở cửa vào đại học. Với ý nguyện thực thi công bằng, chúng tôi sẵn sàng trực diện với mọi hiểm nguy, rủi ro khó lường. Thế nhưng sức người có hạn! Biết đâu, vì lý tưởng nghiêm minh, công bằng đó mà vô tình chúng tôi bất công với những thí sinh bị lập biên bản, đưa tới hình phạt cấm thi? Bởi lẽ do giới hạn về nhân số, về thời gian, về phương tiện, vô hình chung chúng tôi bất lực ngăn chận những thí sinh gian lận qua trót lọt kỳ thi lấy bằng tú tài II, do những “âm mưu”, những “a tòng” bất chính trong bóng tối! Thế thì đâu là công bằng? Các thí sinh bị phát giác gian lận, có thể không có thế lực “ma nớp” nào sau lưng trợ giúp. Trừng phạt họ trong tình thế “nhiễu nhương” tràn lan, có thực sự công bằng chăng? Câu nói của một ông thầy cũ khiến tôi suy nghĩ đến nhức đầu: “Tuyệt đỉnh của công bằng là…bất công” !...Ngày cuối của kỳ thi, tôi thực sự nhức óc đối đầu với một trường hợp khó xử trí. Nói cách khác, nôm na hơn: tiến thoái lưỡng nan. Tại Trung tâm do Nữ Hiệu Trưởng Bùi Thị Xuân phụ trách, giám thị bắt được một nữ thí sinh ban C đang “đánh bùa” bài thi vạn vật. Trung tâm báo cáo không đủ sức (hay không dám) giải quyết ra sao. Nên đưa nội vụ lên Hội đồng quyết định!
Sở dĩ có tình trạng chuyển giao nội vụ cho tôi định liệu bởi vì nữ thí sinh tuy còn đi học nhưng là một ca sĩ nổi tiếng của đài Truyền hình Đà Nẵng và là thần tượng được dân địa phương vô cùng mến mộ! Nghe phong phanh có một số “fan” của em đang xách động xuống đường gây áp lực! Yếu bóng vía, “rét” là phải! Rốt cuộc, trăm dâu đổ đầu tằm “Chủ tịch Hội đồng” thôi!
Trước mặt tôi, ông giám thị xác nhận em nữ thí sinh có gian lận; ông đã lập biên bản. Bà Phó Chủ tịch Trung tâm trao cho tôi văn kiện mang chữ ký của giám thị phòng và giám thị hành lang, nhưng nữ thí sinh chưa chịu ký tên, một mực kêu oan em bị hiểu lầm. Theo em, tài liệu “gian lận” là của nữ thí sinh bên cạnh đã rời phòng thi, sau khi nộp bài, sấp tài liệu bỏ lại trên băng ghế…Ai đáng tin hơn ai đây? Người bắt và kẻ bị bắt đều là dân địa phương! Họ có quen biết nhau chăng? Có gì “bí ẩn” đàng sau vụ lập vi bằng mà tôi và các đồng nghiệp từ xa tới không rõ chăng?
Tôi không thể đơn phương hủy bỏ biên bản -coi như thí sinh bỏ cuộc, sẽ bị đánh rớt, nhưng không bị phạt cấm thi, như tôi đã “linh động” giải quyết với anh thí sinh quân nhân trước đó- nếu hai ông giám thị không đồng ý. Ngược lại tôi cũng không thể ép em nữ thí sinh ký tên vào biên bản, khi em vẫn một mực kêu oan! Đó là chưa kể nếu xé biên bản, dù ông giám thị xác nhận trao quyền cho tôi tùy nghi giải quyết, biết đâu ông chẳng đặt nghi vấn tôi “lương lẹo” tiền bạc để “tha” cô nữ thí sinh “gian lận”?
Thôi thì chỉ còn cách xin quí vị liên hệ tới vụ tình nghi “gian lận” nầy ra chờ ngoài phòng đợi, để tôi tìm hiểu thêm nội vụ với đương sự bị qui trách vi phạm qui định khảo thí, với sự chứng kiến của anh Thư ký Hội đồng…
Cuối cùng, tôi thuyết phục được em nữ thí sinh ký tên vào biên bản với dòng chữ viết tay: “ Em có cầm sấp tài liệu do thí sinh bên cạnh bỏ lại, nhưng không sử dụng, vì bài thi em đã làm xong. Định trao cho thầy giám thị phòng thì em bị hiểu lầm là có ý gian lận… Xin quí thầy cô mở lượng từ bi cho em được hưởng biện pháp khoan hồng…”, sau khi tôi long trọng hứa rằng em sẽ không bị cấm thi, với chữ ký của tôi và của anh Thư ký bên dưới chữ ký của em. Tôi cũng sẽ làm tờ trình nội vụ lên Bộ (qua Nha Khảo Thí) với đề nghị miễn áp dụng biện pháp kỹ luật với em, sau khi bài thi của em được hủy bỏ và em đành chấp nhận bị đánh rớt. Tôi nghĩ như thế cũng là đã là một hình phạt khá đủ cho em, nếu em thực sự ngay tình nhưng vô ý…

Mấy tháng sau, tôi nhận được danh sách khá dài các thí sinh toàn quốc bi cấm thi từ 1 đến 3 năm, có tên em nữ thí sinh “ca sĩ đài Truyền hình Đà nẵng”! Tôi ngao ngán thở dài, tim đau nhói, hồi tưởng lại cảnh tượng thương tâm trong phòng họp Hội đồng thi tại Thị xã Đà Nẵng. Em nữ thí sinh nước mắt đầm đìa làm nhoen ố làn mực đen kẽ quanh viền mi, khiến tôi kinh hoàng nghĩ rằng em khóc đến mù lòa! Ngực áo trắng tinh tuyền của em cũng lổ chổ vết mực đen…


-Thầy ơi! Oan cho em lắm! Thầy cứu em nghe thầy! Em mà bị tai tiếng gian lận thi cử thì…tàn đời em thầy ơi! Em không màng thi trượt hay thi đậu. Nhưng gia đình em cổ kính lắm! Cha mẹ em không bao giờ dung thứ cho đứa con ngoan của mình phạm lỗi làm ô danh gia tộc. Bị cấm thi, chắc em phải bỏ xứ ra đi! Bao nhiêu bè bạn thân thương, bao nhiêu người mến mộ em sẽ quay mặt với em! Thầy ơi là thầy ơi!

Vậy mà tôi nỡ vô tình cho em ăn bánh vẽ với hy vọng em sẽ được khoan hồng, đã an ủi em, khuyến khích em lau khô nước mắt đến đen hết cả hai tay áo dài tha thướt …
Sẽ không bao giờ tôi quên nổi nụ cười gượng của em qua đôi mắt chưa hoàn toàn ráo lệ, chưa tẩy hết vết mực đen kẽ mi, khi em ngước nhìn tôi, chắp đôi tay như vừa thầm cảm ơn tôi vừa khấn nguyện trời cao nhậm lời em cầu khẩn, môi cười mà lệ như rơi…môi cười mà lệ như rơi!...Em ơi! Em đã bỏ xứ, lang thang vô định chưa hở em? Em lìa xa thị xã thân yêu thì tôi cũng sẽ chẳng bao giờ dám trở lại Đà Nẵng lần nữa…Đôi mắt nhạt nhòa mực đen ngày ấy sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi!
Người đời vô tình giày xéo lên em
Người đời vô tình giết chết đời em
Bốn mươi mốt năm qua rồi mà nào tôi đã quên được ngày ấy em như Nàng Liễu rũ vì cơn gió dập bất chợt…Và không ngừng thầm hỏi:
Em ơi, bây giờ em ở đâu?
Góc biển hay rừng sâu?


***
T
âm trạng ngao ngán, ê chề, tôi khước từ nhận trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng thi Tú tài II, kỳ hai tại một tỉnh miền Tây, sau vụ bị “ê mặt” vì không thể hiện được lời hứa với em nữ thí sinh mắt ướt lệ đen tuyền. Nhưng vì thiếu nhân sự, Bộ chỉ định tôi làm Phó Chủ tịch Trung tâm “Tôn Thọ Tường”, đối diện rạp chiếu bóng Đại Nam, đường Trần Hưng Đạo, do Thanh tra TBQ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng, Văn phòng đặt tại Trung tâm do tôi phụ trách.
Một lần nữa, cũng vào buổi thi cuối, giám thị phòng và giám thị hành lang lập biên bản 4 trường hợp thí sinh “gian lận”, 3 nam, 1 nữ. Dĩ nhiên, các em khóc lóc, van xin…Các thầy cô giám thị động lòng trắc ẩn, dẫn các em đến gặp tôi để xin rút lại biên bản. Khổ nỗi, mọi thứ vừa được Trung tâm niêm phong trao cho Chủ tịch Hội đồng! Các em nam sinh hết lời khẩn khoản nài nỉ tôi cứu giúp, nếu không, ngoài chuyện bị gia đình trừng trị, các em sẽ phải…đi lính! Tôi nói với các em tôi rất cảm thông, nhưng đành phải bó tay, “ván đã đóng thuyền”!
Các thầy cô giám thị cũng góp lời thuyết phục tôi ra tay cứu giúp các em! Tôi buồn rầu lắc đầu nói với họ rằng tôi đã nói trước với quí vị gác thi (qua kinh nghiệm đau thương tôi đã trải qua ở Đà Nẵng) rằng để tránh trường hợp bị “lương tâm cắn rứt” sau nầy, quí vị có toàn quyền hoặc lập biên bản, hoặc tịch thâu bài thi “gian lận” xé bỏ, phát giấy trắng cho thí sinh điền tên tuổi nộp lại cho quí vị. Như thế thí sinh sẽ không bị cấm thi. Dĩ nhiên, như vậy là không hợp lệ, nhưng tôi coi như không biết cách hành sử của quí vị. Nhưng khi quí vị lập biên bản trao cho tôi, coi như hết phương cạy gở.

Thí sinh và giám thi lần lượt ra về. Trường thi giờ đây chỉ còn Ban Điều hành Hội đồng và Trung tâm. Bước ra hành lang vươn vai hít thở chút thoáng khí, tôi sững sờ khám phá em nữ thí sinh bị lập biên bản “gian lận” ngồi gom mình trong một góc tối khóc thút thít!
-Sao em chưa ra về? Em cần tôi giúp gì chăng?
Gắng gượng đứng lên, dùng khăn tay chậm nước mắt, em trả lời:
-Dạ không cần đâu, thưa thầy! Cái em cần thầy giúp thì thầy đã trả lời thầy đành bó tay!
-Đâu đuôi chuyện em bị lập biên bản gian lận thế nào, em có thể kể cho tôi nghe chăng?
-Thưa thầy! Em có kêu oan, em có giải thich, nhưng cô giám thị hành lang nhất định không tin em: Anh thí sinh ngồi sau lưng em bị bắt quả tang đang “đánh bùa”; khi rời phòng thi, anh bực dọc ném sấp tài liệu gian lận còn sót trong người xuống đất, một hai tờ vướng vào chân em, đúng lúc cô giám thị bước vào phòng nói với thầy giám thị phòng em sử dụng tài liệu cấm, nhưng chợt nhìn thấy cô, em quính quáng vứt xuống đất! Giữa em và cô giám thị hành lang, thầy giám thị phòng tin ai, hở thầy? Thầy xem có quá oan ức cho em không? Em buồn tủi, em uất ức là vì em không dám dự thi kỳ I, nghĩ rằng em chưa chuẩn bị đầy đủ, nên quyết định chờ thi kỳ II. Bao nhiêu công sức, thức khuya dậy sớm, bỗng chốc thành công dã tràng! Vận xui bất chợt úp chụp xuống đầu em, em cũng đành chấp nhận hỏng thi, nhưng sao trời xanh cay nghiệt bắt em chịu thêm tai ương nhục nhã bị cấm thi vì bậc thầy cô của em hạ bút lập biên bản giết chết đời em mà không chút đắn đo suy xét tường tận! Thầy cô từng dạy dỗ, thương mến em ở Trung học Vũng Tàu trước khi em chuyển về trường Sương Nguyệt Ánh sẽ nghĩ sao về em hở thầy? Ba mẹ, anh chị em, bè bạn em sẽ thất vọng dường nào về em, hở thầy! Em muốn chết phứt cho rồi, thầy ơi!!...
-Bình tĩnh lại em! Bình tĩnh lại! Em chờ đây, tôi vào thu xếp vật dụng cá nhân rồi sẽ lái xe đưa em về nhà…
-Không cần thiết đâu thầy. Em không dám làm phiền thầy sau kỳ thi đã quá mệt mõi đối với thầy…
-Chờ đấy nghe em!


Khi tôi trở ra, em nữ thí sinh không còn ngồi đó nữa. Dưới cơn mưa lắc rắc, đầu trần, em tôi khập khểnh bước đi về hướng trạm đón ô tô buýt…Trời hỡi, em tôi tật nguyền mà nào đâu tôi có ngờ! Tôi gấp rút đuổi theo em… nhưng em đã bước lên chiếc buýt vừa rồ máy phóng đi! Khói xe hay bụi đường làm mắt tôi cay xè, rớm lệ? Tôi muốn chạy theo xe, phóng lên tìm em tôi, dẫu chỉ để…
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng
Nhưng cũng chuyền được cho em chút hơi ấm Tình Người, “trong xót xa đưa theo từng ngày lạnh lùng”…Từ dạo ấy trở đi, mỗi lần hồi tưởng hình ảnh người em khập khễnh bước lên xe biến mất sau làn khói đen trộn lẫn bụi mù, tôi không thể không xúc động, tâm can ray rứt, thì thầm thương cảm:
Em hỡi em ơi, sau nầy đời sẽ ra sao?
Lòng người vô tình em sẽ về đâu?
***
T
rừng phạt thí sinh gian lận, thiên hạ ra tay nhanh lắm, sốt sắng nữa. Nhưng chờ mãi, chẳng thấy quí thầy cô đi gác các em dự thi “phạm pháp” bị biện pháp kỷ luật. Ngay cả giấy cảnh cáo hay văn thư khiển trách cũng không! Vậy thì các biên bản của tôi về các giám thị coi thi chắc nằm yên trong ngăn kéo “hồ sơ xếp”, chưa kể có thể đã được vứt vào sọt rác! Tôi chưa tin lắm, đâu đến nổi tệ thế, phải không? Cho đến khi, với phương vị Trưởng Khu Học Chánh, tôi được Bộ cử ra giám sát Hội đồng thi Tú tài II tại Nha Trang, năm 1973…
Hôm ấy, ký thi vừa khai mở, chuông rung báo hiệu vừa dứt, đề thi vừa được phân phát cho thí sinh thì đột nhiên một giám thị hành lang gấp rút bỏ đi ra ngoài Trung tâm…Để làm gì, đố ai biết! Mua thuốc lá? Uống cà phê? Vô lý! Ông Phó Chủ tịch Trung tâm nói với tôi ông giám thị nầy không hề báo cho ông biết ông ta đi đâu! Tôi vội vã ra đứng trước cổng chờ ông giám thị có hành tung bí hiểm nầy trở về, vì nghi ngờ ông liên lạc móc nối với dân làm “áp phe” bất hợp pháp bên ngoài.
-Ông anh đi ra ngoài làm gì khi nhiệm vụ của ông anh là phải có mặt ở hành lang?
Đương sự không trả lời, trái lại muốn tiến nhanh về hướng các phòng thi. Tôi ngăn ông anh đồng nghiệp nầy (giáo sư Trung tâm Giáo dục Lê Quí Đôn), đồng thời yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thi và Phó Chủ tịch Trung tâm lập biên bản vi phạm qui định về tổ chức khảo thí.
Một lần nữa, tờ biên bản nầy bị coi như giấy nháp viết chơi cho vui!...
Thế thì, một lần nữa, tôi tự hỏi đâu là công lý? Phải chăng những thí sinh bị bắt “gian lận thi cử”, bị cấm thi, sau rốt chỉ là nạn nhân của một thứ công lý “có điều kiện”? Nói khác đi, một thứ… “cong” lý mà người áp dụng nó bẻ cong theo…những chỉ thị rất có thể đã bị áp đảo bởi các thế lực mờ ám trong bóng tối của những thứ “đồng lõa a tòng” làm chuyện phi pháp!
Càng nghĩ càng thêm thương cho hai em thí sinh thấp cổ bé miệng của tôi ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn, mấy năm trước đó!
-o-o-o-
B
ốn mươi mốt năm trôi đi rồi mà cứ ngỡ như vừa mới hôm qua!
Ngon-Lao-Phổi ơi!
Em-Mắt-Lệ-Huyền ơi!
Em-Tật-Nguyền-Thê-Thiết ơi!
Có bao giở các “Em tôi” tưởng tượng được người anh của các em ngày xưa -giờ đây là “ông đồ già kiêm lính yếu” lưu lạc trên đất khách- vẫn không ngừng nhắn hỏi trời mây non nước:
Em ơi, bây giờ em ở đâu?
…ở đâu?...
…ở đâu?...
…ở đâu?…
Hỡi ơi! Chỉ có sóng gió rì rào trả lời câu hỏi tôi ném lên không trung!

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, chớm thu 2011
Lê Tấn Lộc
________________________________________________________________________
Ghi chú: Trích đoạn thơ mượn của thi sĩ Phạm Thiên Thư, nhạc của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Nhật Ngân & Duy Trung, tranh của Kiệt Tấn và Vivi.